TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
===========XW=========== KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BỘ
CÁNH
CỨNG (Coleoptera) VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆ
N PHÁP
QUẢN LÝ TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI SINH CẢNH VƯỢ
N
CAO VÍT TRÙNG KHÁNH – CAO BẰNG NGÀNH : QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ: D62.02.11
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS. Nguyễn Thế Nhã
Sinh viên thực hiện : Nông Hoàng Mẫn
Khóa học : 2010 – 2014
Hà Nội, 2014
i
đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện
hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nông Hoàng Mẫn
ii MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Khái quát chung về côn trùng 3
1.2. Đặc điểm của bộ Cánh cứng 3
1.3. Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở ngoài nước 4
1.4. Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở trong nước 7
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU BẢO TỒN
LOÀI SINH CẢNH VƯỢN CAO VÍT 12
2.1. Lược sử hình thành 12
2.2. Điều kiện tự nhiên 13
2.2.1. Vị trí địa lí 13
2.2.2. Đặc điểm địa hình 13
2.2.3. Khí hậu, thời tiết 13
ứng trong khu vực nghiên cứu 45
4.3.1. Đa dạng loài 45
4.3.2. Đa dạng trong quan hệ sinh dưỡng 47
4.3.3. Đa dạng về hình thái 48
4.3.4. Đa dạng về tập tính 50
4.4. Đặc điểm hình thái của các loài thuộc bộ Cánh cứng thường gặp 51
4.4.1. Bọ bốn nhánh - Cassida quadriramosa Gressitt, 1952 (Chrysomelidae) 51
4.4.2. Bọ xanh ăn lá - Chrysochus chinensis (Họ bọ ăn lá: Chrysomelidae) . 52
iv 4.4.3. Bọ hung nâu nhỏ - Maladera orientalis (Motschulsky, 1857) 52
4.4.4. Họ bọ rùa – Coccinellidae 53
4.5. Đề xuất một số biện pháp giám sát quản lý và bảo tồn côn trùng bộ Cánh
cứng Khu Bảo tồn loài Vượn Cao Vít – Trùng Khánh 53
4.5.1. Các giải pháp chung 54
4.5.2. Các giải pháp kỹ thuật giám sát 56
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 60
5.1. Kết luận 60
5.2. Tồn tại 61
5.3. Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO v vi DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích và các loại đất rừng 17
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 18
Bảng 2.3: Hiện trạng rừng đặc dụng 18
Bảng 2.4: Hiện trạng rừng phòng hộ 19
Bảng 2.5: Hiện trạng rừng sản xuất 20
Bảng 3.1: Các dạng sinh cảnh chính trong Khu BTVCV Trùng Khánh 25
Bảng 3.2: Đặc điểm cơ bản của các ô tiêu chuẩn 28
Bảng 4.1: Danh lục côn trùng b
ộ Cánh cứng Khu BTVCV năm 2014 37
Bảng 4.2: Các loài côn trùng cánh cứng thường gặp 42
Bảng 4.3: Các loài côn trùng cánh cứng ít gặp 42
Bảng 4.4: Thành phần loài côn trùng cánh cứng theo các dạng sinh cảnh 43
Bảng 4.5: Bảng thống kê số loài côn trùng bộ Cánh cứng theo các họ 45
Bảng 4.6: Các nhóm dinh dưỡng của côn trùng cánh cứng trong khu vực47
vii DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sáu dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu 27
Hình 3.2: Tuyến điều tra xã Phong Nậm 29
Hình 3.3: Tuyến điều tra xã Ngọc Khê 29
Hình 3.4: Tuyến điều tra xã Ngọc Côn 30
Hình 4.1: Tỷ lệ độ bắt gặp các loài côn trùng bộ Cánh cứng 41
- Đề xuất một số biện pháp giám sát quản lý và bảo tồn côn trùng bộ
Cánh cứng.
6. Những kết quả đạt được
1. Thành phần loài
ix Xác định được 50 loài thuộc 18 họ trong bộ Cánh cứng (Coleoptera).
Trong đó, nhóm ngẫu nhiên gặp với 43 loài, chiếm 86%. Loài thường gặp
gồm 3 loài, chiếm 6% và loài ít gặp với 4 loài, chiếm 8%.
2. Đặc điểm phân bố
Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy có số loài phân bố nhiều nhất, với
47 loài bắt gặp trong số 50 loài điều tra được trong khu vực, chiếm 94%.
Rừng tự nhiên núi đá 39/50 loài, chi
ếm 78%. Sinh cảnh trảng cỏ cây gỗ rải
rác (Ib,Ic) 36/50 loài, chiếm 72%. Trảng cỏ 26 loài, chiếm 52%. Rừng trồng
xen nương rẫy 20 loài, chiếm 40% và sinh cảnh có số loài bắt gặp ít nhất là
rừng tre nứa tự nhiên với 9/50 loài chiếm 18%.
3. Tính đa dạng sinh học
Đa dạng số loài trong các họ gồm 18 họ, họ nhiều nhất là 8 loài, chiếm
16 %. Đa dạng trong quan hệ dinh dưỡng: Côn trùng cánh cứng trong khu vực
sử dụng 6 nhóm dinh dưỡng chính, đã định và 1 nhóm chưa định rõ nguồn
dinh dưỡng, gồm: ăn lá, ăn gỗ mục - ăn phân và xác chết, ăn thịt, ăn nấm, hại
cau dừa, hại rễ củ-cành. Đa dạng về hình thái, đa dạng về tập tính.
4. Một số đặc điểm hình thái của các loài thuộc bộ Cánh cứng.
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các loài và h
ọ thường gặp:
gồm 3 loài (Cassida quadriramosa Gressitt, 1952. Chrysochus chinensis
Baly. Maladera orientalis (Motschulsky, 1857)) và 1 họ (Coccinelldae).
5. Biện pháp quản lý
Trong giới động vật, côn trùng là lớp có số loài lớn, chiếm khoảng 1/3
tổng số loài sinh vật của hành tinh. Chúng phân bố ở mọi vùng và trong mọi
sinh cảnh trên lục địa.
Ngày nay, con người đã tác động vào tự nhiên quá mức làm suy thoái
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái biến đổi theo chiều hướng xấu
đi và làm giảm tính đa dạng sinh học. Ở Việt Nam mất rừng tự nhiên đe dọa
trực tiếp đến đa dạng sinh học, nhiều loài động vật bị thu hẹp nơi cư trú, có
loài thì đứng trước bờ vực tuyệt chủng. Theo báo cáo của WWF tại Việt Nam
2
năm 2000, tốc độ suy giảm đa dạng sinh học của nước ta nhanh hơn nhiều so
với các nước khác trong khu vực.
Cách trung tâm TP.Cao Bằng khoảng 70km về phía Đông – Bắc, nơi
được mệnh danh là khu quản lý một trong những loài Linh trưởng hiếm nhất
trên thế giới Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus Kunckel dꞌHerculais,1884).
Loài nằm trong danh sách của 25 loài Linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao
nhất trên thế giới, đứng thứ 9 khu vực châu Á và là m
ột trong 5 loài nguy cấp
tại Việt Nam. Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Vượn Cao Vít Trùng Khánh – Cao
Bằng được thành lập theo quyết định số 2536/QĐ - UBND ngày 15 tháng 11
năm 2006 của ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng. Đây là khu rừng tự nhiên có
hệ sinh thái khá phong phú, với nhiều loài động thực vật quý, hiếm như:
Vượn Cao Vít, Gấu ngựa, Tê tê, Khỉ vàng, Khỉ mốc, Gà lôi trắng…; Nghiến,
Mạy Puốn, Mạy thố, Trai lý, Vù hương… đặc biệ
t là các loài Lan núi đá vô
cùng phong phú. Sau 10 năm bảo vệ, xây dựng và phát triển tài nguyên rừng,
loài Vượn Cao Vít từ khi phát hiện là 26 cá thể, đến nay loài đã tăng lên 129
cá thể, cho thấy tài nguyên rừng nơi đây đang dần được phát triển, tăng tính
đa dạng sinh học, trong đó chắc chắn có sự đa dạng về côn trùng.
triệu loài đã được mô tả, số loài côn trùng chiếm hơn một nửa tổng số loài
sinh vật mà con người đã biết, s
ố loài chưa được mô tả có thể lên tới 30 triệu.
Người ta có thể tìm thấy côn trùng ở hầu như tất cả các môi trường sống trên
Trái Đất. Có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài
châu chấu; 17.000 loài bướm; 120.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa;
350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng.
1.2. Đặc điểm của bộ Cánh cứng
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là bộ lớn nhất trong lớp Côn trùng (Insecta),
có trên 350.000 loài đã được mô tả. Côn trùng bộ Cánh c
ứng (Coleoptera) có
kích thước rất đa dạng, từ rất nhỏ (nhỏ hơn 1mm) đến rất lớn (trên 75mm).Ví
dụ: loài Xén tóc (Titanus giganteus) ở vùng nhiệt đới, chiều dài cơ thể có thể
đạt đến 170mm. Các loài thuộc bộ này sống ở khắp mọi nơi.
4
Phần lớn côn trùng bộ Cánh cứng có 2 đôi cánh phát triển, đôi cánh
trước kitin hóa cứng luôn nằm sát một đường thẳng trên lưng và che phủ đôi
cánh sau. Đôi cánh sau là cánh màng thường dài hơn cánh trước, được gấp ở
dưới cánh trước khi không bay. Các loài côn trùng thuộc bộ này có kiểu
miệng gặm nhai, hai hàm trên rất phát triển, bàn chân có từ 3-5 đốt. Côn trùng
bộ Cánh cứng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn. Sâu non có nhiều hình dạng
khác nhau, nhưng đa số có dạng chân chạy ho
ặc dạng bọ hung. Nhộng đa số
là nhộng trần, có nhiều loài làm nhộng trong đất và được bao bọc bằng kén
đất hoặc tàn dư thực vật. Một số loài như xén tóc, nhộng được bao bọc bằng
một lớp kén mỏng. Ngoài ra côn trùng bộ Cánh cứng còn đẻ trứng ở trong vỏ
thân cây, trong mô lá, trong đất và trong nước. Trứng có dạng hình cầu hoặc
hình bầu dục.
phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng.
Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1745 tại
nước Anh.
Năm 1859, hội côn trùng ở Nga được thành lập. Nhà côn trùng học
ng
ười Nga Keppen (1882 – 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn
trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều về côn trùng bộ Cánh cứng.
Từ những cuộc du hành của các nhà nghiên cứu người Nga như: Potarin
(1899 – 1976), Provorovski (1895 – 1979), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản
ra các tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á. Trong các tài liệu đó đều đề
cập đến các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng.
Năm 1910 – 1940, Volka và Sonkling đã xuất bả
n tài liệu về côn trùng
thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài, được in trong 31 tập với
hàng nghìn loài thuộc bộ Cánh cứng thuộc họ Bọ cánh cứng ăn lá
(Chrysomelidae).
Năm 1948, A.I Ilinski đã xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng
trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng” trong đó đề cập đến một
số loài họ Bọ cánh cứng ăn lá.
Năm 1959, Trương Chấp Trung đã cho ra
đời cuốn “Sâm lâm côn trùng
học” liên tiếp đến năm 1965 giáo trình được viết lại nhiều lần, tác phẩm đó đã
6
giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại
bọ lá phá hoại cây rừng.
Năm 1964, giáo sư V.N Xegolop viết cuốn “Côn trùng học” giới thiệu
về sâu cánh cứng khoai tây (Leptinotasa decemlineata Say) là loại côn trùng
gây hại rất nguy hiểm cho khoai tây và một số loài cây nông nghiệp khác.
số lượng các loài côn trùng thuộc họ này đã tăng lên hơn sáu lần. Phát hiện
này dựa trên một nghiên cứu từ hơn 4.000 mẫu vật được trưng bày tại các bảo
tàng lịch sử tự nhiên trên toàn thế giới, cũng như các mẫu v
ật thu được trải
qua nghiên cứu thực địa của nhóm tác giả tại khắp miền Trung và Nam Mỹ.
Tất cả những con bọ cánh cứng này thuộc họ Histeridae. Loài bọ này cực kỳ
phong phú và đa dạng về số lượng. Ngày nay, các nhà khoa học vẫn đang tiếp
tục khám phá mức độ đa dạng sinh học của loài côn trùng sinh sống tại những
vùng nhiệt đới trên thế giới, với con số ướ
c tính từ 5 đến 30 triệu loài hoặc
hơn.
1.4. Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở trong nước
Các nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở nước ta không nhiều, chủ
yếu tập trung vào các loài côn trùng thuộc nhóm côn trùng gây hại, từ đó đưa
ra các biện pháp phòng trừ, một số ít thì đưa ra các biện pháp bảo tồn các loài
côn trùng có ích. Nhưng nhìn chung các tài liệu này chỉ là các con số thống kê
hay chỉ nghiên cứu một số
loài đại diện.
Năm 1921, Vitalis de Salvza chủ biên tập “Faune Entomologi que de
Lindochine” đã công bố thu thập 3612 loài côn trùng. Riêng miền Bắc Việt
Nam có 1196 loài.
Từ năm 1954, sau khi hòa bình được lặp lại, xuất phát từ nhu cầu sản
xuất nông, lâm nghiệp nên việc điều tra cơ bản về côn trùng được chú ý. Năm
1961, 1965, 1967 và 1968, Bộ Nông nghiệp đã tổ chức các đợt điều tra cơ bản
xác định được 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ và 20 bộ khác nhau.
Năm 1968, Medvedev đã công bố một công trình về họ Bọ lá
(Chrysomelidae) ở Việt Nam, trong đó có 8 loài mới đối với khoa học.
8
qua 9 huyện, 51 xã, thị trấn cùng với 3 xã thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Sông
9
Thanh (Quảng Nam). Đã ghi nhận được 3.296 loài, 244 họ, 15 bộ côn trùng
bổ sung cho khu hệ Việt Nam 350 loài (trong đó có một loài mới cho khoa
học), ghi nhận 16 loài có giá trị bảo tồn; trong đó có 5 loài được ghi trong
sách đỏ Việt Nam năm 2000, 8 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm
2007, 2 loài ghi trong CITES 2006, 3 loài có trong danh mục của nghị định
32/CP. Đồng thời đề tài đề xuất thêm 4 loài khác nên đưa vào Sách đỏ Việt
Nam gồm: Bọ hung ba sừng (Chalcosoma causasus Fabricius, 1801), Cua bay
hoa (Kontum Cheirotonus gestroi Pouillaude, 1913), Xén tóc lớn Đ
ông
Dương (Neocerambyx vitalisi Pic, 1923) và Bọ lá bụng thuôn (Phyllium
bioculatum Gray, 1882). Trong số 16 loài có giá trị bảo tồn, có 4 loài chỉ thấy
phân bố ở miền Trung và Tây Nguyên: Chalcosoma causasus; Chalcosoma
atlas; Cheirotonus gestroi và Neocerambyx vitalisi. Ngoài ra đã ghi nhận 148
loài sâu hại nông nghiệp, 79 loài côn trùng y học và thú y, 196 loài côn trùng
thiên địch.
Năm 2007, báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật của
Đặng Thị Đáp cùng cộng sự: “Phân tích số lượng côn trùng cánh cứng
(Coleoptera) theo sinh cảnh, thời gian, thời tiết và độ cao ở VQG Tam Đảo –
V
ĩnh Phúc”.
Năm 2008, tác giả Nguyễn Thế Nhã “Nghiên cứu về sâu hại măng” kết
luận có 9 loài cánh cứng hại măng thuộc 4 họ, trong đó nguy hiểm nhất là
nhóm Vòi voi hại măng gồm ba loài, một loài Bổ củi, ba loài Bọ hung và hai
loài Xén tóc.
Năm 2008, thông tin khoa học lâm nghiệp số 2, khoa Quản lý tài nguyên
rừng và môi trường, của Bùi Trung Hiếu: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học
Nông Lâm - ĐH Huế) đã thực hiện “nghiên cứu đa dạng sinh học của bộ
Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn Quốc Gia Bạch Mã ”. kết quả nghiên cứu
ghi nhận được 178 loài thuộc 128 giống, 17 họ thuộc bộ Cánh cứ
ng
(Coleoptera) tại Vườn Quốc gia Bạch Mã. Họ có số giống và loài phong phú
nhất là Chrysomelidae với 65 loài và 33 giống. Nghiên cứu đã bổ sung thêm 4
họ, 60 giống và 110 loài vào danh lục côn trùng bộ Cánh cứng ở Bạch Mã.
11
Đai cao từ 300-500m có số lượng loài và lớp cao nhất với 13 họ và 52 loài và
có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất; đai cao có số loài và họ thấp nhất là trên
1000m với 4 họ và 10 loài và có chỉ số đa dạng sinh học thấp nhất. Đai cao
<200m và đai cao 200-300m có mức độ tương đồng về thành phần loài lớn
nhất (Cs=0,57); đai cao 300-500m và >1000m có mức độ tương đồng về
thành phần loài thấp nhất với Cs=0,12. Đa số các loài phân bố ở rừng phục
hồi với 69 loài và rừng cây bụi là 32 loài, 12 loài được phát hiện ở đất trồng
trọt, rừng ven suối và rừng rậm có số loài thấp nhất. Sinh cảnh rừng phục hồi
có chỉ số đa dạng cao nhất (d=23,36); sinh cảnh có chỉ số đa dạng thấp nhất là
rừng rậm với d=2,09. Sinh cả
nh rừng phục hồi và sinh cảnh rừng cây bụi có
chỉ số tương đồng cao nhất là 0,16. Các cặp sinh cảnh còn lại có chỉ số tương
đồng về thành phần loài rất thấp hoặc bằng 0.
Năm 2013, nghiên cứu thạc sỹ của Lê Hải Hiện tại Khu bảo tồn thiên
nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang: “Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học
của côn trùng thuộc Bộ cánh cứng và đề xu
ất một số biện pháp quản lý”.kết
quả điều tra thu thập được 60 loài thuộc 17 họ khác nhau, trong đó họ chiếm
số lượng loài nhiều nhất là: Họ Xén tóc (Cerambycidae).
- UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc phê
13
duyệt dự án đầu tư xây dựng khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít với
tổng diện tích vùng lõi là 1.656,8 ha.
2.2. Điều kiện tự nhiên
2.2.1. Vị trí địa lí
Khu Bảo tồn Vuợn Cao Vít nằm trên địa bàn ba xã Phong Nậm, Ngọc
Khê và Ngọc Côn của huyện Trùng Khánh, TP Cao Bằng. Cách TP Cao Bằng
khoảng 70km, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 300km về phía Đông – Bắc, tiếp
giáp với huyện Trịnh Tây, tỉ
nh Quảng Đông, Trung Quốc ở phía Tây Bắc.
Khu Bảo tồn Vượn Cao Vít có tọa độ địa lý trong phạm vi:
Từ 22
o
53’ đến 22
o
56.4’ Vĩ độ bắc;
Từ 106
o
30’ đến 106
o
33’ Kinh độ đông
Tổng diện tích Khu BTVCV là 8.016,88 ha
2.2.2. Đặc điểm địa hình
Nhìn chung Khu BTVCV là một vùng núi dốc. Có rất nhiều dãy núi đá
vôi xen lẫn các thung lũng. Các dãy núi đá vôi bị chia cắt hình thành các dốc
đứng và tháp nhọn riêng biệt, nằm rải rác ở một số nơi tại các thung lũng bằng
và nhỏ.
là 2870,6 mm, thấp nhất là 1188 mm; lượng mưa tập trung vào các tháng 6, 7,
8 hàng năm.
Chế độ gió: Khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc vào mùa
đông (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau). Mùa hè có gió nam và đông nam.
Độ ẩm không khí: Độ ẩm bình quân năm là 81%. Thấp nhất dao động
từ 9 – 14% tập trung vào tháng 11 đến tháng 1.
Các hiệ
n tượng thời tiết đáng chú ý
Trong những năm gần đây do sự ấm lên của trái đất khu vực chịu ảnh
hưởng lớn: mùa đông xuất hiện sớm và kéo dài, sương muối xuất hiện dày
làm cho các cây như chuối, cây con “thuốc lá”…ở khu vực ươm dễ bị chết
hàng loạt, hoạt động của côn trùng bị trì trệ. Mùa hè thời tiết nắng nóng kéo
dài ảnh hưởng sâu sắc tới các ho
ạt động canh tác nông nghiệp của người dân.
Ngày 01 tháng 4 năm 2014, khu vực chịu ảnh hưởng trận mưa đã chưa
từng thấy trong những năm qua. Gây thiệt hại lớn về nhà cửa, hoa màu, nhiều
loài cây rừng bị gãy đổ.
2.2.4. Chế độ thủy văn
Khu vực gồm có hai nhánh chính của sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung
Quốc.
Nhánh thứ nhất (nhánh Ngọc Khê- Ngọc Côn) chả
y qua xóm Đông Si -
Nà Giào - Tử Bản - Pác Ngà - Bó Hay của xã. Có chiều dài 18 km, rộng trung
bình là 90m.
15
Nhánh thứ hai (nhánh Phong Nậm) chảy qua các xóm Đà Bè, Nà Hâu -
Nà Chang, Giộc Rùng của xã Phong Nậm và chảy về xã Ngọc Khê qua các
xóm Giộc Sung, Pác Thay, Đỏng Doạ có chiều dài 14km, rộng trung bình 80m.