Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 35

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, con người
khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ, thoả mãn các
nhu cầu của mình. Đồng thời con người cũng phát thải ra ngoài môi trường tự
nhiên các loại chất thải khác nhau. Khi mức phát thải nhỏ, môi trường tự nhiên
có thể tự làm sạch các chất thải để duy trì trạng thái cân bằng. Tuy nhiên, khi xã
hội loài người phát triển tới trình độ cao với quá trình công nghiệp hóa, đô thị
hóa hết sức mạnh mẽ, con người đã thải ra môi trường quá nhiều chất thải, vượt
quá khả năng tự làm sạch của môi trường.
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với xu thế phát triển
kinh tế – xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ với
nhịp độ rất cao. Sự phát triển đó giúp tạo ra công ăn việc làm, cải thiện mức
sống, chất lượng cuộc sống của người dân. Khi mức sống của người dân càng
cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa
với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt. Rác thải sinh hoạt (RTSH) phát sinh
trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào môi trường ngày
càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường
bị ô nhiễm. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa kết hợp gia tăng dân số ở mức
cao đang tạo sức ép lên khả năng chịu tải của môi trường.
Định Hoá là một huyện miền núi nằm phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Thị
trấn Chợ Chu là trung tâm văn hóa, chính trị của huyện Định Hóa tỉnh Thái
Nguyên. Những năm gần đây, thị trấn đã có những bước phát triển đáng kể về
kinh tế xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đời sống nhân dân được cải thiện
đáng kể. Tuy nhiên, một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế đó là chất
lượng môi trường bị suy giảm. Trong đó rác thải sinh hoạt đang là vấn đề nổi

1
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội



Phần 2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về rác thải sinh hoạt
2.1.1. Các khái niệm liên quan
- Khái niệm về chất thải
"Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người
tác động vào thiên nhiên thải ra". Chất thải là các chất hoặc vật liệu mà người
chủ hoặc người tạo ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị thải bỏ.
Chất thải thường được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người,
trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, giao thông vận
tải, tại hộ gia đình, tại các cơ quan, trường học, nhà hàng, khách sạn.
- Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn (CTR) là các loại vật chất ở thể rắn như các vật liệu, đồ vật
bị loại thải ra từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt.
Chất thải rắn gồm các chất hữu cơ như: thức ăn thừa, giấy, cattong, nhựa,
vải, cao su, da, lá rụng sân vườn, gỗ... và các chất vô cơ như: thuỷ tinh, lon
thiếc, nhôm, kim loại khác, đất cát... (Nguyễn Đình Hương, 2003) [6].
- Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt (RTSH) là những chất thải có liên quan đến các hoạt
động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,
trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành phần
bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo,
thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông
vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…
- Khái niệm về xử lý chất thải
Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kĩ thuật để xử lý chất thải mà không
làm ảnh hưởng đến môi trường; tái tạo lại các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm


- Công nghiệp xây dựng, chế tạo, công nghiệp nặng, nhẹ, lọc dầu, hoá
chất, nhiệt điện.

4
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


- Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn cây ăn quả, nông trại.
- Thực phẩm dư thừa, giấy, can nhựa, thuỷ tinh, can thiếc, nhôm.
- Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim loại, chất thải nguy hại.
- Thực phẩm bị thối rữa, sản phẩm nông nghiệp thừa, rác, chất độc hại. [16]
Bảng 2.1 Nguồn gốc các loại chất thải [7]
Nguồn phát
sinh

Nơi phát sinh

Các dạng chất thải rắn
Thực phẩm dư thừa, giấy, can nhựa,
thủy tinh, nhôm.

Khu dân cư

Hộ gia đình, biệt thự, chung cư.

Khu thương mại

Nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn, Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy
nhà trọ, các trạm sửa chữa và dịch vụ. tinh, kim loại, chất thải nguy hại


Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn cây ăn Thực phẩm bị thối rửa, sản phẩm
trái, nông trại.
nông nghiệp thừa, rác, chất độc hại.

(Nguồn: Nguyễn Văn Phước - Giáo trình Quản Lý Chất Thải Rắn)
2.1.2.2. Thành phần chất thải rắn
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính
chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thông thường thành
phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: chất thải thực phẩm, giấy, catton,
vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn…

5
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


Bảng 2.2: Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số đô thị năm 2000
(tính theo % trọng lượng) [11]
Thành phần

Hà Nội

Việt Trì

Thái
Nguyên

Đà Nẵng


7,52

3,0

6,36

4,6

Kim loại

3,40

0,22

3,0

2,30

0,4

Thủy tinh, gốm, sứ

2,70

0,63

0,7

1,85


44,23

49,0

46,0

0,42

0,43

0,45

0,50

0,50

Độ ẩm
3

Tỷ trọng (tấn/m )

(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA, 2001)
Bảng 2.3. Thành phần và tính chất thƣờng thấy của rác thải sinh hoạt
Tính chất
Thành phần

Chất thải thực phẩm
Giấy
Carton
Chất dẻo

0-10

KGT
50-80
4-10
4-8
1-4
6-15
1-4
8-12
30-80
15-40
1-4
2-4
2-4
2-6
6-12
15-40

TB
15
40
4
3
2
0,5
0,5
12
2
8

81,6
38-80
49,6
32-128
64
32-96
64
96-192
128
96-256
160
84-224
104
128-20
240
160-480
193,6
48-160
88
64-240
160
128-1120
320
320-960
480
180-420
300

Nguồn: Solid waste, Engineering Principles and Management Issues,
Tokyo, 1997. Chú thích: KGT – Khoảng giá trị; TB – Trung bình

nghiệm được khối lượng của phần chất thải thí nghiệm.
6. Chia khối lượng tính từ bước trên cho thể tích của thùng thí nghiệm ta
được khối lượng của phần CTR thí nghiệm.

7
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


7. Lặp lại thí nghiệm ít nhất hai lần để có giá trị trọng lượng riêng trung bình.[24]
- Độ ẩm
Độ ẩm của chất thải rắn được định nghĩa là lượng nước chứa trong một
đơn vị trọng lượng chất thải ở trạng thái nguyên thủy.
Độ ẩm CTRn được biểu diễn bằng hai phương pháp: trọng lượng ướt và
trọng lượng khô.
+ Phương pháp trọng lượng ướt: độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như
là phần trăm trọng lượng ướt của vật liệu.
+ Phương pháp trọng lượng khô: độ ẩm trong một mẫu được thể
hiện như phần trăm trong lường khô của vật liệu.
Phương pháp trọng lượng ướt được sử dụng phổ biến, bởi vì ta có thể lấy
mẫu trực tiếp ngoài thực địa.
- Kích thước và cấp phối hạt
Kích thước và cấp phối hạt đóng vai trò rất quan trọng trong việc
tính toán, thiết kế các phương tiện cơ khí như thu hồi vật liệu, đặc biệt là sử
dụng các sàn lọc phân loại bằng máy hoặc phân chia bằng phương pháp từ tính.
Kích thước của từng thành phần chất thải có thể xác định bằng 1 hoặc nhiều
phương pháp như sau:
S=l
S = (l + w)/2
S = (l + h + w)/3

- Phân tích cuối cùng (các nguyên tố chính).
- Hàm lượng năng lượng của CTR.
1) Phân tích sơ bộ
Phân tích sơ bộ gồm các thí nghiệm sau:
- Độ ẩm (lượng nước mất đi sau khi sấy ở 1050C trong 1h).
- Chất dễ cháy bay hơi (trọng lượng mất đi thêm vào khi đem mẫu chất thải
rắn đã sấy ở 1000C trong 1h, đốt cháy ở nhiệt độ 9500C trong lò nung kín).
- Carbon cố định (phần vật liệu còn lại dễ cháy sau khi loại bỏ các chất
bay hơi).

9
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


- Tro (trọng lượng còn lại sau khi đốt cháy trong lò hở).
2) Điểm nóng chảy của tro
Điểm nóng chảy của tro là nhiệt độ đốt cháy chất thải để tro sẽ thành một
khối rắn (gọi là clinker) do sự nấu chảy và kết tụ, và nhiệt độ này khoảng 2000
đến 22000F (1100 đến 12000C).
3)Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành chất thải rắn
Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành chất chủ yếu xác định phần
trăm (%) của các nguyên tố C, H, O, N, S và tro. Kết quả phân tích cuối cùng
mô tả các thành phần hóa học của chất hữu cơ trong CTR. Kết quả này còn đóng
vai trò rất quan trọng trong việc xác định tỉ số C/N của chất thải có thích hợp
cho quá trình chuyển hóa sinh học hay không.
4) Hàm lượng năng lượng của các thành phần chất thải rắn
Hàm lượng năng lượng của các thành phần chất hữu cơ trong CTR có thể
xác định bằng một trong các cách sau:
- Sử dụng nồi hay lò chưng cất qui mô lớn.

C

H

O

N

S

Tro

48
3,5
4,4
60

6,4
6
5,9
7,2

37,6
44
44,6
22,8

2,6
0,3
0,3

42,7
2

4,6
2
10
3,4
0,2
0,5

4,6
không xđ
0,4
0,3
0,1
0,2

2,45
10
10
4,5
1,5
68

(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái, Quản
lý chất thải rắn đô thị, NXB Xây Dựng – Hà Nội -2001)
2.2. Tình hình phát sinh, quản lý và xử lý RTSH trên thế giới
2.2.1. Tình hình phát sinh rác thải trên thế giới
Nhìn chung, lượng RTSH ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ
thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân

+ Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở Singapore
được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp...). Nhờ vậy 56%
số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế.
Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro.
+ Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300kg/người/năm rác
thải. Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn
rác, riêng thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm.[10]
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh
khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ
tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày.

12
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


Bảng 2.5: Phát sinh CTR đô thị và sinh hoạt ở một số nƣớc Châu Á

Quốc gia

Năm

Dân
số
(triệu

Tỷ lệ phát Lƣợng
phát sinh sinh
RTSH
CTRĐT


856

130320

1,701

781933

1,023

Hồng
Kông

2003

6,8

23800

34404

1,39

27004

1,09

Ấn Độ


Hàn Quốc

2002

47,6

10013

181897

1,05

-

-

Malaysia

2002

24,5

3868

- 0,88-1,448

-

-


-

Thái Lan

2002

62,8

5430

1431711

0,62

-

-

Nhĩ 2001

68,5

2146

2510012

1,00

-


gồm hộp đựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay carton
được gom vào thùng màu vàng. Bên cạnh thùng vàng, còn có thùng xanh dương
cho giấy, thùng xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh.
Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không thải khí độc ra
môi trường. Das Duele System Deutschland (DSD) – “Hệ thống hai chiều của
nước Đức” - được các nhà máy tái chế sử dụng để xử lý các loại rác thải và năm
vừa rồi, các nhà máy này đã chi khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụng công
nghệ trên. Tại các dây chuyền phân loại, các camera hồng ngoại hoạt động với
tốc độ 300.000km/s để phân loại 10 tấn vật liệu mỗi giờ. Những ống hơi nén
được điều khiển bằng máy tính đặt ở các băng chuyền có nhiệm vụ tách riêng
từng loại vật liệu. Sau đó rác thải sẽ được rửa sạch, nghiền nhỏ và nấu chảy. Quá
trình trên sẽ cho ra granulat, một nguyên liệu thay thế dầu thô trong công nghiệp
hoặc làm chất phụ gia.[10]
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại
rác là một trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng.
Rác được phân loại triệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế rác trở nên
thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều. Từ đó, khái niệm về rác thải dần được thay
thế bằng nguồn tài sản tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể với những ai biết
đầu tư vào việc cải tiến công nghệ.

14
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


Tại Nhật, chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng
nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu
theo mô hình 3R (reduce, reuse, recycle). Về thu gom CTR sinh hoạt, các hộ gia
đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó
tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế. Rác hữu cơ được thu gom hàng

trong thời hạn 7 năm. Singapore có 9 khu vực thu gom rác. Rác thải sinh hoạt
được đưa về một khu vực bãi chứa lớn. Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ
“từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái
chế Quốc gia.Có thể nói Singapore được xem là một quốc gia có môi trường
xanh - sạch - đẹp của thế giới, Chính phủ rất coi trọng việc bảo vệ môi trường.
Cụ thể là pháp luật về môi trường được thực hiện một cách toàn diện là công cụ
hữu hiệu nhất để đảm bảo cho môi trường sạch đẹp của Singapore. Thời gian
đầu Chính phủ tổ chức giáo dục ý thức để người dân quen dần sau đó phạt nhẹ
nhắc nhở và hiện nay các biện pháp được áp dụng mạnh mẽ là là phạt tiền, phạt
tù, bắt bồi thường và đối với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt
buộc. Tại các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiều vấn
đề bất cập. Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý,
trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả lại
thấp. Sự tham gia của các đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế. So với các nước phát
triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như Việt Nam và khu vực
Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều.[10]
Đối với các nước Châu Á chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ biến
để xử lý chất thải vì chi phí rẻ. Các bãi chôn lấp chất thải được chia thành 3 loại:
bãi lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh (chỉ đổ đất phủ) và bãi chôn lấp hợp sinh.
Chất lượng của các bãi chôn lấp liên quan mật thiết với GDP. Các bãi chôn lấp
hợp vệ sinh thường thấy ở các nước có thu nhập cao, trong khi đó các bãi rác lộ
thiên thấy phổ biến ở các nước đang phát triển. Tuy vậy, các nước đang phát
triển đã có lỗ lực cải thiện chất lượng các bãi chôn lấp, như Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ

16
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


đã hạn chế chôn lấp các loại chất thải khó phân hủy sinh học, chất thải trơ, các

-

-

5

Hongkong

92

8

-

-

Ấn Độ

70

-

20

10

Indonexia

80


5

10

15

Philipin

85

-

10

5

Srilanka

90

-

-

10

Thái Lan

80


nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu. Lượng còn lại từ các công sở,
đường phố, các cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất
thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để
vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị.
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị
phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày
(2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các
đô thị.[20]
Bảng 2.7: Lƣợng RTSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007

STT

Loại đô thị

Lƣợng CTRSH bình
quân trên đầu ngƣời
(kg/người/ngày)

Lƣợng CTRSH đô thị phát sinh
Tấn/ngày

Tấn/năm

1

Đặc biệt

0,84


3.738

1.364.370

5

Loại IV

0,65

626

228.490

Tổng

6.453.930

Nguồn: Tổng cục Môi trường - />Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị
vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm

18
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


(chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả
nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh
CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền
núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350

4.444

1.622.060

2

Đông Bắc

0,76

1.164

424.860

3

Tây Bắc

0,75

190

69.395

4

Bắc Trung bộ

0,66


6.713

2.450.245

8

Đồng bằng sông Cửu Long

0,61

2.136

779.640

0,73

17.692

6.457.580

Tổng cộng

Nguồn: Tổng cục Môi trường - />Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc
biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và
loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương
đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh
CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.

19
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường

Kg/người/ngày (khu vực nông thôn).
20
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


Bảng 2.9: Khối lƣợng RTSH đƣợc thu gom năm 2010

STT

Đơn vị hành chính

Khối lƣợng RTSH đƣợc thu gom
Khối
lƣợng
CTSH phát sinh
Khối lƣợng Tỷ lệ RTSH đƣợc
(Tấn/ngày)
(Tấn/ngày)
thu gom (%)

1

TP. Thái Nguyên

155

96

62


5

Đồng Hỷ

33

8

24

6

Võ Nhai

17

6

36

7

Đại Từ

42

8

19

Ước tính đến năm 2015, khối lượng RTSH hằng ngày tại Thái Nguyên có
thể lên tới 850 tấn/ngày và đến năm 2020 là 920 tấn/ngày, trong đó CTR phát
sinh ở đô thị là 485 tấn/ngày vào năm 2015 và 570 tấn/ngày vào năm 2020. Các
vùng đang bị áp lực do RTSH là TP. Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các thị
trấn, thị tứ trong tỉnh.[1]
2.3.2. Quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
a/. Quản lý rác thải tại Việt Nam
Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng…. đang là thách thức lớn đối
với các nhà quản lý. Tốc độ tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thị tăng, sản
xuất, dịch vụ tăng, mà còn vì mức sống của người dân đang ngày một tăng lên.
Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, còn các

21
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt 60%; Lượng CTR công nghiệp được thu
gom đạt 85-90% và chất thải nguy hại mới chỉ đạt khoảng 60-70%.
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa
vào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành
phần kinh tế tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người
dân chưa thực sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy
rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải.
b/. Xử lý rác thải tại Việt Nam
Việc xử lý CTR đô thị cho đến nay chủ yếu vẫn là đổ ở các bãi thải lộ
thiên không có sự kiểm soát, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm cho môi
trường đất, nước và không khí. Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010
công tác xử lý CTR đô thị hiện nay chủ yếu vẫn là chôn lấp với số lượng trung

sinh cục bộ bởi phương thức thu gom hiện nay hầu hết là gián tiếp, thông qua
các xe đẩy tay từ các khu vực dân cư, tập kết về một điểm tự phát rồi chuyển lên
ô tô chuyên dụng tại các ngã tư, góc đường… Việc rác thải chưa được phân loại
tại nguồn cũng gây khó khăn cho việc vận chuyển, xử lý.
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010 thì công nghệ xử lý chất
thải rắn còn nhiều vấn đề bức xúc, việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung
chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn có tính thuyết phục và
công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật vệ sinh môi trường nên chưa
thu được nhiều sự ủng hộ của người dân địa phương. Các công trình xử lý CTR
còn manh mún, phân tán theo đơn vị hành chính nên công tác quản lý chưa hiệu
quả, suất đầu tư cao, hiệu quả sử dụng thấp, gây lãng phí đất, nguồn vốn,...
Năng lực của các xí nghiệp môi trường đô thị về thiết bị, phương tiện thu
gom vẫn còn thiếu, tải trọng nhỏ, cũ, hỏng…chưa theo kịp các yêu cầu thực tế.
Đối với khu vực ngoại thành thì lại có đặc điểm diện tích rộng, dân cư không tập
trung, thành phần rác thải “phong phú hơn” do hoạt động nông nghiệp: các loại
bao bì phân bón, vỏ hộp thuốc trừ sâu…khó thu gom do ý thức người dân chưa
cao và hệ thống vận chuyển bị hạn chế cả về nhân lực lẫn phương tiện.

23
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội


Ngay cả công tác xử lý, tiêu hủy, tái chế rác thải hiện cũng còn rất nhiều hạn chế
chủ yếu dựa vào việc chôn lấp tại bãi rác Nam Sơn (chất thải ở đây hầu như
không được phân loại). Còn riêng nhà máy chế biến rác thải tại Cầu Diễn, mới
chỉ đạt sản lượng khoảng 7.000 tấn/năm, nghĩa là chỉ có khoảng 7% lượng rác
thải sinh hoạt được tái chế thành phân vi sinh.[2]
Phần 3
ĐỐI TƢỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

đơn vị vệ sinh môi trường.
+ Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
- Thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn.
3.2.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý RTSH tại địa phƣơng
- Biện pháp hành chính
- Biện pháp tuyên truyền giáo dục
- Biện pháp công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt
3.3 Phƣơng pháp nghiên cứu
3.3.1. Phƣơng pháp kế thừa tài liệu
Sử dụng tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tài
nguyên...Bằng cách điều tra thu thập số liệu từ các cơ quan ban ngành thuộc
UBND huyện, phòng tài nguyên môi trường huyện, trung tâm quan trắc môi
trường tỉnh Thái Nguyên.
3.3.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu, tài liệu
* Số liệu thứ cấp:
- Những số liệu thứ cấp thu thập được: ĐKTN-KTXH, số liệu rác thải...
- Nguồn được lấy từ các báo cáo KT - XH, hiện trạng rác thải huyện Định Hóa.
* Số liệu sơ cấp: các số liệu có được do công tác điều tra, phỏng vấn
3.3.3. Phƣơng pháp điều tra khảo sát trực tiếp
- Tiến hành lập bộ câu hỏi và các vấn đề cần điều tra liên quan đến đề tài
để phỏng vấn.
- Lựa chọn các hộ gia đình, địa điểm hợp lí để tiến hành phỏng vấn

25
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Nhài - Lớp LT3MT - Khoa Tài nguyên và Môi trường
Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status