BVMT
CTR
MT
VSMT
RTSH
THPT
THCS
TP
TP.HN
UBND
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bảo vệ môi trường
Chất thải rắn
Môi trường
Vệ sinh môi trường
Rác thải sinh hoạt
Trung học phổ thông
Trung học cơ sở
Thành phố
Thành phố Hà Nội
Uỷ ban nhân dân
Mục lục
PHÂN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
PHẦN II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Khái niệm rác thải
4.1.3 Dân số, lao động, việc làm
4.1.4 Văn hóa- thông tin
4.1.5. Y tế
4.1.6. Giao thông
4.2. Hiện trạng rác thải sinh hoạt tại xã
4.2.1. Nguồn phát sinh rác thải
4.2.2. Thành phần rác thải sinh hoạt
4.2.3. Khối lượng rác thải phát sinh
4.2.4. Thu gom và vận chuyển
4.3. Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Vĩnh Ngọc
4.3.1. Hệ thống quản lý
4.3.2. Thực trạng quản lý
4.3.3. Thái độ của các hộ gia đình đối với quản lý chất thải rắn
4.3.4. Thái độ của người thu gom đối với quản lý RTSH
4.3.5. Dự báo khối lượng rác thải sinh hoạt xã Vĩnh Ngọc đến năm 2017
4.5. Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý RTSH trên địa bàn xã Vĩnh
Ngọc
4.5.1. Giải pháp về mặt quản lý
4.5.2. Đối với công tác thu gom
4.5.3. Đối với công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
5.2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
đồng và còn đảm bảo cho việc giảm thiểu những tác động xấu tới môi trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của quản lí chất thải rắn, trước thực tế còn nhiều
khó khăn của công tác quản lí này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra,
đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh
hoạt trên địa bàn xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý, xử lý RTSH của xã Vĩnh Ngọc.
- Đánh giá công tác quản lý, xử lý RTSH của xã Vĩnh Ngọc.
- Đề xuất một số biện pháp cải thiện công tác quản lý, xử lý RTSH góp phần
bảo vệ môi trường của xã vĩnh Ngọc.
PHẦN II
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Khái niệm rác thải
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Rác thải là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà không được
tiếp tục sử dụng như ban đầu.
2.1.2. Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các
trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại,
sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc
quá hạn sử dụng, xác động vật, vỏ rau quả… [17]
Rác thải sinh hoạt bao gồm các chất thải từ các hộ gia đình, các cơ sở kinh
doanh buôn bán, các cơ quan, các chất thải nông nghiệp và bùn cặn từ các đường
ống cống. [6]
dân cư.
Cơ quan
trường học
Nơi vui chơi,
giải trí
Chợ, bến xe,
nhà ga
Rác thải
Bệnh viện, cơ
sở y tế
Giao thông,
xây dựng
Chính quyền
địa phương
Khu công
nghiệp, nhà
máy, xí nghiệp
(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, TP Huế, 08/2005)
2.2.2 Phân loại rác thải
nhập TB
nhập cao
40 – 85
20 – 65
6 – 30
20 – 45
1 -10
8 – 30
Chất dẻo
1–5
2–6
2-8
Sợi, vải
1–5
2 – 10
1 – 30
5 – 15
0–2
0–2
10 – 20
1–4
4 – 12
2–8
0–1
0 - 10
Nguồn: Integrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 1993
2.3. Tác hại của rác thải
2.3.1 Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
- Môi trường đất
+ Trong các biện pháp xử lý rác thải thì biện pháp chôn lấp là có tác động đến môi
trường đất nhiều nhất. Một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon,
hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi cơ cấu
đất, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết.
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị đóng
cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa.
- Môi trường nước
+ Nước rỉ rác tại các bãi rác thải, các đống rác ven đường, rác thải không thu gom
hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy
vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến
đường phố, thôn xóm.
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân
chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh vẫn
còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu
gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
2.4 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt
2.4.1 Khái niệm về xử lý rác thải
Xử lý rác thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải nhằm làm
giảm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo lại các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát
huy hiệu quả kinh tế, xử lý rác thải là một công tác quyết định đến chất lượng bảo vệ
môi trường [8].
2.4.2 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt
2.4.2.1 Phương pháp chôn lấp
Phương pháp truyền thống đơn giản nhất là chôn lấp rác. Phương pháp này có
chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển.
Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở rác tới các
bãi đã xây dựng trước. Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi san bằng, đầm nén trên bề
mặt và đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồi muỗi, rắc vôi bột… theo
thời gian, sự phân hủy của vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp và thể tích của bãi
rác giảm xuống. Việc đổ rác lại được tiếp tục cho đến khi bãi rác đầy thì chuyển
sang bãi rác mới.
Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước ngầm và
nguồn nước mặt. Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ các lớp chống
thấm bằng màn địa chất. Ở các bãi chôn lấp rác cần phải thiết kế khu thu gom và xử
lý nước rác trước khi thải vào môi trường. Việc thu khí ga để biến đổi thành năng
lượng là một cách để tận dụng từ rác thải rất hữu ích [8].
2.4.2.2 Phương pháp đốt rác
Xử lý rác bằng phương pháp đốt là giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu
dựng nhỏ và mục đích chính là làm giảm tối đa mặt bằng khu vực xử lý rác.
Hình 2: Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
Kim loại
Rác
thải
Phễu
nạp rác
Băng
tải rác
Phân
loại
Thủy tinh
Giấy
Nhựa
Các khối kiện
sau khi ép
Băng tải
thải vật liệu
Máy
ép rác
Ép hay đùn ra
Sản phẩm mới
(Nguồn: www.scribd.com/doc/6899000/4PP-xl-rac-thai-ran)
2.4.2.6 Xử lý rác bằng công nghệ Seraphin
Ban đầu rác thải được đưa tới nhà máy và đổ xuống nhà tập kết nơi có hệ
thống phun vi sinh khử mùi cũng như ozone diệt vi sinh vật độc hại. Tiếp đến, băng
tải sẽ chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loại bao gói. Rác tiếp tục đi qua hệ
thống tuyển từ (hút các kim loại ) rồi lọt xuống sàng lồng.
Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển rác vô cơ (kể
cả bao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt. Trong quá trình vận chuyển này,
một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ nhằm khử mùi hôi, làm
chúng phân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc hại. Sau đó, rác hữu cơ được đưa
vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày. Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm
rác phân huỷ nhanh cũng như tiếp tục khử vi khuẩn. Rác biến thành phân khi được
đưa ra khỏi nhà ủ, tới hệ thống nghiền và sàng. Phân trên sàng được bổ sung một
chủng vi sinh đặc biệt nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên
50% phân hoá học. Phân dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7-10
ngày.
Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tục phát triển hệ thống xử lý
phế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín. Phế thải trơ và dẻo đi
qua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch. Sản phẩm thu được ở giai đoạn này là
phế thải dẻo sạch. Chúng tiếp tục đi qua tổ hợp băm cắt, phối trộn, sơ chế, gia nhiệt
bảo tồn rồi qua hệ thống thiết bị định hình áp lực cao. Thành phẩm cuối cùng là ống
cống panel, cọc gia cố nền móng, ván sàn...
Cứ 1 tấn rác đưa vào nhà máy, thành phẩm sẽ là 300-350 kg seraphin (chất thải
vô cơ không huỷ được) và 250-300kg phân vi sinh. Loại phân này hiện đã được bán
thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm [4].
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng
760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8
triệu tấn/ngày.
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập
và mức sống của mỗi nước. Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì
thành phần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và lượng rác này sẽ là
nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế. Hàng năm toàn nước Mỹ phát sinh một
khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn. Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác
dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%;
rác thải từ hoạt động công nghiệp chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm
1%; rác thải sinh hoạt chiếm 1,5% [14].
Bảng 3: Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ
Thành phần
Tỷ lệ % các loại rác theo các nguồn khác nhau
Tại bãi rác
Theo EPA
Trung bình cả
Colombia
nước
Giấy
41
33
35 - 47
Hữu cơ
21
phân loại rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991. Rác bao bì gồm hộp
đựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay carton được gom vào
thùng màu vàng. Bên cạnh thùng vàng, còn có thùng xanh dương cho giấy, thùng
xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh.
Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không thải khí độc ra môi trường.
Das Duele System Deutschland (DSD) – “Hệ thống hai chiều của nước Đức” - được
các nhà máy tái chế sử dụng để xử lý các loại rác thải và năm vừa rồi, các nhà máy
này đã chi khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụng công nghệ trên. Tại các dây chuyền
phân loại, các camera hồng ngoại hoạt động với tốc độ 300.000km/s để phân loại 10
tấn vật liệu mỗi giờ. Những ống hơi nén được điều khiển bằng máy tính đặt ở các
băng chuyền có nhiệm vụ tách riêng từng loại vật liệu. Sau đó rác thải sẽ được rửa
sạch, nghiền nhỏ và nấu chảy. Quá trình trên sẽ cho ra granulat, một nguyên liệu
thay thế dầu thô trong công nghiệp hoặc làm chất phụ gia.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại rác là một
trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng. Rác được phân
loại triệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế rác trở nên thuận lợi và dễ dàng
hơn rất nhiều. Từ đó, khái niệm về rác thải dần được thay thế bằng nguồn tài sản
tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể với những ai biết đầu tư vào việc cải tiến
công nghệ [16].
+ Tại Nhật, chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu
xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình 3R
(reduce, reuse, recycle).Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu
cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể
cháy và rác có thể tái chế. Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy
sản xuất phân compost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng
cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được
đưa các nhà máy tái chế. Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi
có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm
thì phạt cải tạo lao động bắt buộc[13]. Tại các nước đang phát triển thì công tác thu
gom rác thải còn nhiều vấn đề bất cập. Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển
rác thải chưa hợp lý, trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng
mà hiệu quả lại thấp. Sự tham gia của các đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế. So với
các nước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như Việt Nam và
khu vực Trung Mỹ còn thấp hơn nhiều.
Bảng 4: Tình hình thu gom CTR đô thị trên toàn thế giới năm 2004
Đơn vị : triệu tấn
Khu vực
Số lượng thu
gom
Các nước thuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD
620
Cộng đồng các quốc gia độc lập (trừ các nước biển Ban tích)
65
Châu Á (trừ các nước thuộc OECD)
300
Trung Mĩ
30
Nam Mĩ
86
Bắc Phi và Trung Đông
50
Châu Phi và cận Sahara
53
Tổng số
lấp
96
compost
4
-
-
Bangladet
Hongkong
Ấn Độ
Indonexia
Nhật Bản
Hàn Quốc
Malayxia
Philipin
Srilanka
Thái Lan
95
92
70
80
22
90
70
Nguyên nhân là do mức tiêu dùng ngày càng cao, nhu cầu về sử dụng các đồ bằng
nhựa như túi nilon, bàn ghế, các loại dụng cụ và trang thiết bị gia đình ngày càng
lớn.
Bảng 6: Thành phần rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Thành phần
Tỷ lệ % năm 1995
Tỷ lệ % năm 2005
Hữu cơ
51,9
49,1
Giấy và vải sợi
4,2
1,9
Plastis, cao su, da, gỗ, tóc, lông
4,3
15,6
Kim loại
0,9
6,0
Thủy tinh
0,5
7,2
Vật liệu trơ
38,0
18,4
Các loại khác
0,2
0,9
quân trên đầu
phát sinh
người(kg/người/ngày)
Tấn/ngày
Tấn/năm
0,81
4.444
1.622.060
Hồng
2
Đông Bắc
0,76
1.164
424.860
3
Tây Nguyên
0,59
650
237.250
7
Đông Nam bộ
0,79
6.713
2.450.245
8
Đồng bằng sông
0,61
2.136
779.640
0,73
2.5.2.2 Quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
* Quản lý rác thải tại Việt Nam
Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng…. đang là thách thức lớn đối với các
nhà quản lý. Tốc độ tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thị tăng, sản xuất, dịch vụ
tăng, mà còn vì mức sống của người dân đang ngày một tăng lên. Tỷ lệ thu gom chất
thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, còn các huyện ngoại thành tỷ lệ
này chỉ đạt 60%; Lượng CTR công nghiệp được thu gom đạt 85-90% và chất thải
nguy hại mới chỉ đạt khoảng 60-70%.
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào
kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế
tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự