Đặt vấn đề :
Nhiễm khuẩn bệnh viện là nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian nằm
viện ( thường sau 48 giờ ). Nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như
không ở trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Theo thống kê của Bộ
Y tế, hiện cả nước mới chỉ có 42,6% bệnh viện có khoa kiểm soát nhiễm
khuẩn. Riêng tuyến Quận, huyện vẫn còn 15,7% bệnh viện chưa có đơn vị
hay tổ kiểm soát nhiễm khuẩn. Tỷ lệ benẹh nhân bị nhiễm khuẩn bệnh viện
trên toàn quốc hiện nay chiếm trung bình từ 7 – 10 %, tập trung chủ yếu ở
đơn vị chăm sóc và điều trị, với 20 – 40 % bệnh nhân mới mắc.
Hậu quả của nhiễm khuẩn mắc phải trong Bệnh viện :
- Làm bệnh nhân yếu hơn và thậm chí có thể dẫn tới tử vung
- Kéo dài thời gian nằm viện của Bệnh nhân.
- Tăng phí tổn nằm viện
Các biện pháp phòng nhiễm khuẩn bệnh viện gồm :
- Vệ sinh tay.
- Thực hiện các quy định về vô khuẩn
- Làm sạch khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ và phương tiện chăm sóc
điều trị.
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, cách ly.
- Giám sát phát hiện nhiễm khuẩn mắc phải và các bệnh truyền nhiễm
trong cơ sở y tế.
- Vệ sinh môi trường và quản lý chất thải
- Vệ sinh đối với người bệnh, người nhà người bệnh.
- Vệ sinh an toàn, thực phẩm.
- Quản lý và sử dụng đồ vải.
- Vệ sinh trong việc bảo quản, ướp, mai táng, di chuyển thi thể khi
người bệnh tử vong.
- Một trong những biện pháp đơn giản nhất và hiệu quả nhất trong
phòng nhiễm khuẩn bệnh viện là kỹ thuật rửa tay thường quy.
Đây là một kỹ thuật đơn giản dễ làm, không tốn nhiều thời gian, lại rất
có hiệu quả trong phòng chống nhiễm khuẩn, nhưng cán bộ y tế thường hay
+ Bước 3 : Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong
ngón tay.
+ Bước 4 : Chà mặt ngòai các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn
tay kia.
+ Bước 5 : Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược
lại.
+ Bước 6 : Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược
lại. Rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay.
1.3. Vai trò của rửa tay thường quy đối với nhiễm khuẩn bệnh viện.
Nghiên cứu về mối liên quan giữa bàn tay của cán bộ y tế và nhiễm
khuẩn Bệnh viện : Bác sỹ Sammelwale đã nói đến từ giữa thế kỳ 19 và sau
này tiếp tục được khẳng định rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất
trong phòng nhiễm khuẩn Bệnh viện. Một quan sát nhanh của Phạm Đức
Mục về nói quen rửa tay của nhân viên Bệnh viện đã nhận định rằng tỷ lệ
nhân viên y tế rửa tay sau khi ăn nhiều hơn trước khi ăn và thói quen này đã
tác động vào thực hành bệnh viện là nhân viên y tế rửa tay sau khi chăm sóc
người bệnh nhiều hơn là trước khi chăm sóc người bệnh.
Nghiên cứu về hiện trạng tiêm an tòan của Hội điều dưỡng Hà Nội,
Nguyễn Minh Tâm và cộng sự đã khẳng định không rửa tay trước và sau tiêm
là động tác tiêm sai sót hay gặp nhất đối với điều dưỡng bệnh viện. Nguyễn
Phúc Tiến ( BV Chợ Rẫy ) và cộng sự nghiên cứu về số lượng vi khuẩn trên
tay của 77 cán bộ y tế chưa rửa tay trong vòng 2 giờ đã thông báo 96% bàn
tay có vi khuẩn, bình quân mỗi bàn tay có 267.378 vi khuẩn, số lượng vi
khuẩn trên tay hộ lý và bác sỹ cao hơn điều dưỡng.
1.4 Giới thiệu về Trung tâm Y tế Ân Thi.
Quay trở lại Trung Tâm Y tế Ân Thi, địa điểm tiến hành khảo sát :
Trung tâm Y tế Ân Thi là một trong những Trung tâm thuộc tuyến huyện loại
3 của tỉnh Hưng Yên. Trung tâm được xây dựng và đổi mới về cơ sở vật chất
như nhà ở, trang thiết bị đã được đảm bảo phục vụ công tác khám chữa bệnh
cho toàn dân trong huyện và một số vùng dân cư lân cận khác của các tỉnh
Tất cả các nhân viên Y tế đang làm việc tại 3 khoa lâm sàng tại Trung
tâm Y tế Ân Thi.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu :
- Thời gian : Từ 01 / 7 / 2011 đến ngày 01 / 8 / 2011
- Địa điểm : Tại 3 khoa lâm sàng : Khoa ngoại, Khoa Nội, Khoa Sản
2.3. Phương pháp nghiên cứu :
- Thiết kế nghiên cứu : Mô tả cắt ngang
3. Kết quả nghiên cứu :
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu :
Bảng 1 : Sự phân bố về nhóm tuổi của các đối tượng nghiên cứu :
STT Nhóm tuổi Số lượng
( người)
Tỷ lệ ( % )
1 ≤ 30 30 75
2 31 – 40 5 12,5
3 41 – 50 3 7,5
4 ≥ 51 2 5
Tổng 40 100
Nhận xét : Nhóm tuổi ≤ 30 chiếm tỷ lệ cao nhất : 75 %
Bảng 2 : Sự phân bố về giới của đối tượng nghiên cứu :
STT Nhóm tuổi Số lượng
( người)
Tỷ lệ ( % )
1 Nam 5 12,5
2 Nữ 35 87,5
Cộng tổng 40 100
Nhận xét : Bảng 2 cho thấy đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nữ chiếm
87,5 %.
Bảng 3 : Sự phân bố về chức danh công tác.
STT Chức danh Số lượng ( người) Tỷ lệ ( % )
S
Ngi
T l
%
Ngi %
1 Bc 1 40 100 0 0 0 0
2 Bc 2 35 87,5 5 12,5 0 0
3 Bc 3 30 75 10 25 0 0
4 Bc 4 10 25 15 62,5 10 12,5
5 Bc 5 10 25 15 62,5 10 12,5
6 Bc 6 20 50 20 50 0 0
Nhận xét : Bớc 4, Bớc 5 và 6 hay bị thực hiện sai hoặc bỏ qua.
Biểu đồ 1 : Số ngời làm đúng kỹ thuật thờng quy cả 6 bớc
Bảng 7 : So sánh về trình độ chuyên môn và kỹ thuật rửa tay thờng quy.
S K thut
TT Trỡnh ỳng Khụng ỳng
Chuyờn mụn S
Lng
T l
%
S
Lng
T l
%
1 Đại học 5 / 7 70 % 2 21,5 %
2 Cao đẳng 2 / 5 40 % 3 30 %
3 Trung cấp 23/ 28 69 % 5 32,1 %
Nhận xét : Kỹ thuật đợc thực hiện ở đối tợng có trình độ đại học chiếm
tỷ lệ cao 70 %.
Bảng 8 : Nhân viên y tế có hiểu đợc tầm quan trọng của rửa tay thờng
và việc rửa tay thờng quy ở khối ngoại sản, nhi đợc thực hiện thờng xuyên
hơn so với khối nội.
- Phần lớn cán bộ có rửa tay nhng việc thực hiện không tiến hành đúng
theo các bớc của Bộ y tế quy định hoặc lẫn giữa các bớc và không đủ thời gian
theo quy định.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng không thực hiện đúng quy trình kỹ
thuật là do :
- Tính tự giác của nhân viên y tế khi thực hiện quy trình kỹ thuật cha
cao.
- Công tác kiểm tra giám sát của cấp quản lý tại các khoa về thực hiện
quy trình kỹ thuật cha đợc chú trọng.
- Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, trang thiết bị cha đầy đủ.
5. Kết luận :
Qua khảo sát tại 3 khoa lâm sàng Trung tâm Y tế Ân Thi tiến hành
trên 40 nhân viên y tế về kỹ thuật rửa tay thờng quy chúng tôi có một số kết
luận sau :
- Quy trình kỹ thuật thờng đợc tiến hành sau khi tiếp xúc và chăm sóc
bệnh nhân chiếm 100 %.
- Quy trình kỹ thuật chủ yếu đợc thực hiện ở khối ngoại , sản.
- Đa số đối tợng nghiên cứu thờng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng
các bớc 4,5 và 6 của quy trình kỹ thuật rửa tay thờng quy.
- Số ngời thực hiện quy trình đúng cả 6 bớc chiếm 20 %.
6. Kiến nghị :
- Công tác đào tạo lại nên đợc tổ chức thờng xuyên và liên tục, duy trì ở
các khoa nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ cho cán bộ về thực hiện
các quy trình kỹ thuật.
- Tăng cờng kiểm tra, giám sát, đôn đốc cán bộ thực hiện đúng các quy
trình kỹ thuật.
- Ban giám đốc và các bộ phận có liên quan đầu t thờng xuyên , khuyến
khích , tổ chức hội thi về quy trình rửa tay thờng quy cho nhân viên y tế tại