ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆTRƯỜNG CÁN BỘ
XÂY DỰNG NẾP SỐNG THỊ DÂN
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
1. THẠC SĨ NGUYỄN SỸ NỒNG
2. TIẾN SĨ ĐINH PHƯƠNG DUY
8. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
14
21
21
1.1. Hệ thống khái niệm
21
1.2. Những yếu tố tác động hình thành nếp sống thị dân Tp.HCM
40
Chươ .HCM
62
2.1. Lịch sử hình thành nếp sống thị dân ở Tp.HCM
62
2.2. Thực trạng nhận thức của người dân về nếp sống thị dân ở Tp.HCM
78
2.3. Thực trạng thái độ người dân Tp.HCM về việc thực hiện nếp sống
thị dân
97
2.4. Thực trạng hành vi thực hiện nếp sống thị dân ở Tp.HCM
100
2.5. Những yếu tố tác động đối với việc thực hiện nếp sống thị dân ở
Thành phố Hồ Chí Minh
106
2.6. Nguyên nhân thực trạng thực hiện nếp sống thị dân ở Tp.HCM
108
Chương 3. Tiêu chí, xây dựng
T
KCN-KCX
-
NĐ
NQ
QĐ
THCN
THCS
THPT
Trung thông
TP.HCM
TT
Thông tư
UBND
VMĐT IV
DANH MỤC CÁC BẢNG
SỐ, KÝ HIỆU
TÊN BẢNG SỐ LIỆU
TRANG
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
TP. HCM theo Tính chất nghề nghiệp 86
Bảng c1-c21
Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
Thành phố Hồ Chí Minh theo Mức sống hiện nay 87
Bảng c1-c22
Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
TP. HCM theo Nơi sinh 88
Bảng c1-c23
Mức độ biết về chủ trương năm 2008, 2009, và 2010
là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở TP.
HCM theo đăng ký nhân khẩu hiện nay 90
IV
Bảng c1-c24
Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
102
Bảng c9
Mức độ hài lòng về các công trình cơ sở hạ tầng của
TP.HCM
112
Bảng c10
Mức độ hài lòng đối với các công trình công cộng
của TP.HCM
112
Bảng c14
Đánh giá về ý thức và hành vi thực hiện nếp sống thị
dân của mọi người trong gia đình và ngoài xã hội
103
Bảng 1
So sánh nhận thức, thái độ và xu hướng hành vi củ
ối chứng trước khi tác
động 154-155
Bảng 2
ối chứng sau
khi tác động
155-156
1
dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là
đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan toả lớn của vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước. Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn phát huy truyền thống
cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, đoàn kết, có
những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất
là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay” [Nghị quyết 16 của Bộ Chính
trị, 2012: 3]. Bộ chính trị cũng xác định phương hướng phát triển thành phố
đến năm 2020, trong đó có đoạn “phát triển Thành phố nhanh và bền vững
với chất lượng và tốc độ cao hơn mức bình quân chung của cả nước, xây dựng
môi trường văn hoá lành mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Xây dựng Thành phố
Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại với vai trò đô thị đặc biệt, đi đầu trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đóng góp ngày càng lớn với khu vực và
cả nước; từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại,
khoa học - công nghệ của đất nước và khu vực Đông Nam Á; góp phần tích
cực đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020” [Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị, 2012: 7]. Thành phố Hồ Chí
Minh là một đô thị đặc biệt, đang được xây dựng theo hướng văn minh hiện
đại, tuy nhiên “nếp sống văn minh đô thị còn kém”. Chủ trương của Đảng bộ
Thành phố là: “Tập trung xây dựng môi trường văn hoá đô thị lành mạnh, văn
minh, nếp sống thị dân, tôn trọng pháp luật, tác phong công nghiệp” [Văn
kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 58]. Hoặc
là: “Sử dụng các biện pháp tổng hợp với nhiều hình thức sinh động để giáo
dục, thực hiện nếp sống thị dân” [Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ
Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 84]. Hiện nay việc nhận thức về văn minh đô
thị, nếp sống thị dân chưa được nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống thuộc
3
tính, yêu cầu, đặc điểm nếp sống thị dân chưa được xác định để có cơ sở đánh
giá; hệ thống giải pháp xây dựng chưa được đề xuất để thực hiện.
lớn cho khu vực phía nam và cả nước, từng bước trở thành một trung tâm
công nghiệp dịch vụ, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á xứng
đáng với thành phố mang tên Bác Hồ” [Nguyễn Sỹ Nồng, Nghị quyết 20 Bộ
Chính trị, 2008: 349-350].
Để thực hiện mục tiêu trên, nhân dân và Đảng bộ Thành phố phải làm
nhiều việc, trên nhiều lĩnh vực trước hết là xây dựng và phát triển kinh tế, giữ
vững ổn định chính trị,… tuy nhiên không thể không “Tập trung xây dựng
môi trường văn hóa đô thị lành mạnh, văn minh, nếp sống thị dân, tôn trọng
pháp luật tác phong công nghiệp” [Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ
Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 58] hoặc là “sử dụng các biện pháp tổng hợp với
nhiều hình thức sinh động để giáo dục, thực hiện nếp sống thị dân” [Văn kiện
Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 84]. Theo
phương hướng đó những năm qua Thành phố đã chủ trương và tổ chức thực
hiện các phong trào xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Các phong trào đó đã
có những kết quả bước đầu, đã rút được nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên vấn đề
còn ở phía trước, muốn tạo được “nếp sống văn minh thị dân” còn phải làm
lâu dài, kiên trì. Nhóm nghiên cứu đề tài “Xây dựng nếp sống thị dân ở Thành
phố Hồ Chí Minh xin được đóng góp một phần nhỏ về lý luận, khảo sát đánh
giá thực trạng và đề xuất một số nội dung, giải pháp xây dựng “Nếp sống thị
dân”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu thực trạng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh, những
nguyên nhân của thực trạng đó; đề xuất một hệ thống yêu cầu, một hệ thống
giải pháp đồng hành với cơ quan lãnh đạo, quản lý, cơ quan chức năng góp
phần củng cố nếp sống thị dân ở Thành phố trong quá trình thực hiện văn
minh đô thị, xây dựng Thành phố văn minh hiện đại. Kết quả nghiên cứu là
5
cơ sở khoa học để các nhà ý xã hội đề xuất, lựa chọn, quyết định,…và
thực thi các chủ trương, chính sách nhằm ổn định môi trường xã hội, góp
hoạt động của chính họ nghĩa là thông qua các hoạt động của đối tượng (học
tập, lao động, vui chơi giải trí, ) các hành vi, nếp sống thị dân sẽ được xem
xét, nghiên cứu một cách cụ thể. Tổ chức các hoạt động và sinh hoạt thiết
thực là một cách để con người bộc lộ hành vi và định hướng thay đổi hành vi.
Mặt khác, hành vi, nếp sống thị dân được hình thành, biểu lộ phát triển sẽ góp
phần khẳng định nhân cách của họ, hành vi, nếp sống thị dân là một trong
những yếu tố thể hiện nhân cách con người.
3.1.2. Tiếp cận Tâm lý học xã hội
Một phần của Tâm lý học xã hội nghiên cứu các qui luật hành vi và
họat động con người trong các nhóm xã hội cũng như đặc điểm của chính các
nhóm xã hội đó. Nghiên cứu hành vi, nếp sống thị dân của chủ thể cần đặt
trong mối quan hệ giữa hành vi cá nhân và hành vi xã hội, hành vi của các
nhóm xã hội. Mặt khác, các đặc điểm tâm lý-xã hội của con người cũng là
một yếu tố cần xem xét, soi chiều khi phát hiện những đặc điểm về hành vi
nói chung và nếp sống đô thị nói riêng của họ.
3.1.3. Tiếp cận lịch sử
Qua trình phát triển xã hội luôn tôn trọng tính lịch sử, tất cả mọi sự
kiện, hiện tượng đều có nguyên nhân và cơ sở xuất phát. Xem xét một vấn đề
cần tôn trọng những điều đã xảy ra trong quá khứ, tôn trọng những giá trị đã
hình thành trong quá khứ để tiếp tục kế thừa và phát triển. Nghiên cứu hành vi
và nếp sống thị dân là quá trình xem xét sự hình thành có tính tiếp nối, từ
hành vi, nếp sống chưa phải của thị dân, không phải ở môi trường đô thị đến
hình thành nếp sống văn minh đô thị. Hành vi và nếp sống thị dân của các
tầng lớp sẽ phụ thuộc vào tính chất, qui mô phát triển xã hội cũng như hoàn
cảnh xã hội qua từng thời kỳ lịch sử, từng thời điểm và sự kiện trong lịch sử.
7
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ kế thừa thành quả của
các nghiên cứu khác, xem đó là cơ sở để đề xuất những nghiên cứu mới và đề
xuất các hình thức tổ chức nghiên cứu lý thuyết và về hành vi,
nếp sống thị dân của các chủ thể
Phương pháp tiếp cận giá trị xem xét mối quan hệ giữa các giá trị
truyền thống với các giá trị đương đại tồn tại trong hành vi nếp sống, mối
quan hệ tác động ảnh hưởng của các nền văn hoá đối với sự hình thành nếp
sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình nghiên cứu đối chiếu, so
sánh sự chuyển đổi nếp sống các thời kỳ; nếp sống nông dân, nếp sống thị
dân; nếp sống thị dân Thành phố Hồ Chí Minh, nếp sống thị dân các thành
phố trong nước và một số thành phố trên thế giới.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể
3.2.1. Phƣơng pháp điều tra xã hội học
Xây dựng các angket để khảo sát nhận thức, thái độ, hành vi của người
dân Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thích ứng với xã hội mới.
Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để nghiên cứu thực trạng về
thói quen sinh hoạt ở đô thị, thực trạng nếp sống đô thị hiện nay như: nếp
sống gia đình; các quan hệ xã hội phong tục tập quán, tín ngưỡng,…; quan hệ
cá nhân với cộng đồng; công dân với pháp luật,… Việc điều tra xã hội học
được tiến hành với 600 người gồm các nhóm khách thể khác nhau: công nhân,
trí thức, nhà quản lý, học sinh sinh viên, lực lượng thực thi và bảo vệ pháp
luật,… Kết quả khảo sát sẽ được xử lý và phân tích mức độ khác nhau, mối
tương quan ý kiến giữa các nhóm khách thể,…[Phần I: Bản xử lý số liệu-định
lượng: 1-10].
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để tìm mối tương quan giữa các
nhóm đối tượng, nhóm khách thể nghiên cứu. [Phần I: Bản xử lý số liệu-định
lượng: 11-94].
9
1. Số trung bình cộng
* Trung bình cộng không có trọng số
Trong đó:
X là số trung bình
Xi là lượng biến thứ i (i = 1, 2, 3…, n)
5. Cách thức chọn mẫu cho phiếu khảo sát
Thiết kế và hoàn thiện phiếu khảo sát có cấu trúc: để hoàn thiện bản
hỏi cẩn thận trước khi tiến hành thu thập thông tin đại trà, nhóm nghiên cứu
đã thực hiện phỏng vấn thử nghiệm 15 người dân, các thông tin thu thập được
nhằm điều chỉnh các câu hỏi trong bảng hỏi cấu trúc. Từ đó chỉnh sửa phiếu
thu thập dữ liệu cấu trúc gồm hai phần (phần 1 có 63 câu hỏi, phần 2 có 24
câu hỏi), có câu hỏi một lựa chọn và câu hỏi nhiều lựa chọn các phương án trả
lời, các câu hỏi tập trung làm rõ những dữ liệu cần nghiên cứu. Các thang đo
định danh, thứ bậc, khoảng cách, tỷ lệ được đặt ra nhằm thu thập dữ liệu phục
vụ cho việc xử lý và phân tích thông tin.
Cỡ mẫu phỏng vấn bằng phiếu có cấu trúc: đề tài này thực hiện chọn
mẫu không lặp lại (chỉ hỏi một lần/người) nhằm ước lượng các tỷ lệ % của
11
các tiêu thức từ mẫu khảo sát cho tổng thể nghiên cứu nên chúng tôi chọn cỡ
mẫu cần khảo sát là 600 người.
Quy trình chọn mẫu: thực hiện theo phương pháp chọn mẫu cụm
(cluster samping) kết hợp với chọn mẫu phi xác suất (thuận tiện)/xác suất.
Giai đoạn 1: căn cứ vào vị trí địa lý, chọn 21 cụm (theo đơn vị hành
chính cấp quận/huyện).
Giai đoạn 2: tại mỗi cụm (quận/huyện) chọn được một số người mời
tham gia trả lời phỏng vấn (xem bảng tóm tắt phân bố các đơn vị mẫu theo
cụm và số đơn vị mẫu tại mỗi cụm).
12
Bảng tóm tắt phân bố các đơn vị mẫu theo cụm và số đơn vị mẫu
tại mỗi cụm
ĐỊA BÀN
CỤM
SỐ NGƢỜI
Cư dân tại các
cộng đồng dân cư
9
Q. Phú Nhuận
41
Q. Tân Bình
31
Q. Tân Phú
8
Q. Thủ Đức
34
H. Bình Chánh
3
H. Hóc Môn
1
H. Nhà Bè
2
TỔNG CỘNG
600
13
Đơn vị thu thập thông tin bằng phiếu khảo sát có cấu trúc là 600 người,
các tiêu thức thống kê trong phiếu khảo sát nhằm thu thập thông tin về ý kiến
cá nhân, đơn vị phân tích thông tin là cá nhân.
6. Giả thuyết khoa học
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nếp sống thị dân đã hình thành trong quá
trình phát triển thành phố. Tuy nhiên hiện nay, người dân Thành phố Hồ Chí
Minh có nhận thức và thái độ chưa rõ về nếp sống thị dân và thực hiện nếp
sống thị dân. Nếu trang bị kiến thức và hình thành các thói quen tích cực thì
có thể thay đổi nhận thức, thái độ của người dân. Khi phù
hợp trên cơ sở điều kiện vật chất cụ thể thì sẽ có những chuyển biến nhất
định, hình thành được nếp sống thị dân ở mức độ ổn định .
Thông qua nghiên cứu hiện tượng đô thị để tìm hiểu tình cảnh khốn
khổ của giai cấp lao động nước Anh trong công cuộc phát tr
“…họ đều có nhu cầu nhất định và
để thõa mãn những nhu cầu đấy, họ cần phải có những người khác như thợ
thủ công, thợ may, thợ giày, thợ làm bánh, thợ hồ, thợ mộc đều dọn đến ở gần
đó cả…” [C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 2, 1980:49-50].
). Ănghen nói tới trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân
Anh về thân phận của những người lao động trong những t
. Nó có sáu đặc điểm lớn mà Ănghen đã đề cập tới.
-
–
.
- , giai cấp công nhân Anh trong tác phẩm của mình đó là giai
cấp công nhân lao động nước Anh sống trong tình trạng nghèo khổ khó hình
15
dung nổi ở trong các khu nhà trọ của công nhân, ở trong các khu ổ chuột của
đô thị.
- , có một cuộc cạnh tranh hay là chiến tranh vì cuộc sống ngay
cả giữa những người lao động với nhau.
- , điều kiện lao động tồi tệ và mức sống thấp đã kéo theo rất
nhiều bệnh tật cho những người lao động đô thị,
.
-
tội ác, cho nạn mại dâm và nạn nghiện ngập phát triển một cách khác thường.
- , mặc dù tình trạng, tình cảnh của những người lao động trong
những khu đô thị lớn là nghèo khổ, thấp kém như vậy,
nước Anh [C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 2, 1980:164-170].
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ănghen đã có hai ý
tưởng rất quan trọng về sự phát triển
chính là ngọn nguồn quan trọng nhất tạo ra sự tách rời giữa thành thị và nông
. Những thay đổi to lớn về cơ cấu
và các thiết chế đã mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho người thị dân.
[Wirth Louis, 1938: 12-24].
Nhà tâm lý học Stanley
“dưới áp lực
của mệnh lệnh và khi không phải chị
cộng đồng đô thị tạo nên “sự quá tải”
cho tâm lý của thị dân. Người dân thành thị tham gia vào các quan hệ hời hợt,
đứt đoạn, ngắn ngủi và thậm chí là phi nhân văn là do tính cách thích nghi với
sự quá tải tâm lý do quy mô, sự đông đúc và sự đa dạng tạo ra [Milgram
Stanley, 1967: 60-67].
T – “Đại đô thị và đời số
, và tính phức tạp của đô thị.
-
).
18
-
-
[Georg Simmel, 1950: 409-424].
8.2. Trong nước:
Vấn đề nếp sống thị dân đã được nhiều tác giả đề cập trong các công
trình nghiên cứu, các bài báo và các ý kiến phát biểu của nhiều nhà nghiên
cứu thực tiễn dưới nhiều góc độ khác nhau. Đặc biệt khi Hội đồng Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh lấy năm 2008 và tiếp tục năm 2009, 2010 là năm
thực hiện nếp sống văn minh đô thị thì vấn đề càng được quan tâm nhiều hơn,
rộng khắp hơn và sâu sắc hơn. Có thể nói rằng các công trình nghiên cứu
trong nước đã mở ra nhiều hướng tiếp cận để tiếp tục nghiên cứu môi trường
đô thị đang càng ngày càng định hình rõ nét hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng và cả nước nói chung. Các nghiên cứu trong nước tuy rất đa dạng và
Nghĩa, Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2002: 15-54; Nguyễn Đăng Sơn, 2005: 12-47;
Nguyễn Nghĩa Trọng, 2003: 25-31; Trương Quang Thao: 2003: 15-36
, 2012: 60-65].
- Những nhận thức về một thành phố phát triển năng động và đông dân
nhất nước với những nhận định về hiện trạng và hướng phát triển trong tương
lai của Thành phố Hồ Chí Minh. Các vấ và tổ
chức không gian đô thị, xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh văn minh hiện đại,
văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Những định hướng, giải pháp
quy hoạch đúng đắn và khả thi cho Thành phố để Thành phố Hồ Chí Minh trở
thành một Thành phố văn minh – hiện đại – văn hóa tiên tiến và đậm đà bản
sắc dân tộc. Những phương pháp tiếp cận mới mang tính hệ thống nhằm cải
tiến hệ thống qui hoạch và quản lý đô thị trong thời kỳ chuyển đổi (gắn với
nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa) nhằm hướng tới sự phát triển bền
vững của Thành phố ta, trong đó yếu tố con người đóng vai trò là hạt nhân
20
chủ thể [Lưu Trọng Hải, 2001: 25-42; Nguyễn Đăng Sơn, 2005: 45-51; Nhiều
tác giả, 2001: 58-75 , 2010: - u,
2010: 115-149].
- Sự chuyển động đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ cùng những việc
chỉnh trang qui hoạch đô thị ngày càng dồn dập trong giai đoạn phát triển đô
thị hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh, đưa ra những vấn đề cần giải quyết
của việc phát triển đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm định hướng cho
việc xây dựng tính nhân văn và bền vững của thành phố. Những thay đổi giá
trị sống như là điều tất yếu, trong đó có sự thay đổi về lối sống, nếp sống; sự
phân tầng xã hội, sự xã hội hóa lối sống ngày càng mạnh mẽ và do vậy các
yếu tố văn hóa của lối sống, nếp sống càng phải được coi trọng. [Nguyễn Thế
Nghĩa, Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2002: 65-78; Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2000: 67-80
- -
Cương, 2004: 15-30; Trương Quang Thao: 2003: 111-133].
- Những nghiên cứu, bài viết hoặc các bài phát biểu của các vị lãnh