HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
*****
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI
CHÍNH SÁCH CÔNG
Đề tài: Những thuận lợi và khó khăn trong quá
trình thực hiện chính sách việc làm ở huyện A Lưới, tỉnh
Thừa Thiên Huế.Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hữu Hải
Học viên thực hiện : Nguyễn Quốc Cường
Lớp : Cao học HCC 16M
1
Huế, tháng 01/2013
Nhận thức mới về phát triển trong thế giới hiện đại khẳng định: Phát
triển nguồn nhân lực là đỉnh cao nhất, là mục tiêu cuối cùng và cũng là động
lực mạnh nhất của mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và quốc
tế; Chính sách trung tâm của thời đại chúng ta là chính sách con người và sự
tham gia của con người vào tiến trình phát triển xã hội và tiến bộ xã hội. Hệ
thống chính sách xã hội, trong đó có chính sách giải quyết việc làm phải dựa
trên nền tảng cốt lõi nhất là coi trọng yếu tố con người và phát huy đến mức
cao nhất tiềm năng của con người.
1.Ý nghĩa của chính sách giải quyết việc làm.
Chính sách giải quyết việc làm không chỉ bảo đảm ổn định chính trị -
xã hội, mà còn trực tiếp góp phần củng cố và nâng cao chất lượng, sức mạnh
kinh tế của đất nước.
Mọi người có việc làm, có thu nhập sẽ đảm bảo cuộc sống hàng ngày;
từ đó xây dựng một xã hội phát triển tương đối đồng đều, giảm dần sự cách
biệt giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa phụ nữ và nam giới, giữa
Tỷ lệ hộ dùng điện 99,6%; Tỷ lệ độ che phủ rừng 81,3%; Tỷ lệ dùng
nước hợp vệ sinh 82,7%; Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế 100%; Tỷ lệ huy
động các cấp học đến trường đạt từ 85-99%; Tỷ lệ hộ nghèo 16,88%, cận
nghèo 13,25%; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,56%. Tạo việc làm mới hàng năm
300-320 người.
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách việc làm.
Theo số liệu điều tra của Chi cục Thống Kê và phòng Lao động-
Thương binh và Xã hội huyện A Lưới hàng năm, kết quả như sau:
2.2.1 Số lượng dân số và lao động.
STT Chỉ tiêu ĐVT 2007 2012
3
1 Dân số trung bình Người 41.717 45.921
2 Nguồn lao động (trên 15 tuổi)
- Tỷ lệ so với dân số
Người
%
26.365
63,20
28.884
62,90
3 Lao động trong độ tuổi
- Tỷ lệ so với dân số
Người
%
18.928
45,37
20.499
44,63
Như vậy, nguồn lao động chiếm tỷ lệ khá cao so với dân số (khoảng
63%), trong đó lao động trong độ tuổi chiếm khoảng 45%, đây là yếu tố cơ
Người
Người
%
Người
%
12.651
9.373
49,52
3.278
17,32
14.232
10.958
53,45
3.274
15,98
3 Số người không có việc làm
Tỷ lệ
Người
%
6.277
33,16
6.267
30,57
Như vậy, sau 5 năm, tỷ lệ số người có việc làm có tăng nhưng không
đáng kể (chiếm 53,45%), số người thiếu việc làm vẫn chiếm tỷ lệ cao
(15,98%); Số người thất nghiệp còn rất lớn, chiếm 30,57%. Với sự nổ lực của
các cấp, các ngành, trong 5 năm đã giải quyết việc làm cho 1.581 người, bình
quân 316 người/năm.
Trong 10.958 người có đủ việc làm năm 2012; số người làm việc
hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 2.993 người, chiếm 27,31%. Bao gồm:
; kinh phí đầu tư 7.180 triệu đồng từ nguồn vốn chương trình mục
6
tiêu quốc gia. Cán bộ quản lý và giáo viên cơ hữu được tăng cường đảm bảo
về chất lượng và đủ về số lượng.
3.2 Những khó khăn.
Trong triển khai thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, một trong
những nguyên nhân chủ yếu là do một số đặc điểm, đặc thù của người nông
dân và lao động nông thôn, miền núi, người dân tộc thiểu số, cụ thể:
Đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, sản xuất nông nghiệp
chưa chuyển sang sản xuất hàng hóa. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,
các làng nghề truyền thống chưa phát triển.
Vị trí địa lý của huyện A Lưới không thuận lợi, nhiều đồi núi cao,
hiểm trở, xa trung tâm thành phố Huế, giao thông đi lại rất khó khăn; đất đai
bạc màu, ảnh hưởng chất độc hóa học trong chiến tranh để lại.
Hiệu quả các ngành sản xuất kinh doanh còn thấp, công nghiệp chưa
phát triển, các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp chủ yếu tự cung,
tự cấp.
Chất lượng lao động còn hạn chế, lao động phổ thông chiếm đại bộ
phận. Tâm lý của đồng bào dân tộc thiểu số là ngại đi xa gia đình để tìm kiếm
việc làm; muốn trả lương lao động theo ngày nên một số doanh nghiệp không
muốn sử dụng.
Người lao động chưa hiểu đúng và đầy đủ quan niệm về việc làm, còn
mang nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước.
Công tác đào tạo nghề cho người lao động chưa được quan tâm đúng
mức; chất lượng đào tạo có mặt còn chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nghề
cho người lao động và yêu cầu của nền sản xuất xã hội.
7
Trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành,
vấn đề lao động, việc làm chưa được đề cập đúng vị trí, chưa coi trọng việc
tạo chỗ việc làm mới là một chỉ tiêu quan trọng.
hàng hóa.
Năm là, Đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho
Trung tâm dạy nghề huyện; cán bộ quản lý và giáo viên cơ hữu phải được
tăng cường về chất lượng và đủ về số lượng.
Sáu là, Lồng ghép với các Chương trình mục tiêu quốc gia khác, đặc
biệt là gắn chặt với việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo
Quyết định số số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Bảy là, Tạo điều kiện về đất đai, thủ tục hành chính… để huy động
mọi nguồn lực tài chính của các tổ chức, cá nhân, nguồn vốn tín dụng đầu tư
vào địa bàn, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương.
Tám là, Công tác giám sát, kiểm tra các hoạt động dạy nghề, giải
quyết việc làm phải được thực hiện thường xuyên ở tất cả các “khâu” và ở tất
cả các cấp từ huyện đến xã.
KẾT LUẬN
Với một huyện vùng cao biên giới và nền kinh tế còn kém phát triển
như huyện A Lưới thì vấn đề giải quyết việc làm còn gặp rất nhiều khó khăn,
giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều mà phải có sự đầu tư lâu
dài, sự phối hợp từ trên xuống dưới để tháo gỡ dần những khó khăn về kinh tế
- xã hội của huyện. Giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động sẽ giảm
được tỉ lệ thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội, giảm tình trạng xâm hại tài
nguyên rừng, đồng thời người dân sẽ có thêm thu nhập để nâng cao đời sống,
9
gắn bó với bản làng, quê hương, góp phần ổn định tuyến biên giới Việt Nam –
Lào, thúc đẩy kinh tế -xã hội huyện phát triển bền vững./.
10