Xác định nguồn gốc arsenic trong nước dưới đất khu vực TP.HCM bằng kỹ thuật đồng vị và kỹ thuật thủy hóa - Pdf 25

ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu) ĐỀ TÀI

XÁC ĐỊNH NGUỒN GỐC ARSENIC TRONG NƯỚC DƯỚI ĐẤT
KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẰNG KỸ THUẬT ĐỒNG VỊ VÀ KỸ THUẬT THỦY HÓA

CƠ QUAN QUẢN LÝ CƠ QUAN CHỦ TRÌ
(Ký tên/ đóng dấu xác nhận) (Ký tên/ đóng dấu xác nhận)

ii
TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Đề tài:
Xác định nguồn gốc arsenic trong nước ngầm khu vực thành phố Hồ Chí Minh
bằng kỹ thuật đồng vị và kỹ thuật thủy hóa.

Thời gian thực hiện: 4/2006 – 10/2007
Kinh phí thực hiện: 185.000.000 (một trăm tám mươi lăm triệu) đồng
Cơ quan quản lý: SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP.HCM
Cơ quan chủ trì: TRUNG TÂM HẠT NHÂN TP.HCM

H Đồng vị Deuterium
3
H (T)

Đồng vị Tritium
18
O

Đồng vị Ôxy 18
14
C

Đồng vị Carbon 14
δ Delta
‰ Phần nghìn
µg/l Microgramme/lít
T.U Đơn vị tritium
PMC Phần trăm carbon hiện đại

ến thiên hàm lượng đồng vị bền của nước ngầm tầng qp 53
Bảng
12:
Thành phần đồng vị môi trường của nước rỉ rác và các mẫu
nước ngầm quanh bãi rác Phước Hiệp
57
Bảng 13 Hàm lượng As trong nước ngầm quanh bãi rác Phước Hiệp 60
Bảng 14 Hàm lượng arsen các mẫu nước ngầm khu vực Q.2, Q.9 62
Bảng 15 Biến thiên hàm lượng đồng vị bề
n của nước ngầm tầng
Pliocene trên
72
Bảng 16 Thống kê các mẫu nước ngầm tầng m
4
2
có hàm lượng As cao 75
Bảng 17 Biến thiên hàm lượng đồng vị bền của nước ngầm tầng
Pliocen dưới
78
v
DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 18 Quan h
ệ giữa hàm lượng As tổng số và hàm lượng SO
4
49
Hình 19 Quan hệ giữa hàm lượng As tổng số và độ dẫn điện 49
Hình 20 Quan hệ giữa hàm lượng As tổng và hàm lượng sắt tổng 50
Hình 21 Quan hệ giữa hàm lượng As tổng và độ pH 51
Hình 22 Quan hệ giữa hàm lượng As tổng và điện thế 52
Hình 23 Quan hệ giữa δ
2
H và δ
18
O trong nước ngầm tầng qp 54
Hình 24 Quan hệ giữa δ
2
H và δ
18
O nước ngầm tầng qp, theo quận
huyện
56
Hình 25 Vị trí các mẫu nước ngầm xung quanh bãi rác Phước Hiệp 57
Hình 26 Quan hệ giữa δ
2
H và δ
18
O các mẫu nước ngầm khu vực quanh
bãi rác
58

vi

O - δ
2
H trong nước ngầm ở Củ Chi; nước mưa;
nước sông SG
70
Hình 34 Nguyên nhân và phân bố nước mặn, lợ theo nguyên nhân gây
nhiễm mặn
73
Hình 35 Thành phần đồng vị bền của nước ngầm tầng m
4
2
74
Hình 36 Quan hệ δ
18
O-δ
2
H các mẫu nước ngầm tầng m
4
2
khu vực Củ
Chi
75
Hình 37 Quan hệ δ
18
O-δ
2
H các mẫu nước ngầm tầng m
4
2
khu vực còn

II. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 16
III. Thực hiện các nội dung 21
III.1. Đặc điểm khí tượng thủy văn, địa chất thủy văn khu vực nghiên cứu 21
III.2. Lập mạng lưới các điểm lấy mẫu 27
IV. Kết quả và thảo luận
IV.1. Arsen trong nước khu vực thành phố Hồ Chí Minh 37
IV.1.1. Hiện trạ
ng As trong các tầng nước ngầm 37
I.V.1.2 Arsen trong nước bề mặt tại một số vị trí trong khu vực ng. cứu 42
IV.2. Nguồn gốc arsen trong nước ngầm ở TP.HCM 43
I.V.2.1. Thành phần hóa học các mẫu nước ngầm 43
I.V.2.2. Quan hệ giữa hàm lượng As và hàm lượng một số ion trong
nước ngầm
46
IV.2.3. Thành phần đồng vị môi trường và Nguồn gốc arsen trong nước
ngầm
53
IV.2.3.1. Thành phần đồng vị và nguồn gốc As trong nước ngầm
tầng Pleistocene
53
IV.2.3.2. Nguồn gốc arsen trong nước ngầm tầng Pliocene trên (m
4
2
) 72
IV.2.3.3. Nguồn gốc arsen trong nước ngầm tầng Pliocene dưới (m
4
1
)78
V. Kết luận 81
VI. Kiến nghị 82

mưa, nước bề mặt ở khu vực TP.HCM đã được hòan thành và thu được các thông
tin sau:
- Về hàm lượng As: Trong 99 mẫu nước ngầm chỉ có một mẫu (chiếm 1%) có
hàm lượng chất này vượt tiêu chuẩn cho phép khoảng 10 lần, có 8 mẫu (chiếm
8%) có hàm lượng As tổng trong khoảng 10-50 µg/l, các mẫu còn lại
đều chưa
vượt tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng As tổng số đối với nước sinh hoạt. Với
hiện trạng như vậy, có thể kết luận rằng ở khu vực TP.HCM sự ô nhiễm arsen
trong cả 3 tầng nước ngầm đang khai thác chưa phải là vấn đề nghiêm trọng.
Tuy vậy, khả năng bị ô nhiễm bởi kim loại này vẫn còn là mối đe dọa thường
xuyên do các đặc
điểm về thành tạo địa chất, đặc biệt là đất phèn, đối tượng hấp
phụ và có khả năng giải phóng arsen ra nước ngầm trong các phản ứng khử các
ôxít, hydroxit sắt, nhôm, khá phổ biến trong các trầm tích Holocene trên phạm vi
thành phố. Cùng với cấu trúc các tầng chứa nước, các lớp cách nước yếu giữa
các tầng, động thái tự nhiên bị tác động nghiêm trọng, arsen trong các loại trầm
tích Holocene có thể được phóng thích vào nước ngầm trong nh
ững điều kiện
thích hợp.
- Các số liệu thủy hóa thu được chưa thể lý giải được nguồn gốc As trong nước
ngầm do tương quan giữa hàm lượng As và một số ion khác đều là các tương
quan yếu.
- Bằng kỹ thuật thủy văn đồng vị, dựa trên các số liệu đồng vị bền (
2
H,
18
O) và
đồng vị phóng xạ tự nhiên (
3
H,

3
H,
14
C) and chemical compositions of 99 groundwater samples (taken from all
three exploiting aquifers on the study area) and some rain and surface water samples
has been performed and obtained the following information:
- Among 99 groundwater samples there is only one sample (1%) having As
concentration of 10 times in comparison with the National Standard of Arsenic
for Drinking Water; there are 8 samples (8%) of which As content ranges from
10-50 µg/l and the others have less than 10 µg/l of arsenic. This shows that
groundwater in the area is still not contaminated by arsenic seriously. However
the risk of contamination by arsenic is high due to geologic characteristic,
especially the widespread of alkaline soil in Holocene sediments existing in the
area which adsorbed arsenic and is able to release it into groundwater under
redox reactions of oxide/hydroxide of ion and aluminum. And due to structure of
aquifers, uncontinuous aquitars as well as strongly effected groundwater system
dynamics are reasons which can lead arsenic released from Holocene sediments
coming into groundwater.
- Because of the weak relations between ions concentration, chemical data of
water samples obtained can not explain on the origin of arsenic in groundwater
in the study area.
- Based on the isotopic compositions of water samples (groundwater, surface
water and rain water), the relationship between groundwater and/or surface
water, rain water has been defined. The isotopic results show that although
groundwater in some regions in the study area has direct dynamic relation with
rain water (Pleistocene aquifer) or between aquifers (Holocene- Pleistocene and
Pleistocene-Upper Pliocene) but the origin of arsenic in groundwater is only
geogenic.
thể động vật và cây cối, arsenic kết hợp với hydro, carbon thành các phức hữu cơ.
Về mức độ độc hại, các hợp chất arsenic vô cơ có độc tính cao hơn nhiều so với các
phức chất hữu cơ, arsenite có độc tính cao hơn so với arsenate.
Cùng với Thái Lan, Myanma, các quốc gia thuộc vùng châu thổ sông Mê Kông
vốn được hình thành nên bởi sự lắng đọng các trầm tích có nguồn gốc từ vùng cao
nguyên Tây Tạng, đồng bằng Nam b
ộ đang phải đối mặt với nguy cơ nước ngầm bị
ô nhiễm bởi arsenic. Những phát hiện về nước ngầm có hàm lượng arsenic cao ở
miền Tây Nam bộ cho thấy nguy cơ có thật về sự ô nhiễm của nước ngầm bởi
nguyên tố độc hại này.
Tại thành phố Hồ Chí Minh cũng đã phát hiện thấy nước ngầm với hàm lượng
arsenic cao ở một số khu v
ực. Là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế và
văn hóa quan trọng bậc nhất của cả nước, việc phát triển sản xuất, đô thị và mức độ
tập trung dân cư tại đây thời gian qua đã làm tăng nhanh chóng lượng nước khai
thác từ các tầng nước ngầm nhằm đáp ứng các nhu cầu về nước và việc khai thác

2
này đã gây những tác động tiêu cực đối với hệ thống các tầng chứa nước trong khu
vực mà trước hết là sự tụt giảm mực nước tĩnh và suy giảm chất lượng nguồn nước.
Về vấn đề nước ngầm bị ô nhiễm arsenic, ngoài những nguy cơ tiềm ẩn do đặc
điểm thành tạo địa chất (đã là hiện thực như ở Bangladesh, Ấn Độ nh
ững năm 80
thế kỷ trước hay Thái Lan, Myanma thời gian gần đây vốn thuộc hai vùng châu thổ
khác nhau nhưng lại có những đặc điểm thành tạo địa chất tương tự) thì tại
TP.HCM, các loại chất thải (chủ yếu từ các hoạt động sản xuất) cũng có thể là một
nguồn gây nên sự ô nhiễm arsenic trong nước ngầm.
Một số nghiên cứu về arsenic tại TP.HCM đã được th
ực hiện trong thời gian qua
mà chủ yếu là nhằm điều tra, khảo sát hàm lượng arsenic có trong nước ngầm. Kết

nhiều) nhưng lại có độ phổ biến lớn trong vỏ trái đất.
Arsen nguyên chất là một kim loại màu xám nhưng dạng này ít tồn tại trong thiên
nhiên và rất độc. Người ta thường tìm thấy arsen kết hợp với các nguyên tố như
oxy, lưu huỳnh, sắt dưới dạng các hợp chất vô cơ như đá thiên thạch, khoáng
realgar (As
4
S
4
), orpiment (As
2
O
3
), arsenopyrite (FeAs
2
, FeAsS, AsSb…) và với
hydro, carbon dưới dạng hợp chất hữu cơ. Các hợp chất arsen, cả vô cơ và hữu cơ,
đều có nguồn gốc cả tự nhiên và nhân tạo.
Arsen có thể được phát tán vào môi trường từ các quá trình tự nhiên như quá
trình phong hóa, quá trình phân rã các chất hữu cơ, vô cơ; và từ các hoạt động của
con người như trong sản xuất công nghiệp (lọc hóa dầu, luyện kim, hóa chất, dược
phẩm, nhuộm, thuộc da…), nông nghiệp (s
ử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực
vật), năng lượng (đốt nhiên liệu hóa thạch)…
Các loại hợp chất chứa arsen khác nhau có độc tính khác nhau. Hợp chất arsen vô
cơ độc hơn các hợp chất hữu cơ. Trong các hợp chất vô cơ, hợp chất As hóa trị 3
độc hơn nhiều so với hợp chất As hóa trị 5.
Khi xâm nhập vào cơ thể (con người hay động vật) arsen có thể gây nên nhiều
chứng b
ệnh nguy hiểm như các bệnh về dạ dày, da hay rối loạn chức năng và nhất
là bệnh ung thư. Với độc tính cao và độ phổ biến rộng nên khả năng bị nhiễm độc

bicarbonate calcium, magesium…
Cho tới nay, khoa học đã biết một s
ố cơ chế phóng thích As vào nước ngầm
trong các thành tạo địa chất là:
i. Oxy hóa hòa tan các khoáng vật chứa arsen như arsenopyrite (FeAsS) và
giải phóng As [Smedly et al., 2002]. Cơ chế này là chủ yếu trong điều
kiện mực nước ngầm bị hạ thấp do nguồn cấp bị suy giảm hay do khai
thác quá mức.
ii. Khử hòa tan oxít, hydroxit sắt (Hfo - Hydrous ferric oxides) hấp phụ
arsen [Ravencroft et al., 2001] bởi các hợp chất hữu cơ tự nhiên (NOM)
trong môi trường pH thấp. Khi đó Fe
3+
sẽ bị khử thành Fe
2+
và giải phóng
As (chủ yếu là As
5+
). Cơ chế này thường là chủ đạo trong các loại đất
phèn (chứa oxít sắt và oxít nhôm).
iii. Khử hòa tan sinh học Hfo dưới tác động của vi sinh vật như Geospirillum
Barnersii [Mac Arthur et al., 2001],
iv. Và cơ chế thay thế As hấp phụ trên Hfo bằng bicarbonate [Appello et al.,
2002]. Cơ chế này thường chiếm ưu thế trong nước dưới đất có loại hình
hóa học nước thuộc loại bicarbonate.
Arsen có nguồn gốc nhân tạo (nguyên, vật liệu trong sản xuất, trồng trọt; chất
thải công, nông nghiệp) có thể xâm nhập vào nước dưới đất trong những điều kiện
thích hợp: trực tiếp qua những vùng lộ của tầng chứa, qua các cửa sổ địa chất thủy
văn, chênh lệch áp suất giữa các tầng chứa… hoặc từ các nguồn nước bề mặt (đã bị
ô nhiễm arsen) có thể bổ cấp cho nước ngầm.
Trên thế giớ

ầm.
Ở Việt Nam, nước dưới đất ô nhiễm arsen đang ngày càng được phát hiện. Các
số liệu khảo sát và kết quả nghiên cứu thu được cho thấy rằng nước ngầm nhiễm
arsen mới chủ yếu được tìm thấy ở đồng bằng Bắc bộ và đồng bằng Nam bộ. Ở
những nơi này, nước ngầm có hàm lượng arsen cao lại thường thấy trong các thành
tạo Holocene và Pleistocene.
Nhiều chuyên gia đã nghiên cứu arsen nh
ư PGS-TS Nguyễn Kim Ngọc (Đại học
Mỏ-Địa chất), GS-TS Phạm Hùng Việt (Đại học quốc gia Hà Nội), TS. Đỗ Trọng
Sự (Bộ Tài nguyên - Môi trường), TS. Nguyễn Văn Đản (Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT

6
miền Bắc), KS. Phạm Thuần Công (Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Nam), GS.TS.
Lâm Minh Triết (Viện tài nguyên - Môi trường), …
Trên cơ sở phân tích tài liệu địa chất, địa chất thủy văn, mức độ tương quan giữa
các yếu tố và kết quả điều tra khảo sát, các nhà khoa học đã đưa ra một số vấn đề
như sau:
- Vùng núi địa hình cao, nguồn ô nhiễm chủ yếu là các vùng mỏ, điể
m quặng,
các đất đá được hình thành do quá trình nhiệt dịch, tạo quặng sunfur, vàng,
đa kim, núi lửa, quá trình phong hóa rửa trôi làm giàu arsen trong đất và
nước. Hiện đã phát hiện hang trăm điểm dị thường arsen cao tập trung ở các
vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc (Bắc bộ), cao nguyên Trung bộ và Tây
Nguyên, miền Đông Nam bộ đã phát hiện ô nhiễm arsen trong nước dưới đất.
Tại các vùng mỏ, do quá trình khai thác, nước thải giàu arsenopyrit thấm vào
gây ô nhiễm nước dưới đất.
- Tại các vùng đồng bằng châu thổ, các trầm tích bở rời hạt mịn thường là sét,
sét pha, than bùn, đất đá lẫn hợp chất hữu cơ chứa các kim loại nặng với hàm
lượng cao trong đó có arsen (ở khu vực Hà Nội, lượng arsen đạt tới 33,0
mg/kg trong đất, 6,3 mg/kg trong sét nâu, 12,0 mg/kg trong sét xám và 5,0

UNICEF khẳng
định mức độ ô nhiễm arsen của Hà Nam nghiêm trọng như ở
Bangladesh - nơi được đánh giá là có độ ô nhiễm arsen cao trên thế giới. Điển hình
tại thôn Trung Hòa, xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên hàm lượng As là 2.978 µg/l, gấp
khoảng 60 lần so với tiêu chuẩn cho phép; tại xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân hàm
lượng As lên tới 2.433 µg/l, vượt 49 lần tiêu chuẩn cho phép. Điều đáng quan tâm
qua phân tích ở 7069 giếng khoan trong tỉnh, có tới 3609 giếng (chiếm 51%) bị
nhiễm asen từ 2 đến 62 lầ
n tiêu chuẩn cho phép (Tiêu chuẩn TCVN 5501-1991).
Ngoài nguyên nhân về cấu tạo địa chất thì còn có thể có nguyên nhân do nước thải
sinh hoạt, nước thải công nghiệp không qua xử lý ô nhiễm nặng từ các tỉnh, thành,
nhất là Hà Nội đổ về Hà Nam với lưu lượng quá lớn. Trong khi đó, các ao, hồ, sông,
kênh ở tỉnh quá sức chịu đựng và mất khả năng tự làm sạch. Vì vậy, nước ô nhiễm
dễ dàng thẩm thấu xuống lòng đất?
T
ại Hà Nội, nước ngầm bị nhiễm arsen đã được phát hiện từ năm 1996, đặc biệt
tại một số khu vực như Quỳnh Lôi (quận Hai Bà Trưng). Các nhà khoa học nhận
thấy rằng, hàm lượng arsen đo được trong nguồn nước ở khu vực Hà Nội đang có
xu hướng tăng cao so với những năm trước.
Kết quả nghiên cứu mới đây của Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên
nước miền Bắc cho thấy việc khai thác đã làm suy giảm chất lượng nước ngầm ở
Hà Nội. Tại nhiều khu vực chất lượng nước đã ở mức đáng báo động. Điều đáng
quan tâm nhất hiện nay về vấn đề nước nhiễm bẩn ở Hà Nội là hàm lượng arsen,

8
amôni (NH
4
), sinh ra từ các vật chất hữu cơ, xác động vật, chất thải lỏng và rắn
trong nước quá cao. Những điểm ô nhiễm arsen đáng lưu ý mà Liên đoàn ghi nhận
được là ở Đan Phượng (Hà Tây cũ) với mức 400 µg/lít - cao hơn 40 lần so với tiêu

mẫu nước giếng có dấu hiệu bị ô nhiễm arsen với nồng độ từ 11-50 µg/l, không đạt

9
tiêu chuẩn vệ sinh khi sử dụng ăn uống, sinh hoạt. Trước đó, kết quả phân tích của
Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường cho thấy nồng độ arsen trong nước
giếng tại thị xã Tân An từ 20-40 µg/l, các huyện Tân Trụ và Vĩnh Hưng có mức độ
ô nhiễm arsen khá cao, trung bình 20 µg/l. Nguyên nhân nhiều vùng thuộc tỉnh
Long An nhiễm arsen là do cấu tạo địa chất, một phần do yếu tố con người gây nên?
Tại Đồng Tháp, tình hình cũng đáng báo động khi có trên 67% số mẫu trong tổng
số 2.960 mẫu nước ngầm được khảo sát đã phát hiện nhiễm asen. Trong đó, huyện
Thanh Bình có tỷ lệ nhiễm arsen cao với 85% số mẫu thử có hàm lượng trên 50µg/l.
Tại thị xã Cao Lãnh cũng đã phát hiện một số giếng khoan với hàm lượng arsen khá
cao (lớ
n hơn khoảng 100 lần so với Tiêu chuẩn của Bộ Y tế năm 2002 về As trong
nước uống).
Tại Kiên Giang, trên 51% số mẫu thử trong tổng số hơn 3.000 mẫu được khảo sát
được phát hiện đã nhiễm arsen.
Với những số liệu thu được có thể nói nước dưới đất bị ô nhiễm arsenic ở đồng
bằng sông Cửu Long đã là một thực tế và ở một số khu v
ực sự ô nhiễm là nghiêm
trọng. Do vậy, cần thiết phải có những điều tra chi tiết hơn về arsenic trong nước
dưới đất trên toàn vùng để khoanh vùng ô nhiễm và có các biện pháp khắc phục
giảm thiểu tác hại của việc sử dụng nước đối với cộng đồng dân cư.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu về arsenic trong nước ngầm đã được bắt
đầu từ năm 1985 và đ
ã quan sát thấy hàm lượng As trong nước ngầm tới 20 ppm
(giếng ở Công ty VIFON). Đã có một số điều tra, nghiên cứu (trực tiếp hoặc kết
hợp) về arsenic trong nước ngầm khu vực TP.HCM như sau:
1) Các Đề án tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất các vùng Củ Chi, Hóc Môn, Bình
Chánh; Lập bản đồ địa chất thủy văn vùng TP.HCM tỷ lệ 1/50.000; Điều tra địa

đến 5,1 µg/l), không có mẫu nước nào có hàm lượng As vượt quá tiêu chuẩn cho
phép.
4) Đề tài “Khảo sát đánh giá mức độ nhiễm As (As III và As V) trong nước ngầm,
nước đóng chai, nước cấp nông thôn, trong đất ở TP.HCM. Xác định nguồn gốc
ô nhiễm và đề xuất biện pháp giải quyết” của GS.TS. Lâm Minh Triết, Viện Môi
trường và Tài nguyên, Đại học quố
c gia TP.HCM tiến hành năm 2004. Kết quả
nghiên cứu về As trong nước ngầm của đề tài cho thấy: Trong 39 mẫu lấy từ
tầng chứa nước Pleistocene, đại bộ phận đều nằm trong khoảng từ 0,1 đến 3,0
µg/l; chỉ có 2 mẫu (ở quận 12 và Củ Chi) có hàm lượng As tổng khá cao (20 và
33 µg/l) nên nhìn chung tầng chứa nước này chưa bị ô nhiễm arsen. Tầng
Pliocene trên, kết quả phân tích 16 mẫu nước của tầng này cho thấy phần lớ
n các
mẫu có hàm lượng As tổng là từ 0,1 đến 3,6 µg/l; chỉ có 2 vị trí ở Củ Chi (tại
Bình Mỹ, gần sông Sài Gòn và bãi rác Phước Hiệp) là có hàm lượng tổng tới 18
và 32 µg/l nên cũng có thể xem như tầng chứa nước này chưa bị nhiễm bẩn
arsen. Trong 10 mẫu lấy ở tầng Pliocene dưới, hầu hết các mẫu có hàm lượng As
tổng từ 0,1 đến 2,5 µg/l; Có 3 vị trí ở quận 12, Bình Chánh (lấy ở các giếng cấp
nước nông thôn) có hàm l
ượng As tổng tương đối cao từ 13 đến 43 µg/l; Cá biệt

11
có giếng G13 của Công ty khai thác nước ngầm có hàm lượng As tổng vào mùa
mưa tới 66 µg/l, vượt quá giới hạn cho phép trong TCVN 5944-1995; tuy cần
thiết phải có theo dõi định kỳ, nhất là trường hợp giếng G13, nhưng vẫn có thể
kết luận rằng tầng chứa này vẫn chưa bị ô nhiễm arsen. Và do vậy, đề tài cũng
không đặt vấn đề nghiên cứu về nguồn gốc As trong nước dưới đất khu vực.
5) Cùng thờ
i gian này, đề tài nghiên cứu “Ứng dụng kỹ thuật phân tích kích hoạt
neutron xác định hàm lượng As trong nước ngầm khu vực TP.HCM” của KS.

Postma, Pham Hung Viet và nnk. [1] chỉ rõ mối quan hệ giữa sự giảm dần hàm
lượng oxi hòa tan trong nước ngầm và sự thay đổi đồng biến tăng của hàm lượng
NH
4
, CH
4
và As theo chiều sâu tầng chứa cho thấy cơ chế giải hấp phụ arsen trong

12
các tầm tích vào nước ngầm với sự trợ giúp của các loại vi khuẩn yếm khí. Cũng tại
khu vực này, khi nghiên cứu khả năng nhả As từ trầm tích chứa nước ngầm ở những
độ sâu khác nhau, Mai Thanh Đức, F, Larson và nnk. [1] đã phát hiện rằng lượng Fe
và As nhả ra từ trầm tích có quan hệ đồng biến, điều đó chứng tỏ As được hấp phụ
trên hydroxit sắt, và trong quá trình giải hấp phụ có vai trò rất lớn của vi khuẩn yếm
khí thể hiện ở môi trường khử mạnh. Đồng thời, các tác giả trên cũng xác định As
có nhiều trong lớp bùn đáy của sông Hồng cũng là một nguồn mà từ đó As xâm
nhập vào gây ô nhiễm nước ngầm ở những điều kiện thuận lợi (phản ứng khử). Tại
huyện Thanh Trì (Hà Nội), Đặng Đức Nhận và nnk. [1] cũng áp dụng kỹ thu
ật địa
hóa nghiên cứu ô nhiễm nước ngầm khu vực bởi arsen. Kết quả nghiên cứu cho
thấy ở khu vực này arsen được phóng thích vào nước ngầm là do quá trình thay thế
arsenate và arsenite hấp phụ trên Hfo bởi bicarbonate được tạo ra từ quá trình hòa
tan calcite và/hoặc biotite bởi CO
2
được hydrat hóa. Nguồn CO
2
trong nước ngầm
là từ CO
2
trong không khí được hấp thụ trong nước bổ cấp và/hoặc được tạo ra khi

nước ngầm. Nếu hai khả năng đầu xảy ra, As trong nước ngầm cũng còn có cả
nguồn gốc nhân tạo nhưng trong khả năng thứ ba thì As trong nước ngầm cũng chỉ
có nguồn gốc tự nhiên. Để xác định mối quan hệ động lực giữa nước ngầm và nước
bề mặt, ngoài các công cụ chính là các đồng vị bền, nặng của nước đã kể trên thì
một số đồng vị môi trường khác như tritium (
3
H, đồng vị phóng xạ của hydro),
carbon phóng xạ (
14
C) cũng được dùng khi xác định tuổi của nước ngầm. Trong một
số trường hợp, một số đồng vị môi trường hòa tan trong nước khác như
15
N,
34
S…
cũng được sử dụng.
So với phương pháp dùng kỹ thuật địa hóa, phương pháp dùng kỹ thuật thủy văn
đồng vị có một số ưu điểm là các đồng vị được sử dụng đều là các đồng vị của các
nguyên tố thành tạo của nước hoặc hòa tan trong nước, phản ánh trung thực các quá
trình động học của nước; thứ hai, các đồng vị sử dụng là các đồng v
ị mà sự thay đổi
hàm lượng của chúng trong tự nhiên không bị ảnh hưởng do tác động của con người
mà chỉ chịu tác động của các quá trình tự nhiên gọi là các hiệu ứng đồng vị; thứ ba,
các đồng vị không tham gia các phản ứng hóa học nên hầu như không bị chi phối
bởi các quá trình hóa học; thứ tư, hàm lượng các đồng vị có thể xác định với độ
chính xác cao bằng các thiết bị chuyên dụng. Do vậy ít có các quá trình có th
ể tác
động làm sai khác kết quả hơn. Chính vì những ưu điểm đó mà kỹ thuật đồng vị
được sử dụng ngày càng rộng rãi.
Tại khu vực Châu Á, một số nghiên cứu ô nhiễm nước ngầm bởi As tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status