chọn lựa kháng sinh ban đầu trong điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện tại một số bệnh viện tp.hcm - Pdf 25


1

ỦY BAN NHÂN DÂN TP. HCM ĐẠI HỌC Y DƯC TP. HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO NGHIỆM THU
CHỌN LỰA KHÁNG SINH BAN ĐẦU
TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TP. HCM

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : GS-TS. NGUYỄN THANH BẢO
PGS-TS. CAO MINH NGA

đường tiểu ở vò trí thứ 3 (16,68%), nhiễm khuẩn máu xếp thứ 4 (7,25%) và
nhiễm khuẩn các loại khác là (3,1%).
Về các loại vi khuẩn gây NKBV, thì trực khuẩn Gram (-) chiếm ưu thế
(79,25%), các cầu khuẩn Gram (+) chỉ chiếm (20,75%). Có 6 loại vi khuẩn
thường gặp nhất trong tất cả các loại NKBV và chiếm đến (86,06%) đó là:
Klebsiella spp (25,39%), E. coli (16,23%), Acinetobacter spp (17,8%),
Pseudomonas spp (9,95%), S. coagulase (-) (9,03%) và S. aureus (7,66%). Các
loại vi khuẩn khác ít gặp hơn, gồm có: Proteus spp (4,25%), Enterococcus spp
(2,62%), Enterobacter spp (2,16%), Citrobacter spp (1,18%), Streptococcus spp
(1,44%), Stenotrophomonas maltophila (0,52%), , trực khuẩn Gram (-) không lên
men đường (0,39%), Providencia spp (0,33%), Hafnia spp (0,33%), Morganella
morganii (0,20%), Pantoea agglomerans (0,92%), Salmonella spp (0,13%),
Aeromonas spp (0,13%) và Burkholdenia cepacia (0,07%).
Tình hình kháng thuốc của các loại vi khuẩn phân lập được ghi nhận như
sau:

3
- S. aureus: Có đến 86,73% chủng thuộc MRSA, nhạy cảm thấp với
hầu hết các loại kháng sinh được khảo sát, chỉ còn một số có thể xem
xét trong điều trò đó là Vancomycin (theo y văn hiện nay tỷ lệ kháng
rất thấp), Chloramphenicol (76,11%), Rifampin (84,95%) và
Linezolid (94,69%).
- S. coagulase (-): Các chủng MRS chiếm đến 83,87%. Ngoài
Vancomycin (theo y văn hiện nay tỷ lệ kháng rất thấp), chỉ còn 5 loại
kháng sinh có tỷ lệ nhạy cao > 50% là Linezolid (89,51%),
Netilmicin (66,93%), Minocycline (60,40%), Rifampin (58,66%),
Chloramphenicol (52,41%) và Amikacin (50,81%)
- Enterococcus spp: Chỉ còn 3 loại kháng sinh có tỷ lệ nhạy > 50% đó
là Vancomycin (67,74%), Chloramphenicol (67,74%) và Linezolid
(51,61%).

ABSTRACT

1,528 nosocomial infection cases at Cho Ray Hospital, Nhan Dan Gia Dinh
Hospital, Thong Nhat Hospital, Hospital 175 and University of Medicine and
Pharmacy Hospital were investigated from 8.2009 to 8.2010. We found the
following results:
Among types of nosocomial infections, the pulmonary infection had the
highest rate (51.55%). The secondly high rate was surgical site and soft tissue
infections (21.42%); the urinary tract infection was at the third place (16.68%); the
blood stream infection was fourth (7.25%); and other types infections were 3.1%.
For the categories of bacteria causing the nosocomial infection, Gram-
negative bacilli were most (79.25%), Gram-positive spherical bacteria were only
20.75%. 6 categories of bacteria most known were responsible for 86.06% of all
types of nosocomial infections. They were Klebsiella spp (25.39%), E. coli
(16.23%), Acinetobacter spp (17.8%), Pseudomonas spp (9.95%), S. coagulase (-)
(9.03%) and S. aureus (7.66%). Lesser known bacteria included: Proteus spp
(4.25%), Enterococcus spp (2.62%), Citrobacter spp (1.18%), Streptococcus spp
(1.44%), Stenotrophomonas maltophila (0.52%), nonfermenting Gram-negative
bacilli (0.39%), Providencia spp (0.33%), Hafnia spp (0.33%), Morganella
0 morganii (0.22%), Pantoea agglomerans (0.92%), Samonella spp
(0.13%), Aeromonas spp (0.13%), and Burkholdenia cepacia (0.77%).

The drug resistances of isolated bacteria were found in this study as follow:
- S. aureus: 86.73% of isolated strains of Staphylococcus aureus bacteria
were MRSA. The findings showed a low sensitivity with most observed
kinds of antibiotics. Just several antibiotics could be considered to use
in treatment such as Vancomycin (current literature,resistance rate is
very low)), Chloramphenicol (76.11%), Rifampin (84.95%), and
Linezolid (94.69%).
- S. coagulase (-): The rate of MRS was 83.87%.Beside

Aminoglycosides (Netilmicin/Amikacin) + Vancomycin/Linezolid.
6
MỤC LỤC Trang
Tóm tắt đề tài I
3
Mục lục II
5
Danh sách các chữ viết tắt III
6
Danh sách bảng IV
7
Danh sách hình V

79
3.4 Nội dung 4
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
108
PHỤ LỤC
114
7
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VIẾT TẮT THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
1. AMOX : Amoxicillin
2. AMPI : Ampicillin
3. CAZ : Ceftazidime
4. CDC : Centers For Disease Control and Prevention
5. CIP : Ciprofloxacin
6. Clav : Clavulanic acid
7. CLSI : Clinical and Laboratory Standards Institute
8. CRO : Ceftriaxone
9. ESBL : Esxtended-Spectrum -lactamase: Men -lactamase phổ
rộng
10. ICU : Intensive Care Unit: đơn vò săn sóc đặc biệt
11. MRS : Methicillin Resistant Staphylococcus : Tụ cầu kháng


4.
Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện

5.
Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn máu trong NKBV

6.
Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường hô hấp trong
NKBV

7.
Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết mổ–mô mềm trong
NKBV

8.
Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường tiểu trong NKBV

9.
Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây các loại nhiễm khuẩn khác trong
NKBV

10.
Tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh của Staphylococcus aureus

11.
Tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh của Staphylococcus coagulase (-)

12.
Tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh của Enterococcus spp

ESBL của Proteus spp, Citrobacter spp và Enterobacter spp 9
22.
Các phương pháp phát hiện vi khuẩn sinh ESBL

23.
Tiêu chuẩn đường kính vòng vô khuẩn để phát hiện ESBL
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1: Minh họa xét nghiệm khuyếch tán đóa đôi và E. test PHẦN MỞ ĐẦU

1. PHẦN MỞ ĐẦU
Tên đề tài : Chọn lựa kháng sinh ban đầu trong điều trò NKBV tại
một số bệnh viện Tp.HCM.
Chủ nhiệm đề tài : - GS.TS Nguyễn Thanh Bảo – Đại Học Y Dược Tp.
HCM
- PGS.TS Cao Minh Nga – Đại Học Y Dược Tp. HCM
Cơ quan chủ trì đề tài : Đại Học Y Dược Tp. HCM – Bộ Y Tế
Cơ quan quản lý đề tài : Sở khoa học và Công nghệ Tp. HCM
Thời gian thực hiện : Từ tháng 04 – 2009 đến tháng 04 – 2010
Kinh phí được duyệt : 400.000.000 đồng
Kinh phí đã cấp : Theo TB số: TB – SKHCN ngày


11
CHƯƠNG I

TỔNG QUAN TÀI LIỆU A. NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN

1. TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Các bệnh viện khắp nơi trên thế giới đang phải đối mặt với sự xuất hiện

lan rộng ngày càng tăng của các vi khuẩn kháng thuốc. Các vi khuẩn Gram (-)
và Gram (+) kháng kháng sinh đều được báo cáo như những tác nhân quan
trọng gây NKBV.

- Nội sinh (endogenous source): từ một ổ vi khuẩn ở một nơi khác trên
chính cùng cơ thể đó (self hoặc auto-infection).
Nguồn nhiễm khuẩn trong các bệnh viện có thể là
- Con người: Các bệnh nhân khác hoặc nhân viên y tế, một vài khi là
những người thăm bệnh. Có thể là những người đang nhiễm khuẩn, những
người đang trong thời kỳ ủ bệnh, hoặc là người lành mang vi khuẩn.
Những người mang những dòng vi khuẩn độc tính như Staphylococcus
aureus, hoặc Streptococcus pyogenes là những nguồn nhiễm khuẩn rất quan
trọng, mặc dù bản thân họ không có những biểu lộ bệnh lâm sàng. Các tình
trạng mang vi khuẩn có thể tồn tại trong một thời gian rất dài mà không được
lưu ý tới cho đến khi có một dòch nhiễm khuẩn bùng nổ thì các trường hợp
mang vi khuẩn này có thể mới được lần theo dấu vết.[53]
- Môi trường: Nguồn nhiễm cũng có thể là các đồ vật, thực phẩm, nước
và không khí trong môi trường bệnh viện bò nhiễm khuẩn. Các nguồn này có
thể bò nhiễm từ các ổ chứa vi khuẩn bên ngoài môi trường ví dụ như các dung
dòch sát khuẩn được phân phối đến trại bệnh trong các thùng chứa vô trùng.
NKBV lây lan theo các giọt nhỏ hoặc các hạt bụi lơ lửng trong không khí, gân
đây người ta còn chú ý tới vai trò của các máy điều hòa nhiệt độ trong sự lây
truyền vi khuẩn Legionella pneumophila gây viêm phổi. [75]
2.2. Đường lây nhiễm :
NKBV được lây lan theo đường không khí hoặc do tiếp xúc với các
dụng cụ y tế dùng trong bệnh viện. Có một điều rất quan trọng cần nhớ rằng,
cùng một loại vi khuẩn có thể được lây lan theo nhiều đường khác nhau. Ví dụ
Streptococcus pyogenes có thể được lây lan từ bệnh nhân này qua bệnh nhân
khác qua đường không khí qua các giọt nhỏ hoặc bụi nhưng cũng có thể được
lây truyền qua đường tiếp xúc với các thương tổn bò nhiễm khuẩn ví dụ như ở
tay của các nhân viên y tế. [75, 30]
3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
NKBV phụ thuộc vào các yếu tố:
 Vi khuẩn gây bệnh: Số lượng, độc tính, hoạt lực.

làm giảm miễn dòch sau ghép) các steroid
làm giảm sức đề kháng, các loại kháng
sinh làm rối loạn hệ vi khuẩn thường trú
và đưa đến sự xâm lấn của các vi khuẩn
kháng thuốc tại bệnh viện.
6. Chấn thương do tại nạn : (vết thương do bỏng, dao đâm, tai nạn giao
thông ) hay do chủ ý (phẫu thuật, đặt ống
xông tiểu hoặc xông tónh mạch, thẩm phân

14
phúc mạc): làm rối loạn cơ chế đề kháng
tự nhiên của ký chủ.
4. CÁC LOẠI NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN THƯỜNG GẶP
Theo Robert Gaynes (2005) [48] các loại NKBV thường gặp là: viêm
phổi, nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn đường tiểu và nhiễm khuẩn máu.
Theo David Syndman (2004) các vò trí thường gặp trong NKBV là: nhiễm
khuẩn đường tiểu 40%, nhiễm khuẩn vết mổ 25%, nhiễm khuẩn hô hấp 20%,
nhiễm khuẩn máu 3%.
Theo Vũ Thò Kim Cương (2007) [3], tác nhân vi khuẩn gây NKBV đứng
đầu là nhiễm khuẩn hô hấp (182/276), nhiễm khuẩn đường tiểu (50/276),
nhiễm khuẩn da và tổ chức dưới da (21/276), nhiễm khuẩn vết mổ (17/276)
nhiễm khuẩn máu (6/276).
Theo Phạm Lê Tuấn và cộng sự (2006) [22], điều tra cắt ngang tại 5
bệnh viện và trung tâm y tế tại Hà Nội, tỷ lệ NKBV chung là 10%. Nhiễm
khuẩn hô hấp 36,5%, nhiễm khuẩn vết mổ 29,9% và nhiễm khuẩn tiêu hóa
19,6%.
Nói chung, các loại NKBV được hầu hết các tác giả trong và ngoài nước
đề cập đến là: nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn đường tiểu, nhiễm khuẩn vết
mổ và nhiễm khuẩn máu.
4.1. Nhiễm khuẩn máu:

4.3. Nhiễm khuẩn vết mổ [17, 63]:
Là loại NKBV rất thường gặp.
Các vi khuẩn Gram (+) là nguyên nhân của 50% các nhiễm khuẩn vết
mổ
(S. aureus, S. coagulase (-), Enterococci). Các vi khuẩn Gram (-) chiếm khoảng
35% trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ. Các yếu tố nguy cơ cho nhiễm khuẩn hậu phẫu
Thời gian chờ mổ
Càng dài càng dễ nhiễm các dòng vi khuẩn độc tính
và kháng thuốc tại bệnh viện
Sự có mặt của các
nhiễm khuẩn đang
Phẫu thuật ở những chỗ đã có nhiễm khuẩn sẵn (ví dụ
cắt túi mật do viêm cấp, phẫu thuật qua vùng có mủ
hoặc thủng tạng rỗng) có thể làm phát tán rộng sự

16

nhiễm khuẩn này
Thời gian mổ
Càng dài càng có nguy cơ cao bò nhiễm với các vi
khuẩn từ không khí, từ nhân viên y tế và từ những chỗ

5. CÁC VI KHUẨN THƯỜNG HAY GÂY NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
Phần lớn các vi khuẩn đều có thể gây NKBV. Kiểu mẫu của NKBV thay
đổi theo từng năm phản ánh sự tiến bộ của y học và sự phát triển của các loại
thuốc kháng sinh. Gần đây, khoảng cách giữa những lần thay đổi đang ngắn lại
dần.
Trong những năm 1940 và 1950, sau khi Penicillin và Sulfonamides được
giới thiệu, S. aureus đã thay thế cho Streptococcus pyogenes và Streptococcus

17
pneumoniae, các vi khuẩn chủ yếu gây NKBV trong thời kỳ chưa có kháng sinh
và trở thành một căn nguyên thường gặp nhất.
Trong những năm 1970, khi các thầy thuốc lâm sàng nhận thức được
rằng các vi khuẩn kỵ khí là những tác nhân gây bệnh quan trọng và bắt đầu sử
dụng các Cephalosporins phổ hẹp và Aminoglycosides để chống lại các vi
khuẩn này, thì các vi khuẩn Gram (-) đã thay thế S. aureus trong vai trò là
những tác nhân gây bệnh quan trọng nhất.
Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, các Cephalosporins phổ
rộng được sử dụng thì các vi khuẩn Gram (+) một lần nữa lại trở nên những vi
khuẩn gây NKBV quan trọng.
Từ các kháng sinh lần đầu tiên được giới thiệu, các vi khẩn đã tìm ra rất
nhiều cách để đối phó với tác động gây chết của các thuốc kháng sinh. Trong
năm 1941, khi các bác só bắt đầu điều trò nhiễm khuẩn do Staphylococci bằng
Penicillin, thì tất cả
các chủng vi khuẩn Staphylococci đều nhạy cảm, nhưng chỉ đến cuối thập kỷ,
có tới 60% S. aureus gây nhiễm khuẩn tại bệnh viện đã kháng thuốc. Tương tự
như vậy, Methicillin đã được giới thiệu năm 1959, và S. aureus kháng
Methicillin đã xuất hiện ngay lập tức sau đó. Ngày nay, các dòng vi khuẩn S.
aureus đa kháng thuốc và sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn có mức đề
kháng trung gian với Vancomycin đang đặt ra cho nhân loại những thử thách
mới. [34, 61, 85]

năm 1995 tại các trại hồi sức cấp cứu (ICU) ở các bệnh viện ở châu Âu đã cho
thấy có mối liên hệ khá chặt chẽ giữa tỷ lệ lưu hành nhiễm khuẩn mắc phải tại
ICU với tỷ lệ tử vong (R
2
= 0,68)
 Làm kéo dài thời gian nằm viện giảm khả năng lao động làm giảm thu
nhập, kéo dài sự vất vả cho bệnh nhân và gia đình bệnh nhân.
 Bệnh nhân bò nhiễm khuẩn sẽ trở thành một nguồn nhiễm quan trọng
cho những người khác tại bệnh viện và cộng đồng.
 Sự cần thiết phải sử dụng kháng sinh điều trò làm tăng thêm chi phí,
đưa bệnh nhân đến những nguy cơ nhiễm độc, làm tăng áp lực chọn lọc kháng
thuốc cho các dòng vi khuẩn gây bệnh tại bệnh viện, góp phần tạo nên những
dòng vi khuẩn kháng thuốc mà không còn thuốc kháng sinh điều trò. 19
không hoàn chỉnh (spheroplast). Những hình thức này làm tế bào dễ bò vỡ ở
môi trường có trương lực bình thường.
Tất cả các loại thuốc Penicillins và Cephalosporins đều là những chất ức
chế sự tổng hợp vách tế bào của vi khuẩn. Giai đoạn tác động đầu tiên của
thuốc là gắn vào các thụ thể PBPs (Penicillin-Binding-Protein) của tế bào. Có
khoảng 3 – 6 thụ thể PBP, trong đó một số thụ thể là những enzym
transpeptidase.
Sau khi gắn vào một hay nhiều thụ thể thuốc sẽ phong bế
transpeptidase, làm ngăn chặn việc tổng hợp peptidoglycan, một thành phần
quan trọng của vách tế bào. Cơ chế của việc phong bế transpeptidase có lẽ do
enzym này gắn vào Penicillins hoặc Cephalosporins có nhân cấu trúc tương tự
với acyl-D-alanyl-D-alanyl, một phân tử mà enzym bình thường vẫn tác động,
nên tác động của enzym bò phong bế.
Giai đoạn tiếp theo có liên quan đến việc hoạt hóa các enzym tự tiêu
(autolytic enzymes) gây ra sự ly giải của tế bào ở môi trường đẳng trương
(isotonic).
Trong môi trường ưu trương những tế bào bò biến đổi thành protoblast
hay spheroblast chỉ được bao bọc bởi một màng tế bào nên rất dễ vỡ.
2.2. Ức chế nhiệm vụ của màng tế bào:
Gồm Amphotericin B, Colistin, Imidazoles, Nystatin, Polymyxins.
Tế bào chất của tất cả tế bào sống đều được bao bọc bởi một màng tế
bào chất. Màng này được xem như là một hàng rào có khả năng thẩm thấu
chọn lọc, thực hiện chức năng vận chuyển chủ động và như vậy kiểm soát các
thành phần ở bên trong màng tế bào. Nếu sự toàn vẹn chức năng màng tế bào
chất bò phá vỡ thì những đại phân tử và những ions sẽ thoát khỏi tế bào làm tế
bào chết. Màng tế bào chất của vi khuẩn và vi nấm có cấu trúc khác với màng
tế bào chất của động vật và dễ dàng bò phá hủy bởi một số tác nhân.
2.3. Ức chế sự tổng hợp protein:
Có những kháng sinh như Chloramphenicol, Erythromycins,
Lincomycins, Tetracyclines, Aminoglycosides (Amikacin, Gentamicin,

đơn vò 50S ribô thể, và tương tự như các Macrolides ở những điểm như vò trí
gắn, tác động kháng khuẩn và phương cách tác động. Kháng Lincomycin là do
đột biến nhiễm sắc thể làm mất vò trí gắn trên tiểu đơn vò 50S.
2.4. Ức chế sự tổng hợp acid nucleic:
Như Actinomycin, Mitomycin, Nalidixic acid, Novobiocin,
Pyrimethamine, Rifampin, Sulfonamides, Trimethoprim…
Những thuốc như Actinomycin là những chất ức chế hiệu quả sự tổng
hợp DNA. Thuốc gắn vào DNA tạo nên một phức hợp, phức hợp này ức chế
các polymerase tổng hợp các RNA tương ứng, đặc biệt là mRNA. Actinomycin
cũng ức chế việc sao chép DNA của virút. Mitomycin gắn vào hai chuỗi DNA
ngăn cản hai chuỗi tách rời và như vậy DNA không được sao chép. Cả
Actinomycin và Mitomycin đều ức chế tế bào vi khuẩn lẫn tế bào động vật nên
ít được dùng trong điều trò. Rifampin ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn bằng

22
cách gắn chặt vào các polymerase tổng hợp các RNA, như thể ngăn chặn sự
tổng hợp RNA của vi khuẩn. Kháng thuốc Rifampin là do sự thay đổi của
enzym RNA polymerase, hậu quả của đột biến nhiễm sắc thể.
Nalidixic acid và Oxolinic là những chất ức chế sự tổng hợp DNA bằng
cách phong bế enzym DNA gyrase.
Đối với nhiều loại vi khuẩn, p-Aminobenzoic acid (PABA) là một chất
biến dưỡng cần thiết. Chất này được dùng như là một tiền chất để tổng hợp
folic acid, một giai đoạn quan trọng để tổng hợp nucleic acid. Các loại
Sulfonamides do cấu trúc tương tự như PABA nên có thể cạnh tranh với
PABA, tạo ra những chất tương tự như folic acid nhưng không có chức năng dẫn
đến việc cản trở sự phát triển của vi khuẩn. Tế bào động vật không thể tổng
hợp được folic acid mà chỉ dựa vào nguồn cung cấp từ bên ngoài nên không bò
ức chế bởi Sulfonamides.
Trực khuẩn lao không bò ức chế bởi Sulfonamides nhưng lại bò ức chế
bởi PAS (p-Aminosalicylic acid, một chất cấu trúc tương tự PABA và

Một số vi khuẩn kháng Aminoglycosides do đột biến nhiễm sắc thể, làm
mất hoặc thay đổi một loại protein đặc biệt ở tiểu đơn vò 30S của ribô thể vi
khuẩn, được sử dụng như là điểm gắn của thuốc ở những vi khuẩn nhạy cảm.
Những vi khuẩn kháng Erythromycin cũng là do những thụ thể trên tiểu đơn vò
50S đã bò thay đổi, còn kháng Penicillins là do vi khuẩn có thể mất hay đã làm
thay đổi các PBPs.
3.1.4. Vi khuẩn thay đổi đường biến dưỡng làm mất tác dụng của thuốc:
Thí dụ, một số vi khuẩn kháng Sulfonamides, không còn cần PABA ở
ngoài tế bào nữa để tổng hợp folic acid, mà có thể sử dụng folic acid có sẵn,
cho quá trình biến dưỡng.
3.1.5 Vi khuẩn có enzym đã bò thay đổi:
Enzym bò thay đổi vẫn còn thực hiện được chức năng biến dưỡng, nhưng
ít bò ảnh hưởng của thuốc so với enzym ở vi khuẩn nhạy cảm. Thí dụ: ở vi
khuẩn nhạy cảm Sulfonamides, Tetrahydropteroic acid synthetase có ái lực với
Sulfonamides cao hơn nhiều so với PABA, còn ở vi khuẩn kháng Sulfonamides
do đột biến thì ngược lại.
3.2. Nguồn gốc của việc kháng thuốc:
3.2.1. Nguồn gốc không do di truyền: Sự nhân lên của vi khuẩn là yếu tố
cần thiết cho những tác động của thuốc kháng sinh. Khi vi khuẩn vì lý do nào
đó không nhân lên được và có thể trở thành kháng thuốc, nhưng những thế hệ
sau có thể nhạy cảm trở lại. Thí dụ vi khuẩn lao sau khi nhiễm không nhân lên
được do sự đề kháng của ký chủ, nhưng chúng có thể tồn tại nhiều năm trong
mô cơ thể; những vi khuẩn tồn tại không đáp ứng điều trò, tuy nhiên khi chúng
bắt đầu nhân lên (như sau khi dùng corticoides) thì có thể nhạy cảm hoàn toàn
với thuốc đã sử dụng trước đó.
Nguồn gốc không di truyền còn do vi khuẩn mất điểm gắn đặc biệt
dành cho thuốc. Thí dụ, vi khuẩn nhạy cảm Penicillins có thể biến đổi thành

24
dạng L trong quá trình sử dụng thuốc; vì thiếu phần lớn vách tế bào chúng trở

Vật liệu di truyền và plasmid có thể được truyền theo cơ chế sau:
Chuyển thể (transformation): Mảnh DNA sau khi giải phóng từ vi
khuẩn cho được truyền sang vi khuẩn nhận. Mảnh DNA ngoại lai này
thay thế một phần bộ gen của vi khuẩn nhận, quyết đònh những tính
chất mới và có thể di truyền.
Chuyển nạp (transduction): DNA plasmid được gắn vào một phage
và thông qua phage mà truyền sang vi khuẩn khác cùng loại.
Giao phối (conjugation): Là hình thức vận chuyển vật liệu di truyền
từ vi khuẩn cho sang vi khuẩn nhận khi có sự tiếp xúc giữa hai vi
khuẩn. Plasmid hay một phần nhiễm sắc thể được truyền qua những

25
ống nhỏ (tubules) từ vi khuẩn cho có yếu tố giới tính F
+
sang vi
khuẩn nhận có yếu tố giới tính F
-
. Đây là hình thức thông thường
nhất qua đó sự kháng thuốc lan rộng trong vi khuẩn Gram (-) cũng
như trong một số cầu khuẩn Gram (+).
Chuyển vò (transposition): Là hình thức truyền một đoạn ngắn DNA
từ một plasmid này sang một plasmid khác hay từ một plasmid sang
một phần nhiễm sắc thể.
3.3. Sự kháng chéo:
Vi khuẩn kháng một loại thuốc nào đó cũng có thể kháng với những
thuốc khác có cùng cơ chế tác động. Mối liên hệ như vậy thường gặp ở những
thuốc có thành phần hóa học gần giống nhau (thí dụ, Polymyxin B – Colistin,
Erythromycin – Oleandomycin, Neomycin – Kanamycin), nhưng cũng có thể
thấy giữa những thuốc không liên hệ hóa học (Erythromycin – Lincomycin).
4. MỘT VÀI SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status