ỦY BAN NHÂN DÂN TPHCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TPHCM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP VĂN LANG
Đề tài
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng
Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
Thành phố Hồ Chí Minh
1/2009
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Chủ nhiệm đề tài: ThS.KTS. Lý Khánh Tâm Thảo ỦY BAN NHÂN DÂN TPHCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TPHCM
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng
Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
Thành phố Hồ Chí Minh
1/2009
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu)
Chủ nhiệm đề tài: ThS.KTS. Lý Khánh Tâm Thảo
Cơ quan quản lý:
đó, các quan điểm phát triển đô thị
được xây dựng đối với hai loại khu vực đặc thù ở TP: khu vực có điều kiện đất tốt và khu vực
có điều kiện đất xấu. Các hướng dẫn về quy hoạch, kiến trúc, năng lượng, nước, chất thải rắn
đối với mô hình KDCST cho TP.HCM được thảo luận chi tiết trong đề tài.
Để phát triển các KDCST tại TP.HCM, đề tài tập trung ở vi
ệc đề xuất các giải pháp về quản
lý nhà nước. Các giải pháp quản lý nhà nước được tiếp cận theo một số nhóm cơ chế chính
như quản lý quy hoạch xây dựng, quản lý dự án đầu tư, quản lý về tài chính… Để có cơ sở
xây dựng hoàn chỉnh các nhóm cơ chế này, đề tài đề xuất một số các hành động (hoặc chương
trình hành động) cơ bản cần thực hiện, như: hoàn chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật liên
quan KDCST; ban hành các chính sách ưu tiên về các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của dự án; tăng
cường nhận thức xã hội; tăng cường năng lực cán bộ quản lý; điều chỉnh cơ chế phối hợp; áp
dụng các hệ thống đánh giá (mức độ sinh thái) để định hướng thị trường; đẩy mạnh các cơ chế
hỗ trợ tài chính nh
ư thành lập “Quỹ phát triển Nhà ở sinh thái”; pháp lý hóa các tiêu chí và
hướng dẫn về phát triển đô thị bền vững vào các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị, đặc biệt là
đồ án quy hoạch chung TP.
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
ii
Summary of research
For more than 300 years of history, Ho Chi Minh City (HCMC) has been experiencing
periods of urbanization to become a megacity. However, in its development and expansion in
space and influence through recent decades, besides signs of a rapid growth, negative side-
effects of different aspects at different scales have also arisen. Within which, issues related to
urban living environment and impacts of residential development to the surroundings have
been most crucial issues: severe urban flooding, traffic congestion, overloading urban waste,
over-use of electricity for lighting and air-conditioning, etc.
Recent research and practices in developed countries in the world have made for an answer to
Tóm tắt nội dung nghiên cứu i
Summary of research ii
Mục lục iii
Danh mục các hình vi
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hộp ix
Các chữ viết tắt ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Thông tin chung 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4. Các khái niệm 2
5. Nội dung nghiên cứu 2
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Sản phẩm của đề tài 5
Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT KHU DÂN CƯ SINH THÁI 6
1.1 Phát triển bền vững và Đô thị sinh thái 6
1.1.1 Phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững 6
1.1.2 Từ sinh thái đô thị đến đô thị sinh thái 9
1.2 Khu dân cư sinh thái 15
1.2.1 Khái niệm khu dân cư sinh thái 15
1.2.2 Các nhóm giải pháp xây dựng khu dân cư sinh thái 16
1.2.3 Một số hệ thống chỉ số đánh giá khu dân cư sinh thái 18
1.2.4 Những trường hợp điển hình trên thế giới 19
Nhận xét chung 27
Kết luận 27
Chương 2. HIỆN TRẠNG MỘT SỐ KHU DÂN CƯ HIỆN HỮU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH 28
2.1 Phương pháp luận 28
2.6.3 Kết luận 76
Chương 3. MÔ HÌNH KHU DÂN CƯ SINH THÁI CHO TP.HCM 78
3.1 Cơ sở đề xuất mô hình khu dân cư sinh thái 78
3.1.1 Nghiên cứu điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng TP.HCM (Viện QHXD & Nikken Sekkei,
2007) 78
3.1.2 Cơ sở pháp lý 83
3.1.3 Nhận thức, mức độ sẵn lòng và lý do lựa chọn của người dân TP đối với các giải pháp trong phát
triển KDCST 90
3.2 Cách tiếp cận trong xây dựng mô hình khu dân cư sinh thái cho điều kiện TP.HCM 92
3.3 Đề xuất mô hình khu dân cư sinh thái cho điều kiện TP.HCM 93
3.3.1 Quy hoạch 93
3.3.2 Kiến trúc xây dựng công trình 104
3.2.3 Năng lượng 104
3.3.4 Nước 106
3.3.5 Chất thải rắn 116
3.4 Tiêu chí khu dân cư sinh thái tại TP.HCM 121
3.4.1 Quan điểm 121
3.4.2 Đề xuất sơ bộ về các tiêu chí đánh giá 122
3.4.3. Đề xuất về mức độ đánh giá tổng hợp 125
3.5 Đánh giá khả năng áp dụng các giải pháp xây dựng KDCST tại Khu trung tâm đô thị mới Thủ
Thiêm 127
Kết luận 134
Chương 4. CÁC GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỂ PHÁT TRIỂN KHU DÂN CƯ
SINH THÁI TẠI TP.HCM 135
4.1 Quan điểm 135
4.2 Khung pháp lý đối với dự án khu dân cư 135
4.3 Các nhóm cơ chế phát triển KDCST tại TP.HCM 138
(1) Cơ chế đảm bảo việc lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch hoàn chỉnh từ quy mô tổng thể đến chi tiết:138
Các quy định về quy hoạch sử dụng đất đơn vị ở x
Quy hoạch hệ thống các công trình dịch vụ đô thị y
Yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức hệ thống các công trình dịch vụ đô thị y
Các yêu cầu đối với quy hoạch hệ thống công trình dịch vụ đô thị: y
Quy hoạch cây xanh đô thị z
Hệ thống cây xanh đô thị: z
Các yêu cầu đối với quy hoạch hệ thống cây xanh trong đô thị aa
Quy định về diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị aa
Tài liệu tham khảo bb
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
vi
Danh mục các hình
Hình 1.1 Những khía cạnh của bền vững đô thị (Alberti, 1996) 7
Hình 1.2 Toàn cảnh khu Linked Hybrid 20
Hình 1.3 Không gian công cộng ở Linked Hybrid 21
Hình1.4 Toàn cảnh làng Hockerton (Anh, 2004) 22
Hình 1.5 Một ngôi nhà điển hình ở Hockerton (Anh, 2004) 23
Hình 1.6 Nhà dùng pin năng lượng mặt trời, và lắp kính trên mái 23
Hình 1.7 Tuốc-bin gió tạo năng lượng ở Anh, 2004 24
Hình 1.8 Hồ xử lý nước ở Hockerton 24
Hình 1.9 Millennium Green, Collingham (Anh, 2004) 25
Hình 2.1 Miệng cống xả nước tại KDC Trung Sơn 32
Hình 2.2 Giếng thu nước thải tại khu Trung Sơn 33
Hình 2.3 Miệng cống xả nước tại khu Hiệp Bình Chánh 35
Hình 2.4 Giếng thu nước mưa tại khu Hiệp Bình Chánh 35
Hình 2.5 Trái: Lề đường bị chiếm dụng làm hàng quán. Phải: Không có tuyến đi bộ, người dân tập thể dục
dưới lòng đường. 38
Hình 2.25a Tỷ lệ các loại nhà theo số liệu tổng hợp. 49
Hình 2.25b Tỷ lệ các loại nhà ở - so sánh giữa các nhóm khảo sát 49
Hình 2.26 Tỷ lệ số mặt tiếp giáp trực tiếp của các căn hộ với môi trường ngoài nhà – so sánh giữa các nhóm
khảo sát 50
Hình 2.27 Tỷ lệ các quy mô diện tích giếng trời – so sánh giữa các nhóm khảo sát 50
Hình 2.28 Tỷ lệ các phòng tiếp giáp trực tiếp với môi trường bên ngoài hay giếng trời – so sánh giữa các
nhóm khảo sát 51
Hình 2.29 Tỷ lệ các phòng được tổ chức thông thoáng tự nhiên & có sử dụng hệ thống điều hòa phụ trợ trong
các phòng tiếp giáp trực tiếp 52
Hình 2.30a Đánh giá của người dân về vi khí hậu các phòng thông thoáng tự nhiên – số liệu tổng hợp 53
Hình 2.30b Đánh giá của người dân về vi khí hậu các phòng thông thoáng tự nhiên – so sánh giữa các nhóm
khảo sát 53
Hình 2.31a Mức độ sử dụng hệ thống điều hòa phụ trợ – số liệu tổng hợp 53
Hình 2.31b Mức độ sử dụng hệ thống điều hòa phụ trợ – so sánh giữa các nhóm khảo sát 53
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
vii
Hình 2.32 Thứ tự ưu tiên các yếu tố quyết định để hộ dân không cần/muốn sử dụng hệ thống điều hòa – số
liệu tổng hợp 54
Hình 2.33 Vị trí ngôi nhà và giao thông tiếp cận đến các CTCC thiết yếu trong KDC 55
Hình 2.34 Các loại phương tiện giao thông người dân thường sử dụng để di chuyển ra ngoài khu ở 55
Hình 2.35 Thứ tự ưu tiên các loại phương tiện giao thông người dân muốn được hỗ trợ trong khu ở 55
Hình 2.36 Đánh giá của người dân về cảnh quan khu ở – so sánh giữa các nhóm khảo sát 56
Hình 2.37 Mức độ sử dụng KGCC – so sánh giữa các nhóm khảo sát 57
Hình 2.38 Mục đích sử dụng KGCC – số liệu tổng hợp 57
Hình 2.39 Mức độ giao tiếp cộng đồng của người dân – so sánh giữa 3 nhóm khảo sát 58
Hình 2.40 Đánh giá của người dân về tính cộng đồng trong KDC – so sánh giữa các nhóm khảo sát 58
Hình 2.62 Biểu đồ so sánh mức độ sẵn sàng cải tạo nhà để tiết kiệm điện ở các KDC 67
Hình 2.63 Biểu đồ tỷ lệ các hộ biết/dùng máy nước nóng mặt trời 68
Hình 2.64 Biểu đồ so sánh mức độ sẵn sàng sử dụng máy nước nóng mặt trời giữa các nhóm hộ gia đình 68
Hình 2.65 Những điều quan tâm khi quyết định sử dụng máy nước nóng mặt trời 68
Hình 2.66 Biểu đồ các lý do chưa muốn sử dụng máy nước nóng mặt trời 68
Hình 2.67 Biểu đồ tỷ lệ biết/sử dụng máy nước nóng mặt trời và hệ thống điện mặt trời 69
Hình 2.68 Biểu đồ so sánh mức độ sẵn sàng sử dụng máy nước nóng mặt trời và hệ thống điện mặt trời 69
Hình 2.69 So sánh các yếu tố quan tâm khi quyết định sử dụng máy nước nóng mặt trời và hệ thống điện mặt
trời 69
Hình 2.70 So sánh các l y do chưa muốn sử dụng máy nước nóng mặt trời và hệ thống điện mặt trời 69
Hình 2.71 Các khó khăn trong tiết kiệm điện ở các KDC 70
Hình 2.72 Biểu đồ so sánh các yếu tố cần để sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả 70
Hình 2.73 Biểu đồ thành phần rác sinh hoạt KDC Trung Sơn. 72
Hình 2.74 Biểu đồ thành phần rác sinh hoạt KDC Hiệp Bình Chánh 72
Hình 2. 75 Công cụ chứa rác của các hộ gia đình 73
Hình 2.76 Vị trí đặt các thùng rác 73
Hình 2.77 Rác đựng trong túi nilon đặt trước nhà 73
Hình 2.78 Thùng rác đặt tại các góc đường và dọc đường KDC Trung Sơn 74
Hình 2.79 Xe chở rác của KDC Trung Sơn 74
Hình 2.80 Tần suất thu gom rác sinh hoạt tại các khu dân cư 75
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
viii
Hình 2.81 Thói quen tách rác đem bán phế liệu của các hộ gia đình 76
Hình 2.82 Mức độ sử dụng chất hữu cơ để bón cho cây trồng 76
Hình 2.83 Những túi rác đặt trên các con đường và vứt bừa bãi do không có thùng rác công cộng 77
Hình 3.1 Điều kiện đất đai TP.HCM (Viện QHXD & Nikken Sekkei, 2007). 79
Hình 3.2 Áp dụng quan điểm Vành đai sinh thái ở Khu đô thị Tây Bắc, Củ Chi (Viện QHXD & Nikken
Sekkei, 2007). 81
Hình 3.23 Hệ thống thứ tự ưu tiên trong quản lý CTR 117
Hình 3.24 Các nhân tố của hệ thống quản lý CTR tích hợp 117
Hình 3.25a Hệ thống ngầm Iceberg – Cấu tạo hệ thống 119
Hình 3.25b Hệ thống ngầm Iceberg – Các loại họng nhận rác 119
Hình 3.25b Hệ thống ngầm Iceberg – Quá trình lấy rác và các kiểu lấy rác 120
Hình 3.25c Hệ thống ngầm Iceberg – Thiết bị báo rác đầy 120
Hình 3.26 Một số kiểu thùng chứa nhiều ngăn phù hợp với phân loại chất thải rắn tại các hộ gia đình 121
Hình 3.27 Sơ đồ hình nón mô tả các mức độ KDC tiến đến mục tiêu “sinh thái”. 127
Hình PL1.1 Bản đồ Quy hoạch Tổng mặt bằng TL 1/2000. q
Hình PL1.2 Quy hoạch Sử dụng đất 1/5000 r
Hình PL1.3 Quy hoạch giao thông s
Hình PL1.4 Quy hoạch GTCC s
Hình PL1.5 Quy hoạch Cảnh quan t
Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Mật độ xe tại khu Trung Sơn 30
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát chất lượng không khí xung quanh khu dân cư Hiệp Bình Chánh 30
Bảng 2.3 Mật độ xe tại khu Hiệp Bình Chánh 31
Bảng 2.4 Chất lượng nước thải sinh hoạt khu dân cư Trung Sơn và Tp.HCM 33
Bảng 2.5 Thành phần nước thải sinh hoạt của khu Hiệp Bình Chánh so với Tp.HCM 36
Bảng 4.1 Ví dụ một số sản phẩm bồn cầu tiết kiệm nước nhãn hiệu Inax 114
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
ix
Danh mục các hộp
Hộp 1.2 Mười nguyên tắc phát triển các thành phố sinh thái theo tổ chức Sinh thái Đô thị 15
Hộp 3.1 Tính toán quy mô hồ điều tiết ngập úng 97
Hộp 3.2 Bể tự hoại cải tiến 111
Hộp 4.1 Nội dung dự án phát triển nhà ở 137
Kinh phí đã cấp: 197.000.000 đồng (một trăm chín mươi bảy triệu đồng), theo Thông báo số
272/TB-SKHCN ngày 08/12/2005, số 140/TB-SKHCN ngày 16/10/2006, và số 10/TB-
SKHCN ngày 20/01/2009 của Sở Khoa học và Công nghệ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại
TP.HCM, gồm các mục tiêu cụ thể sau:
- Rà soát các điều kiện hiện có của TP.HCM (và cụ thể ở Thủ Thiêm) về cơ sở pháp lý, các
sáng kiến và thị trường, mức độ sẵn lòng của người dân… để làm cơ sở cho việc xây dựng
mô hình KDCST tại TP.HCM;
- Đề xuất một số mô hình KDCST phù hợp với điều kiện TP.HCM;
- Bước đầu xác định các cơ chế cần thiết để phát triển mô hình Khu dân cư sinh thái tại
Tp.HCM.
Ghi chú: Mục tiêu điều chỉnh đã được Hội đồng nghiệm thu thông qua theo hướng cụ thể hóa
hơn so với Đề cương chi tiết đã duyệt để nâng cao tính thực tế và phù hợp của đề tài nghiên
cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khu dân cư sinh thái (giới hạn khái niệm “khu dân cư”
được trình bày cụ thể ở nội dung 4 kế tiếp).
Phạm vi nghiên cứu:
- Địa bàn Tp.HCM: với các đặc thù về tự nhiên, kinh tế xã hội, pháp lý quy hoạch chung TP
và các sáng kiến trong địa bàn TP.
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
2
- Nghiên cứu tổng quát theo các khía cạnh của khái niệm KDCST, và tập trung đề xuất các cơ
chế cần thiết về quản lý Nhà nước để phát triển KDCST tại TP.
4. Các khái niệm
Các từ ngữ trong báo cáo được sử dụng theo định nghĩa và giới hạn trong Quy chuẩn Kỹ thuật
Quốc gia về Quy hoạch xây dựng (QCXDVN 01:2008/BXD) được Bộ Xây dựng ban hành tại
có một số công trình, phục vụ hỗ trợ qua lại giữa các khu dân cư lân cận. Theo định nghĩa
này, quy mô dân số một khu dân cư trong khoảng 4.000-20.000 người.
5. Nội dung nghiên cứu
(1) Tổng quan những nghiên cứu, giải pháp và hiện trạng triển khai KDCST trên thế
giới và tại Việt Nam
- Tổng quan các lý thuyết về khái niệm KDCST, các hướng dẫn về quy trình xây dựng,
lựa chọn mô hình, tiêu chí đánh giá KDCST trên thế giới;
1
Về mặt hành chính, “khu ở” có thể có quy mô tương đương cấp quận (Theo dự thảo QCXD VN, thuật ngữ
“khu thành phố” có quy mô tương đương cấp quận nhưng chỉ áp dụng cho các đô thị loại I và loại đặc biệt).
2
Về mặt hành chính, “đơn vị ở” có quy mô tương đương cấp phường xã.
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
3
- Tìm hiểu các nhóm giải pháp chính trong xây dựng KDCST, tập trung ở các mảng quy
hoạch, kiến trúc, quản lý nước, quản lý năng lượng, quản lý chất thải rắn;
- Khảo sát, đánh giá sơ bộ thị trường trong nước về những giải pháp xây dựng-môi
trường theo hướng sinh thái.
- Nhận định các điều kiện để có thể áp dụng mô hình KDCST, về tự nhiên, quy hoạch,
kỹ thuật-quản lý và chính sách-xã hội;
- Tổng quan một số kinh nghiệm áp dụng mô hình KDCST ở một số trường hợp trên thế
giới;
- Tổng quan và đánh giá các đề tài nghiên cứu trong nước liên quan đến Thiết kế sinh
thái cho KDC;
(2) Nghiên cứu đánh giá hiện trạng một số khu dân cư tại TP.HCM
- Khảo sát một số KDC hiện hữu thuộc dự án quy hoạch (2 khu) và một số nhà ở hiện
hữu rải rác trong thành phố;
(5) Đề xuất các giải pháp về quản lý Nhà nước để phát triển KDCST tại TP.HCM
- Rà soát các cơ sở pháp lý về phát triển dự án Nhà ở;
- Đề xuất các cơ chế cần có về QLNN để phát triển KDCST tại TP.HCM;
- Đề xuất các hành động có để hình thành các cơ chế về QLNN để phát triển KDCST tại
TP.HCM.
Ghi chú: Nội dung nghiên cứu có điều chỉnh (so với Đề cương chi tiết đã duyệt) theo mục tiêu
nghiên cứu của đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nhận định ban đầu cho thấy một số giải pháp mang tính sinh thái có thể áp dụng cho khu dân
cư hiện hữu, chủ yếu thuộc nhóm thay đổi nhận thức-hành động trong quản lý và vận hành
các cấp từ người dân đến nhà quản lý-đầu tư hay những nâng cấp không quá lớn về kỹ thuật-
công nghệ. Chẳng hạn như, phân loại rác tại nguồn; thực hành thói quen sử dụng điện-nước
hợp lý; thay đổi thiết bị theo hướng tiết kiệm năng lượng; sử dụng vật liệu ít phát thải, v.v.
Điều đó có nghĩa là KDCST có thể được phát triển từ KDC hiện hữu. Tuy nhiên, có thể thấy
những giải pháp trên có thể góp phần giảm những tác động tiêu cực đến môi trường xuống
một mức độ nhất định và chỉ giải quyết được một số vấn đề của khu dân cư.
Trong khi đó, một số giải pháp cấp tiến khác về quản lý nước mưa, xử lý nước thải tại chỗ, sử
dụng năng lượng mặt trời (thụ động hay tích cực), v.v. đòi hỏi sự can thiệp ngay từ đầu vào
tiến trình quy hoạch-thiết kế khu dân cư hay đầu tư lớn và đồng bộ về mặt kỹ thuật-công
nghệ. Điều này lại không dễ thực hiện đối với khu dân cư hiện hữu và do đó tỏ ra thích hợp
trong việc xây dựng khu dân cư mới hoàn toàn.
Như vậy để có được bước đầu đánh giá toàn diện các giải pháp, đề tài tập trung nghiên cứu
chủ yếu khả năng xây dựng KDCST hoàn toàn mới, có tính đến hướng cải tạo khu dân cư
hiện hữu.
Như vậy, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong các bước nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp tổng quan tài liệu: tổng quan các lý thuyết cơ bản và chuyên sâu về Khu
dân cư sinh thái
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: nhận định đánh giá một số trường hợp
điển hình KDCST đã được xây dựng trên thế giới, ưu tiên các KDCST ở khu vực có điều
kiện gần giống TP.HCM.
(3) Báo cáo chuyên đề: Các nhóm giải pháp thiết kế sinh thái
Báo cáo chính được trình bày thành 5 chương:
Phần mở đầu
Chương 1: Tổng quan lý thuyết khu dân cư sinh thái
Chương 2: Hiện trạng một số khu dân cư hiện hữu tại TP.HCM
Chương 3: Mô hình khu dân cư sinh thái cho TP.HCM
Chương 4: Các giải pháp về quản lý Nhà nước để phát triển khu dân cư sinh thái tại
TP.HCM
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
6
Chương 1.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT KHU DÂN CƯ SINH THÁI
Trong chương này, việc nhìn nhận thực trạng một số vấn đề hiện nay của môi trường
đô thị như hậu quả của quá trình đô thị hóa sẽ giúp thấy rõ tính bức thiết của việc phát triển đô
thị bền vững. Khái niệm phát triển bền vững khi đó được xác định cụ thể trong bối cảnh đô thị
thông qua việc nhìn lại lịch sử phát triển những quan niệm từ thuyết Sinh thái đô thị đến khái
niệm Đô thị sinh thái. Bên cạnh đó, chương 1 cũng tập trung mô tả các lý thuyết liên quan đến
khu dân cư sinh thái như các tiêu chí và giải pháp xây dựng khu dân cư sinh thái.
1.1 Phát triển bền vững và Đô thị sinh thái
1.1.1 Phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững
Phát triển bền vững
Định nghĩa mang tính đại diện nhất có lẽ là định nghĩa từ báo cáo Brundtland: Thế giới Chung
của Chúng ta (WCED, 1987). Trong đó, phát triển bền vững được định nghĩa là phát triển đáp
ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của thế
hệ tương lai.
Ban đầu, khái niệm phát triển bền vững được gắn kết với phát triển môi trường bền vững để
đáp lại sự suy thoái và phá hủy các hệ sinh thái và các giống loài – một hệ quả của sự tăng
& Roseland, 1991; Roseland, 1992). Thành phố bền vững có thể hỗ trợ một cách hiệu quả sự
phát triển kinh tế và xã hội trên cơ sở tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên ít nhất và gìn giữ môi
trường trong sạch nhất (WHO, 1992 – trích dẫn bởi Zhang, 2002). Thảo (2004) cho rằng tính
bền vững ở đây có liên quan đến lịch sử và cấu trúc đô thị, cấu trúc xã hội và môi trường.
Trong bối cảnh đó, một số định nghĩa khác nhau được tóm tắt trong Hộp 1.1.
Những khía cạnh của bền vững đô thị
Alberti (1996) đã áp dụng cách tiếp cận sinh thái đô thị đề xuất ba khía cạnh của bền vững đô
thị: (1) các kiểu thức đô thị, (2) các dòng chảy đô thị và (3) chất lượng đô thị. Ba khía cạnh đó
được thể hiện trên Hình 1.1.
Hình 1.1 Những khía cạnh của bền vững đô thị (Alberti, 1996)
Kiểu thức đô thị Dòng chảy đô thị Chất lượng đô thị
Cộng đồng
Dân số
Kinh tế
Xã hội
Cấu trúc
Hình thái
Mật độ
Tính phân hóa
Sự nối kết
Chức năng
Nhà ở
Công nghiệp
Dịch vụ
Giao thông
Thông tin Tài nguyên thiên
Trong các hệ thống đô thị, sự đa dạng các nhân tố – về phương diện các nền văn hóa cộng
đồng và hành vi cá nhân – cũng như sự đa dạng của cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo – về
phương diện hình thái và chức năng – có ý nghĩa sống còn đối với khả năng thích nghi và khả
năng phục hồi của các hệ thống đối với sự thay đổi liên tục.
Hơn nữa, khả năng tiếp cận (accessibility) trong các hệ thống đô thị rất quan trọng đối với
tính bền vững (Thảo, 2004). Ngày càng có thể thấy rằng khi người dân thiếu khả năng tiếp
cận đối với các nguồn tài nguyên và dịch vụ quan trọng thì họ càng gây nên tác động lớn hơn
đối với môi trường địa phương và toàn cầu. Yếu tố này (khả năng tiếp cận) có thể thấy rõ
trong rất nhiều trường hợp, trong khi một số yếu tố khác thì khó được nhận thấy hơn. Ví dụ
như tính nén (compactness) – cho rằng mật độ cao làm giảm sự tiêu thụ nhiên liệu. Câu trả lời
là có, nhưng nó phụ thuộc vào một loạt các yếu tố khác nữa, trong đó có tính truy cập. Một
khu dân cư mật độ cao thực ra còn làm tăng mức tiêu thụ nhiên liệu nếu nó ở xa khu làm việc
và dịch vụ.
Vì vậy, Thảo (2004) cho rằng sự bền vững đô thị chỉ có thể đạt được nếu đạt được cả những
mục tiêu khác như đảm bảo các vấn đề về sức khỏe và an toàn cũng như khả năng tiếp cận
đến các nguồn tài nguyên và dịch vụ theo nhu cầu. Một tiêu chí cuối cùng xác định một thành
phố bề
n vững là khả năng học hỏi và chỉnh sửa cách ứng xử của nó – cả ở mức độ cộng đồng
và cá nhân – tương ứng với các thay đổi môi trường.
Alberti và cộng sự (1994) kết luận bảy tiêu chí của chất lượng đô thị như sau: (1) chất lượng
môi trường, (2) sức khỏe con người, (3) hiệu suất, (4) tính công bằng, (5) tính đa dạng và linh
hoạt, (6) khả năng tiếp cận và ki
ểm soát, và (7) khả năng học hỏi-quan sát (một số tiêu chí đã
được giải thích phía trên).
Chất lượng của môi trường đô thị phụ thuộc vào các yếu tố vật lý và những điều kiện kinh tế-
xã hội cũng như văn hóa và những giá trị của những cộng đồng đô thị. Các chuyên gia đô thị
trong ngành quy hoạch và thiết kế đô thị thường đề cập đến hình thái đô thị bền vững như yếu
tố chính trong tính bền vững của một vùng đô thị, mặc dù vấn đề bền vững đô thị được nhận
định là rất phức hợp như sơ đồ trên Hình 1.1 ở trên. Tô Kiên (2003) kết luật từ cuốn Đạt đến
Hình thái Đô thị Bền vững (Williams và cộng sự, 2000) những thành tố có ảnh hưởng đến tính
Sinh thái Đô thị (Urban Ecology) là một ngành nghiên cứu về đô thị đã có từ rất lâu. Tài liệu
nghiên cứu cho thấy từ những năm 1920, Robert E. Park và Ernest W. Burgess phát triển
thuyết sinh thái đô thị, đề xuất rằng những đô thị cũng vận động và phát triển dưới những lực
tác động tương tự như quá trình tiến hóa Darwin của những hệ sinh thái tự nhiên. Tuy nhiên,
học thuyết này ban đầu chủ yếu nghiên cứu về mặt xã hội hơn là về mặt tự nhiên của đô thị.
Theo Roseland, năm 1975, Richard Register cùng một số đồng nghiệp thành lập tổ chức Sinh
thái Đô thị (Urban Ecology) ở Berkeley, California, một tổ chức phi lợi nhuận nhằm “tái xây
dựng đô thị trong sự cân bằng với tự nhiên.” Từ đó, tổ chức này đã tham gia cùng với các bên
khác ở Berkeley xây dựng một khu “Đường Thấp” (Slow Street), nhằm trả lại một phần thung
lũng hẹp vốn được canh tác hơn tám mươi năm trước – trồng và thu hoạch cây ăn trái trên
đường phố, thiết kế và xây dựng các nhà “xanh” sử dụng năng lượng mặt trời, thông qua các
sắc lệnh về năng lượng, thiết lập một tuyến xe buýt, khuyến khích xe đạp và đi bộ thay cho xe
cơ giới, trì hoăn tiến trình xây dựng một đường cao tốc xuyên đô thị, và tổ chức các hội thảo
chuyên đề (Register 1994).
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
10
Sau đó, Sinh thái Đô thị bắt đầu phát triển thực sự khi Register xuất bản Thành phố Sinh thái
Berkeley (Eco-city Berkeley – 1987), một cuốn sách mô tả làm cách nào Berkeley có thể được
tái xây dựng trong vài thập kỷ tới
3
, và Nhà sinh thái Đô thị, tạp chí chuyên đề mới của tổ chức
này. Trào lưu này bành trướng mạnh khi Sinh thái Đô thị tổ chức Hội thảo quốc tế Lần thứ
nhất về Thành phố Sinh thái tại Berkeley vào năm 1990. Hội thảo này quy tụ hơn 700 chuyên
gia từ khắp nơi trên thế giới nhằm thảo luận các vấn đề đô thị và đưa ra đề xuất hướng tới việc
định hình các thành phố theo những nguyên tắc sinh thái. Những thành tựu kế tiếp là Hội thảo
quốc tế Lần thứ hai về Thành phố Sinh thái (tổ chức tại Adelaide, Australia, 1992) và Hội
thảo quốc tế Lần thứ ba về Thành phố Sinh thái (tổ chức tại Yoff, Senegal, 1996).
Không lâu trước Hội thảo quốc tế Lần thứ hai về Thành phố Sinh thái, David Engwicht, một
cho hóa học; và 7) việc bảo vệ sinh thái và các loài là vấn đề vùng, chứ không chỉ là vấn đề đô thị.
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
11
- Từ quan điểm xã hội và dân số thì hệ sinh thái đô thị sản sinh ra một lượng rất lớn về
thông tin, kiến thức, sự sáng tạo, nền văn hóa, công nghệ, và công nghiệp v.v… tất cả
các sản phẩm này sẽ truyền sang, tác động đến các hệ sinh thái khác.
- Từ quan điểm sinh học thì hệ sinh thái đô thị là hệ sinh thái không tự sinh, nên nó phụ
thuộc rất nhiều vào các vùng xung quanh. Hệ sinh thái đô thị tiêu thụ năng lượng và
vật chất rất lớn, phục vụ cho mọi sinh hoạt của đô thị như: đi lại, cấp thoát nước, ánh
sáng, ăn ở, sinh hoạt văn hóa v.v… làm cạn kiệt năng lượng và tài nguyên thiên nhiên.
- Sự tiêu thụ năng lượng và vật chất rất lớn mà dẫn đến hậu quả là hệ sinh thái đô thị
sản sinh ra rất nhiều loại chất thải, các chất thải này sẽ gây ra ô nhiễm môi trường
trong đô thị, cũng như vùng xung quanh và khí quyển toàn cầu, tác động xấu đối với
sức khỏe cộng động, đến thiên nhiên và các hệ sinh thái khác.
- Sự phát triển của hệ sinh thái đô thị liên quan đến sự biến đổi sâu xa của sự chiếm đất
và sử dụng đất. Các sự biến đổi này dẫn đến sự xung đột kinh tế và xã hội, nếu như
không quan tâm đầy đủ đến các tác động của phát triển đô thị đối với môi trường và
kinh tế–xã hội, đặc biệt là đối với hệ sinh thái nông thôn và các vùng bảo tồn thiên
nhiên.
- Từ quan điểm cả về môi trường và kinh tế–xã hội, các hệ sinh thái đô thị, đặc biệt là
các đô thị lớn, siêu đô thị, với sự phụ thuộc và nhu cầu đòi hỏi của nó, hệ sinh thái đô
thị trở thành không ổn định, mất cân bằng và dễ bị tổn thương.
Nét nổi bật của hệ sinh thái đô thị là những vấn đề liên quan đến con người, bao gồm các khía
cạnh dân số, văn hóa, xã hội, tâm lý, kinh tế, chính trị-xã hội v.v…Các khía cạnh này luôn
biến đổi, muôn màu, muôn vẻ, rất khó xác định, nhất là rất khó đánh giá một cách định lượng.
Nếu chúng ta xem xét các khía cạnh này m
ột cách hời hợt, như là các khía cạnh về chất lượng
môi trường, chất lượng và tập quán sống của con người v.v…, thì chúng ta dễ dàng mắc phải
quá trình tự nhiên (có khả năng tái tạo) thay thế cho các sản phẩm phải sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo thì vòng tuần hoàn sinh thái trong đô thị
cũng sẽ mang tính chất tương tự với hệ sinh thái tự nhiên.
Đô thị sinh thái
Ý tưởng về một đô thị sinh thái đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX dưới tên gọi Thành phố vườn
(Garden-City), là một phương án quy hoạch đô thị của Ebenzener Howard nhằm giải quyết
các vấn đề môi sinh của đô thị ở thời điểm khởi đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa ở quy mô lớn, mà như đã trình bày là
nguyên nhân phát sinh vô vàn các vấn đề về môi trường tự nhiên và xã hội, đòi hỏi phải các
phương án hiện đại hóa để giải quyết các vấn đề đó khi nhu cầu đòi hỏi và điều kiện cho phép.
Và quy hoạch đô thị sinh thái là một giải pháp phù hợp.
Một đô thị sinh thái là một đô th
ị mà trong quá trình tồn tại và phát triển của nó không làm
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái môi trường, không gây tác động xấu đến
sức khỏe cộng đồng và tạo điều kiện thuận tiện cho mọi người sống, sinh hoạt và làm việc
trong đô thị (Đăng, 2000).
Một cách ngắn gọn, “đô thị sinh thái” là đô thị đạt được những tiêu chí về chất lượng môi
trường sống sinh thái và “quy hoạch đô thị sinh thái” là phươ
ng pháp quy hoạch đô thị nhằm
đạt được các tiêu chí của chất lượng cuộc sống cao, hướng tới sự phát triển bền vững của đô
thị đó (Quốc, 2006). Quy hoạch đô thị sinh thái là giải pháp quy hoạch có tính định hướng,
được xem là sự hợp nhất của các chiến lược trong quản lý tài nguyên, phát triển kinh tế, giao
thông, sử dụng đất, và quản lý công nghiệp thông qua tiếp thu những kiến thức m
ới nhất và
kinh nghiệm từ các nước trên thế giới.
- Các chiến lược quản lý nước, năng lượng, tài nguyên luôn hướng tới việc sử dụng các
nguồn tài nguyên có thể tái tạo với mức hiệu quả cao và theo hướng bền vững cho thế
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
- Thay đổi cách sống đô thị và cách sản xuất để làm sao cho các dòng vật chất, nguyên
liệu, năng lượng diễn ra trong chu trình khép kín;
- Hoạt động của đô thị và con người trong đô thị thải ra ít chất thải nhất, các chất thải
được quay vòng sử dụng, tái sử dụng, được thu gom và xử lý hoàn toàn đúng kỹ thuật.
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
14
- Cơ sở hạ tầng tốt nhất, đáp ứng yêu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường, như là mạng
lưới giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước Quy hoạch sử dụng đất đa
dạng và phân bố hợp lý;
- Nhà cửa đô thị được thiết kế và xây dựng với mô hình gắn bó, hài hòa với môi trường
tự nhiên, tiết kiệm vật liệu, tiết kiệm năng lượng không tái tạo (từ nhiên liệu hóa
thạch), sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió tự nhiên, triệt để tận dụng giải
pháp xây dựng kiến trúc và giải pháp tự nhiên để đảm bảo điều kiện vi khí hậu ở bên
trong và bên ngoài công trình;
- Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trong đô thị, đặc biệt là sinh thái đô thị.
Tổ chức Sinh thái đô thị Úc đưa ra các tiêu chí cụ thể hơn về đô thị sinh thái, có thể được khái
quát trên các phương diện sau: kiến trúc công trình, sự đa dạng sinh học, giao thông, công
nghiệp và kinh tế đô thị (Quốc, 2006).
- Về kiến trúc, các công trình trong đô thị sinh thái phải đảm bảo khai thác tối đa các
nguồn mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng nhu cầu nước
của người sử dụng. Thông thường là nhà cao tầng để dành mặt đất cho không gian
xanh.
- Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang cư trú tự nhiên,
nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên để nghỉ ngơi
giải trí.
- Giao thông và vận tải cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng hóa chủ yếu
nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận. Phần lớn dân cư đô thị sẽ sống và
làm việc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp để giảm thiểu nhu cầu di chuyển cơ