Tiểu luận môn tài chính tiền tệ chủ đề THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM PHÁI SINH - Pdf 25

BÁO CÁO
THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM PHÁI SINH
THÁNG 11/2012
Giáo viên hướng dẫn: Hồ Viết Tiến
Nhóm thực hiện: Nhóm 5, Lớp Ngân hàng Đêm 4 K21.
1. Nguyễn Ngọc Ngân Hà
2. Phạm Thị Ngọc Phương
3. Phạm Thị Ngọc Trân
4. Lê Phượng Vân

Báo cáo này xem xét sự phát triển tại các thị trường phái sinh trên toàn cầu. Ngành công
nghiệp này đã trải qua cải cách trong những năm gần đây, nhưng với kế hoạch điều tiết sau
khủng hoảng vẫn chưa được thực hiện trong những năm gần đây, có những lo ngại về việc
đạt được một sự cân bằng giữa tạo ra thị trường an toàn và chi phí cho việc tham gia vào
các thị trường này. Một sự cân bằng như vậy sẽ đảm bảo rằng các thị trường tiếp tục hoạt
động trên cơ sở hiệu quả về mặt kinh tế, đặc biệt liên quan đến việc quản lý các rủi ro kinh
doanh.
Xu hướng của thị trường phái sinh trên toàn thế giới đã diễn biến bất thường từ năm 2008:
giao thương được phục hồi trong năm 2010 và 2011 nhưng có khả năng sẽ giảm trong năm
2012. Khung biến động thu nhập ròng của ngân hàng Anh từ sản phẩm phái sinh đóng góp
tỷ lệ lớn vào thặng dư thương mại của các dịch vụ tài chính Anh.

Thị trường phái sinh T11/2012 1/15
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH GIAO DỊCH
Thị trường toàn cầu: Sản phẩm phái sinh cung cấp cho người sử dụng cả hai loại dịch vụ
tài chính và phi tài chính với các công cụ nhằm quản lý các rủi ro kinh doanh. Tương tự các
dịch vụ tài chính khác, hệ thống sản phẩm phái sinh đã trải qua cải cách sau cuộc khủng
hoảng tài chính năm 2008. Các nhà cung ứng và người sử dụng liên tục quan tâm đến các
công cụ tài chính phái sinh từ năm 2008 cùng với kế hoạch thay đổi các quy định trong thời
kỳ sau khủng hoảng vẫn còn được thực hiện, đã đạt được một sự cân bằng như đã nêu trong
phần giới thiệu ở trên.

năm 2011, đạt 2.160 nghìn tỷ USD, phục hồi từ mức thấp 1.662 nghìn tỷ USD trong năm
2009. Sự sụt giảm giá trị giao dịch hàng quý khoảng 425 nghìn tỷ USD trong 3 quý, từ Q4
2011 đến Q2 2012, nếu duy trì, kết quả sẽ giảm 20% trong giá trị giao dịch trong cả năm
2012 (Chart 3). Dựa trên giá trị giao dịch danh nghĩa, các sàn giao dịch lớn nhất trên thế
giới là CME Group, NYSE Liffe và Eurex.
London có vai trò quan trọng trên thị trường niêm yết sản phẩm phái sinh toàn cầu. Có
1.603 triệu hợp đồng được giao dịch trên thị trường phái sinh tại Anh trong năm 2011 hầu
như tương đương mức 1.604 triệu trong năm 2010. Khối lượng giao dịch trên các sàn giao
dịch Vương quốc Anh là xuống đến 749m trong nửa đầu năm 2012. Trong khi khối lượng
giao dịch tại NYSE Liffe nhiều khả năng sẽ giảm trong năm nay, cả hai sàn ICE Futures
Europe và London Metal Exchange có thể đạt số lượng hợp đồng giao dịch cao hơn trong
năm 2012 nếu tình hình giao dịch trong quý cuối duy trì mức khả quan như trong chín tháng
đầu năm nay.
NYSE Liffe dẫn đầu trong giao dịch các hợp đồng ngắn hạn lãi suất đồng Euro (STIRs),
chiếm 97% doanh thu sàn NYSE Liffe. Hơn 90% kinh doanh quốc tế trong hợp đồng tương
lai kim loại màu được giao dịch tại Sàn giao dịch kim loại Luân Đôn. ICE Futures Europe
dẫn đầu trong giao dịch điện tử toàn cầu các sản phẩm năng lượng. Sàn European Climate
Exchange, một phần của ICE Futures Europe, là thị trường trao đổi carbon hàng đầu ở châu
Âu đối với các hợp đồng tương lai và quyền chọn. CME Group, đã hoạt động tại London
trong hơn 30 năm, đang tìm cách củng cố vị thế của mình sau khi chi nhánh FSA thiết lập
một trụ sở tại thị trường phái sinh London.
Doanh thu ròng của các ngân hàng Anh từ giao dịch các sản phẩm phái sinh với khách
hàng ở nước ngoài đạt 10 tỷ bảng trong năm 2011, chiếm hơn 1/5 doanh số giao dịch dịch
vụ tài chính của Vương quốc Anh với hơn 46.7 tỷ bảng trong năm này.
CẢI CÁCH TOÀN CẤU QUY ĐỊNH CỦA THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM PHÁI SINH
Cuộc khủng hoảng tài chính đã tạo ra một sự thay đổi chuyên sâu các quy định và tiêu
chuẩn an toàn nhằm giảm thiểu nguy cơ thất bại của các công ty, nâng cao yêu cầu về vốn,
tăng cường quản trị, và giúp cho thị trường có thể đứng vững trước những cú sốc. Hệ thống
phái sinh đã công nhận các tiêu chuẩn mang tính toàn cầu trong quy tắc và từ đó hỗ trợ các
cải cách nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường và giảm rủi ro hệ thống. Tuy nhiên, hệ

Về quy mô thị trường: Các chỉ số của hoạt động trên thị trường OTC đã chỉ ra các xu
hướng khác nhau trong những năm gần đây:
● Giá trị danh nghĩa: Như đã đề cập trong phần tổng quan, tổng giá trị danh nghĩa của hợp
đồng phái sinh OTC đang lưu hành giảm 8% từ 707 nghìn tỷ USD vào tháng 6/2011 xuống
còn 648 nghìn tỷ USD vào tháng 12/2011, mặc dù trước đó có bước nhảy vọt trong nửa đầu
năm 2011 từ 601 nghìn tỷ USD vào tháng 12/2010 (Chart 1). Vào cuối năm 2011, giá trị
danh nghĩa vẫn duy trì mức 672 nghìn tỷ đô la trong năm 2008.
Thị trường phái sinh T11/2012 5/15
● Giá trị rủi ro các hợp đồng trên thị trường:
Tổng giá trị rủi ro của thị trường phái sinh
OTC đã giảm 45% xuống còn 19,5 nghìn tỷ
USD vào giữa năm 2011 từ mức cao nhất 35
nghìn tỷ USD vào cuối năm 2008, trước khi
tăng 40% lên 27,3 nghìn tỷ USD vào trong
nửa cuối năm 2011 (Chart 4).
● Giá trị rủi ro sau khi bù trừ giữa các bên:
giá trị rủi ro sau bù trừ có xu hướng chuyển
dịch theo tổng giá trị rủi ro thị trường. Rủi ro
sau bù trừ giảm 41% từ mức cao nhất 5,0
nghìn tỷ USD vào cuối năm 2008 xuống còn
3,0 nghìn tỷ USD trong tháng 6/2011 trước
khi tăng 31% lên mức 3,9 nghìn tỷ USD vào
cuối năm 2011 (Chart 4).
Theo các loại công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường: Phái sinh lãi suất chiếm đa số
hoạt động giao dịch trên thị trường phái sinh OTC dựa trên giá trị danh nghĩa. Tỷ trọng giá
trị danh nghĩa của phái sinh lãi suất đã tăng từ 72% vào cuối năm 2008 đến 78% vào cuối
năm 2011 (Table 2). Tỷ trọng của sản phẩm phái sinh dựa trên các hợp đồng ngoại hối đã
nhích lên khoảng từ 8% đến 10% so với cùng kỳ. Tỷ trọng của hợp đồng hoán đổi rủi ro tín
dụng (CDS) giảm hơn một phần ba từ 7,0% xuống còn 4,4% trong giai đoạn từ 2008 đến
2011. Tỷ trọng của các sản phẩm phái sinh gắn với vốn tương đối ổn định ở mức khoảng

trường toàn cầu là sự gia tăng hơn nữa tỷ trọng của các tổ chức phi tài chính từ 5% trong
năm 2001 lên 9% trong năm 2007 và 11% trong năm 2010 (Chart 5). Các định chế tài chính
chính đại diện cho 13 nền kinh tế lớn có sự sụt giảm tỷ trọng từ 47% xuống còn 44% trong
giai đoạn 2007-2010, trong khi các tổ chức tài chính khác ổn định hơn, chiếm khoảng 45%.
Trong khi các tổ chức phi tài chính càng ngày càng tăng trưởng nổi bật ở Anh, sự tăng
trưởng trong tỷ trọng của các định chế tài chính lớn của Anh chiếm từ 50% đến 54% của giá
trị danh nghĩa của Anh có xu hướng ngược với thị trường toàn cầu. Căn cứ vào đó cho thấy
Vương quốc Anh chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị giao dịch, cho thấy Anh có thể chiếm hơn
Thị trường phái sinh T11/2012 8/15
một nửa khối lượng giao dịch toàn cầu giữa các nhà định chế tài chính lớn, phản ánh bản
chất toàn cầu của thị trường tài chính ở London.
III. Các sản phẩm khác trên thị trường phái sinh OTC:
Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS):
Trong CDS, một bên cam kết thanh toán cho
một bên khác một khoản phí cố định trong trao
đổi để đảm bảo rằng nếu một trái phiếu khi vỡ
nợ sẽ được mua lại. Một sự kết hợp mạng lưới,
tập trung thanh toán bù trừ và giảm sút góp
phần làm giảm 48% trong giá trị danh nghĩa
các hợp đồng CDS đang lưu hành trên toàn thế
giới từ 58 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2007
xuống còn 30,3 nghìn tỷ USD vào cuối tháng
6/2010. Xu hướng giảm sút trong giá trị danh
nghĩa của CDS vẫn tiếp tục, giảm còn 28,6
nghìn tỷ USD trong vòng 18 tháng cho đến hết
năm 2011 (Chart 7). Sự suy giảm trong giá trị
thị trường toàn cầu của CDS thậm chí còn
nhiều hơn, giảm gần 3/4 từ 5,12 nghìn tỷ USD
vào cuối năm 2008 xuống 1,34 nghìn tỷ USD vào giữa năm 2011, mặc dù nửa quý sau tăng
lên 1,59 nghìn tỷ USD vào tháng 12/2011.

Việc so sánh dựa trên giá trị danh nghĩa của doanh thu cho thấy chỉ số hầu như chính xác về
khối lượng giao dịch, mặc dù giao dịch quốc tế dễ so sánh dựa trên cơ sở của số lượng hợp
Thị trường phái sinh T11/2012 11/15
đồng giao dịch hơn. Tuy nhiên, việc so sánh dựa trên số lượng hợp đồng có thể chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi kích thước hợp đồng được lựa chọn tùy sàn giao dịch. Kích thước hợp
đồng nhỏ tăng số lượng hợp đồng được giao dịch, là điểm đặc trưng của các sàn giao dịch ở
Hàn Quốc, Ấn Độ, Mexico và Brazil, trong đó tài khoản cá nhân chiếm lượng tỷ trọng giao
dịch lớn.
Giá trị danh nghĩa: của thị trường niêm yết phái sinh ở mức 57 nghìn tỷ USD, ít hơn 1/10
của thị trường phái sinh OTC.
Giá trị giao dịch: Giá trị giao dịch tăng 20% trong năm 2010 và tăng 9% trong năm 2011,
đạt 2.160 nghìn tỷ USD, từ mức thấp điểm 1.662 nghìn tỷ USD trong năm 2009. Giá trị
giao dịch đã được khôi phục gần với thời điểm cao nhất trước đó là 2.287 nghìn tỷ USD
trong năm 2007 (Chart 9). Giá trị giao dịch hàng quý đã giảm từ khoảng 580 nghìn tỷ USD
trong 3 quý đầu năm 2011 xuống còn trong khoảng từ 418 nghìn tỷ USD đến 428 nghìn tỷ
Thị trường phái sinh T11/2012 12/15
USD trong 3 quý từ quý 4/2011 đến quý 2/2012 (Chart 3). Nếu giao dịch được duy trì ở
mức độ này, tổng giá trị giao dịch cả năm của sàn giao dịch có thể là thấp hơn 20% trong
năm 2012.
Giá trị giao dịch của sàn giao dịch sản phẩm phái sinh tập trung chủ yếu từ Bắc Mỹ và Châu
Âu, chiếm khoảng 90% giao dịch theo giá trị trong những năm gần đây. Theo dữ liệu của
BIS, 50% Giá trị giao dịch trong năm 2011 đến từ sàn giao dịch Bắc Mỹ, 38% từ châu Âu,
10% từ Châu Á/Thái Bình Dương và 2% tại các khu vực khác của thế giới (Chart 9).
Sàn giao dịch lớn nhất là CME Group, bao
gồm Chicago Mercantile Exchange, Chicago
Board of Trade và New York Mercantile
Exchange. Sàn NYSE Liffe lớn thứ hai dựa
trên giá trị giao dịch, tiếp theo là Eurex (Chart
10).
Thị trường phái sinh T11/2012 13/15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status