1
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG CAO ĐẲNG
TP. HỒ CHÍ MINH SƯ PHẠM TW-TP.HCM
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC LOẠI HÌNH TRƯỜNG
MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH. THỰC TRẠNG, HIỆU QUẢ VÀ TIỀM NĂNG.
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. LÊ XUÂN HỒNG
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Tên đề tài: Hoạt động của các loại hình trường mầm non ngoài công lập tại thành
phố Hồ Chí Minh. Thực trạng, hiệu quả và tiềm năng. 3
Chủ nhiệm đề tài:TS.Lê Xuân Hồng.Tel: 0913959188
Email: lexuanhongtw3@yahoo. com
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường CĐSPMGTW3
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
Cơ quan:
- Sở giáo dục và Đào tạo t/p. Hồ Chí Minh
và những nơi có điều kiện kinh tế-xã hội phát triển.” ( 5), các cơ sở giáo dục mầm
non ngoài công lập được thành lập tương đối nhanh chóng ở hầu hết các quận 4
huyện trong thành phố. Sự tham gia của các cơ sở này đã góp phần giải quyết vấn
đề quá tải tại các trường mầm non công lập, đáp ứng nhu cầu của một bộ phận các
phụ huynh cần gửi con ngoài giờ, gửi con còn nhỏ.
Một số trường mầm non đầu tư cao, tạo được môi trường học tập và sinh
hoạt có nhiều thuận lợi, giáo viên được đào tạo chính quy và thường xuyên được
bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy tiên tiến nên được phụ huynh tín nhiệm.
Trong số các trường loại này có các trường có yếu tố nước ngoài và đa số đưa
chương trình có yếu tố nước ngoài vào ( như: tiếng Anh, sinh hoạt dã ngoại, đóng
kòch…)
Bên cạnh đó cũng còn tồn tại rất nhiều khu vực có các nhóm trẻ gia đình
chưa chú trọng đầu tư môi trường vật chất cũng như nhân sự, sử dụng người trông
trẻ không có chuyên môn, gây những tai nạn đáng tiếc cho trẻ.
Hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập chòu sự giám sát,
quản lí của các Phòng và sở giáo dục Thành phố. Các cơ sở này có trách nhiệm
báo cáo đònh kì về các hoạt động cũng như các thay đổi về quy mô đầu tư, nhân sự
cho các cấp quản lí trực tiếp. Hàng năm sở giáo dục cũng có những tổng kết đánh
giá hoạt động của các cơ sở này. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chi tiết nào về
thực trạng hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập nhằm đánh
giá cụ thể vai trò của loại hình giáo dục này và hiệu quả đóng góp của nó cho tình
hình giáo dục chung của thành phố, từ đó đưa ra các biện pháp quản lí, hỗ trợ cũng
như đònh hướng chuyên môn có hiệu quả. Việc tìm hiểu kó hoạt động và những
đóng góp của các loại hình trường mầm non ngoài công lập không những giúp các
cấp quản lí tổ chức tốt công việc theo dõi, đánh giá hiệu quả giáo dục trong những
cơ sở này mà còn mở ra cơ hội thiết lập những mạng lưới liên kết các trường công
lập và ngoài công lập để hỗ trợ nhau trong chuyên môn góp phần nâng cao chất
+ Sự hỗ trợ của chính quyền đòa phương: chính sách của thành phố, quận
huyện và phường xã đối với loại hình này; chế độ theo dõi kiểm tra …
- Vai trò, vò trí và hiệu quả của loại hình giáo dục này trong toàn cảnh giáo
dục mầm non của thành phố:
+ Góp phần cùng với loại hình trường mầm non công lập đã và đang giải quyết
bao nhiêu phần trăm nhu cầu gửi con của phụ huynh;
+ Huy động được bao nhiêu nguồn lực phục vụ cho loại hình này;
+ Chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ ở các loại hình này ra sao?
- Tiềm năng và các giải pháp phát triển các loại hình giáo dục mầm non
trong tương lai:
+ Số trẻ trong độ tuổi mầm non của thành phố chưa được đến trường? Trong số đó
có bao nhiêu trẻ gia đình có nhu cầu gửi con vào trường mầm non? Nguyên nhân
vì sao họ chưa gửi con vào trường? Họ có nguyện vọng gửi con vào loại hình
trường nào?
+ Yêu cầu của phụ huynh đối với việc chăm sóc giáo dục con họ.
+ Nguyện vọng, nhu cầu và khả năng đầu tư cho các loại hình này của các tầng
lớp xã hội trên đòa bàn thành phố;
+ Dự kiến triển vọng phát triển của loại hình này trên đòa bàn thành phố Hồ Chí
Minh trong tương lai.
6
trọng trong sự phát triển đứa trẻ và kêu gọi các quốc gia mở rộng giáo dục mầm non
và tập trung vào chất lượng cán bộ tham gia giáo dục mầm non. Một trong sáu mục
tiêu của cuộc vận động toàn thế giới “giáo dục cho tất cả mọi người” là tập trung
chăm sóc trẻ nhà trẻ và phổ cập giáo dục mẫu giáo bé. Mục tiêu đến năm 2015 tất 7
cả các quốc gia cần phải phổ cập giáo dục mẫu giáo. Các chuyên gia của UNESCO
đã phân tích tình hình trên toàn thế giới và đi đến kết luận là không phải tất cả các
quốc gia đều thực hiện được mục tiêu này. Theo các chuyên gia thì các nước Tây u
có khả năng thực hiện mục tiêu này tốt nhất. Ở các nước này giáo dục mẫu giáo đã
được phổ cập.(45 )
1.2. Giáo dục mầm non của Châu Âu
1.2.1. Tình hình chung về giáo dục mầm non của Châu Âu
Vào những năm 90 ở các nước Đông Âu đã giảm mạnh số lượng các cơ sở giáo
dục mầm non. Nhưng hiện nay dưới sự giúp đỡ của UNESCO, các hệ thống nhà trẻ
trong khu vực được khôi phục dần. Ví dụ vào năm 2005 UNESCO đã xây dựng dự án
“ Tăng cường chất lượng và tính khả thi của hệ thống giáo dục mẫu giáo ở các vùng
nông thôn của Môn-đa-vi”. Các chuyên gia quốc tế đã nhận đònh trong sáu năm gần
đây giảm 36% số lượng các cơ sở giáo dục trẻ mầm non ở Môn-đa-vi. Ở các vùng
nông thôn của Môn-đa-vi 80% trẻ mẫu giáo không được học ở các cơ sở giáo dục.
Điều đó dẫn tới hơn một nửa trẻ 6-7 tuổi có mức độ chuẩn bò vào học phổ thông rất
thấp. Có 20% cha mẹ ít đọc sách cho con mình. Khoảng một nửa số gia đình trong
nhà không có sách dành cho trẻ em. 12% cha và mẹ không chơi với con nhỏ của
mình. 8% không có bất kể đồ chơi nào cho trẻ trong nhà.
Giáo dục mẫu giáo ở tất cả các nước Châu u tính từ 3 tuổi đến khi trẻ vào phổ
thông (7 tuổi ) và có những đặc điểm chung. Giáo dục mẫu giáo được thực hiện chính
ở các trường mẫu giáo theo nguyện vọng của cha mẹ. Sự chuẩn bò vào lớp 1 là
chương trình bắt buộc được thực hiện tại trường mẫu giáo hay ở các lớp dự bò ở trường
phổ thông.
đạo đức, thẩm mó, trí tuệ và thể lực cho từng trẻ. Mục đích giáo dục ở các nước
Phương Tây dựa trên yêu cầu của các lớp đầu tiểu học, tạo điều kiện cho từng đứa trẻ
thể hiện đầy đủ nhất khả năng của mình và chuẩn bò cho trẻ học tập ở trường phổ
thông. Trường mẫu giáo đặt ra cho mình mục đích là giữ gìn và phát triển cá tính và
cách thể hiện bản thân của đứa trẻ.
Tạo môi trường để hình thành mối quan hệ tích cực với trường phổ thông và động
cơ học tập tích cực là nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non là những yếu tố
quan trọng để học tốt ở trường phổ thông. Hình thành động cơ học tập sớm tạo mối
quan hệ tích cực bền vững đối với hoạt động học tập và tạo điều kiện để hình thành
động cơ học tập suốt đời. Đó là điều kiện quan trọng đặc biệt đối với những đứa trẻ
phát triển trong môi trường văn hoá không thuận lợi ( ví dụ trong xã hội người Di-
gan), ở đó giáo dục không được coi là giá trò ưu tiên. (45).
1.2.4.Cơ sở vật chất
Hệ thống giáo dục mẫu giáo ở các nước thuộc Cộng đồng Châu u có nền tảng
vật chất vững chắc nhằm phục vụ cho tất cả trẻ học cả ngày trong trường mẫu giáo,
nhưng điều đó không được mở rộng ở các khu dân cư xa xôi. Vì sự di dân và các quá
trình nhân khẩu học diễn ra ở các nước cho nên các trường mẫu giáo ngày nay có
những khó khăn nhất đònh ví dụ ở một vài thành phố thiếu chỗ học, còn ở một số
vùng thì không đủ số lượng trẻ. Mặc dù có những khó khăn như thế nhưng mỗi đứa
trẻ đều có khả năng vào trường mẫu giáo. (45).
1.2.5.Nhu cầu tiếp nhận và lựa chọn trường mầm non.
Trừ năm cuối tuổi mẫu giáo bắt buộc phải học lớp chuẩn bò học tập ở lớp 1 phổ
thông, còn các độ tuổi khác tham gia học tập ở trường mẫu giáo theo nhu cầu của cha
mẹ. Các trường mẫu giáo tiếp nhận trẻ từ 2 đến 6 tuổi. Trẻ được chia thành các nhóm
phụ thuộc vào lứa tuổi.
Cha mẹ tự lựa chọn trường mẫu giáo cho con mình. Trẻ được tiếp nhận vào trường
mẫu giáo theo sự lựa chọn của cha mẹ hay người đỡ đầu Họ có thể lựa chọn trường 9
- Các lớp chuẩn bò cho trẻ vào lớp 1: từ 12 đến 16 trẻ.
1.2.9.Thời khóa biểu hàng tuần và hàng ngày:
Thời gian học của trẻ nhóm 1 và 2 là 20 phút, nhóm 3 và 4 là 20-25 phút.
Thời gian còn lại trong ngày trẻ chơi, nhảy múa, bơi lội, dạo chơi ngoài trời và
ngủ. Các hình thức tổ chức quá trình sư phạm có đặc thù riêng và phụ thuộc vào
từng trường cụ thể và vào giáo viên và đặc biệt liên quan tới đặc điểm lứa tuổi và
khả năng của trẻ. Nhưng không dạy quá 20 giờ trong tuần.
1.2.10. Kế hoạch giảng dạy, hình thức hoạt động. 10
Khối lượng và đặc điểm của nội dung giáo dục trong các hoạt động khác
nhau và công việc giáo dục được xác đònh trong hai chương trình cho trẻ từ 2 đến 6
tuổi và hai chương trình cho trẻ chuẩn bò vào học lớp 1. Trong những chương trình
đó đề cập đến những yêu cầu dạy trẻ lứa tuổi mẫu giáo.
. Chương trình cho trẻ từ 2 đến 6 tuổi được áp dụng trong thực tiễn từ 1992,
tập trung vào một vài lónh vực chính như sau:
- Phát triển ngôn ngữ và làm giàu vốn từ;
- Toán;
- Làm quen với môi trường và đời sống xã hội;
- Nghệ thuật tạo hình;
- Mó học và thể dục.
Chương trình của các nhóm chuẩn bò vào lớp 1 từ 2000 đến 2010 bao gồm
các tài liệu giảng dạy cho các bộâ môn đã kể trên và chuẩn bò cho trẻ học đọc và
viết. Ngoài ra, chương trình còn tính toán các giai đoạn dạy học đặc biệt cho trẻ
các dân tộc khác, trong việc chuẩn bò cho trẻ vào học phổ thông về mặt tâm lí và
xã hội.
Những yêu cầu giáo dục quốc gia đối với giáo dục mẫu giáo được xác đònh
đối với từng lónh vực giáo dục, trẻ được lónh hội kiến thức về từng lónh vực, những
yêu cầu tối thiểu của những kiến thức và kó năng; những mức độ này được chia ra
mầm non Hàn Quốc có sự phát triển mạnh và có nhiều chính sách tiến bộ mang
tính nhân văn cao. Đồng thời Hàn Quốc là một trong hai nước trong khu vực
Đông Á gần đạt các mục tiêu có thể đo lường được của giáo dục mầm non (theo
số liệu trong báo cáo Giám sát toàn cầu về giáo dục mầm non 2007 được tổng
hợp bởi nhóm tư vấn độc lập quốc tế do UNESCO công bố tại Hội thảo ngày
17/1/2008 tại Hà Nội). Chúng tôi muốn chọn và giới thiệu giáo dục mầm non
Hàn Quốc để có thể tham khảo xây dựng các giải pháp về giáo dục mầm non
ngoài công lập của thành phố Hồ Chí Minh.
1.3. Giáo dục mầm non của Hàn Quốc
1.3.1. Tình hình chung về giáo dục mầm non Hàn Quốc
Thành phần tư nhân đóng vai trò rất lớn trong sự hình thành và phát triển
Chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non ở Hàn Quốc. Trong xã hội truyền
thống của Hàn Quốc trẻ em còn nhỏ sống trong gia đình nhiều thế hệ được cha mẹ
ông bà, cô chú bác chăm sóc và giáo dục. Vào đầu thế kỉ 20 chỉ mới có một vài
trường mẫu giáo tư dành cho con em viên chức cao cấp Hàn Quốc, Mỹ và Nhật.
Sau khi chính phủ Hàn Quốc được thiết lập năm 1945, Bộ Giáo dục Hàn
Quốc có sự thay đổi giáo dục dục trẻ nhỏ và xây dựng Luật giáo dục trẻ mẫu
giáo, trong đó có xác đònh các môn học và phương pháp giáo dục, tuổi đi học của
trẻ, các nghề nghiệp giáo viên. Vào năm 1969, Chương trình mẫu giáo quốc gia
đầu tiên được giới thiệu và đến năm 1976 có 5 trường mẫu giáo cộng đồng được
mở ra. Năm 1980 có 40 trường mẫu giáo cộng đồng và 861 trường mẫu giáo tư ra
đời. Năm 1983 có 2562 trường cộng đồng và 1714 trường mẫu giáo tư được thành
lập. Số liệu trên cho thấy sự phát triển rất nhanh của các trường mẫu giáo cộng
đồng, nhưng hầu hết các trường này đều được xây dựng ở các vùng nông thôn và
vùng xa xôi hẻo lánh. Trong khi giáo dục mầm non chòu sự giám sát của Bộ giáo
dục và Phát triển nguồn nhân lực, thì dòch vụ chăm sóc trẻ nhà trẻ được phát triển
như là một phần của hệ thống phúc lợi hướng tới trẻ nhỏ bò thiệt thòi và chòu sự
giám sát của Bộ Sức khoẻ và Phúc lợi. Cơ sở chăm sóc trẻ đầu tiên là Trung tâm
phúc lợi Taewha được thành lập 1921 như là một tổ chức Tôn giáo tư. Từ đó kéo
trong số đó xây dựng gia đình. Những người phụ nữ ở độ tuổi từ 25 đến 34 ít thích
tham gia vào thò trường lao động, bởi vì trách nhiệm nuôi dưỡng con cái gây áp lực
cho những người phụ nữ và quan điểm của họ về nghề nghiệp. Nếu họ đã xây
dựng gia đình và có đứa con lứa tuổi mầm non thì họ thích từ bỏ nghề nghiệp của
mình nhiều hơn.
Gần đây khuynh hướng tỉ lệ gia đình có thu nhập gấp đôi tăng (chiếm hơn
20%). Giới trẻ (cả nam và nữ) quan tâm và khao khát một gia đình có thu nhập
gấp đôi, còn những người phụ nữ là công nhân không quan tâm tới hôn nhân và
gia đình.
Một vài hệ thống xã hội mới ủng hộ chiều hướng gia đình có thu nhập gấp
đôi; đó là sự trợ giúp của cha mẹ công nhân nữ bỏ nghề, sự trợ giúp của cha mẹ 13
từ bỏ tiền trợ cấp và sự bảo trợ thất nghiệp. Mặc dù thực tế ứng dụng các hệ thống
này còn rất thấp, nhưng những hệ thống này sẽ đóng góp cho việc tăng phụ nữ đi
làm và họ cần chương trình Chăm sóc và Giáo dục trẻ tốt. Các bậc cha mẹ trẻ đã
nhận thức được rằng Chương trình Chăm sóc và Gíao dục trẻ tốt giúp cho đứa trẻ
phát triển tốt. Theo nghiên cứu của bà Lee 2001 có 70% cha mẹ người Hàn Quốc
nhận thấy vài chương trình giáo dục trẻ nhỏ ngắn hạn rất cần cho con của họ và có
86% cha mẹ trẻ cho con học đọc, học toán và học tiếng Anh để cho sự phát triển
trí tuệ của con họ thuận tiện và chuẩn bò sẵn sàng vào trường phổ thông.
Chính sách đối với giáo dục mầm non của Hàn Quốc như sau:
- Giáo dục trẻ từ 3 đến 5 tuổi thể hiện trong hệ thống cộng đồng trẻ trước
tuổi học mới, ở đó dòch vụ chăm sóc và giáo dục được tích hợp và hỗ trợ lẫn nhau.
- Quyền ưu tiên dành cho trẻ em bò thiệt thòi (thuộc các gia đình có thu
nhập thấp) nhằm cung cấp một cơ hội đến với Chương trình Chăm sóc và Gíao
dục trẻ vì mục đích công bằng giáo dục.
- Ít nhất có một năm giáo dục miễn phí dành cho tất cả trẻ 5 tuổi trước khi
chính thức học tập ở trường phổ thông để cho mọi đứa trẻ đều có sự bắt đầu tương
chất lượng
- Cải tiến chất lượng giáo viên
- Phát triển hệ thống tuyển dụng, đào tạo và đánh giá 14
chất lượng giáo viên
- Giám sát và đánh giá
- Hỗ trợ cho các khu vực tư nhân
Giáo dục
miễn phí cho
trẻ em 5 tuổi
- Tăng trợ cấp tài chính cho các gia đình có thu nhập
thấp
- Hệ thống phiếu mua hàng cho cha mẹ ở các thành
phố và thò trấn
Trợ cấp tài
chính nhiều
hơn
- Tăng ngân sách chính phủ cho bằng đại học giáo dục
mầm non
- Hỗ trợ tài chính cho các trường mẫu giáo tư
- Khuyến khích hỗ trợ ngân sách đòa phương cho giáo
dục mầm non
Cải tiến hệ
thống điều
hành và hỗ
trợ
- Tổ chức lại hệ thống điều hành
- Tăng cường các chức năng góp ý kiến và đánh giá
15
Cải tiến sự điều
hành chăm sóc
trẻ và hệ thống
tài trợ
- Tăng hoạt động các trung tâm thông tin chăm sóc trẻ
- Sử dụng sự đánh giá phương tiện chăm sóc trẻ
- Cải tiến chính sách hệ thống phân phối chăm sóc trẻ trong
các tổ chức tự điều hành của đòa phương
- Làm tốt hơn cách điều hành ở nơi chăm sóc trẻ
Cải tiến hệ
thống nhân viên
chăm sóc trẻ
- Năng lực nhân viên
- Hệ thống đào tạo
- Lương
- Dòch vụ đào tạo
Cải tiến tài
chính chăm sóc
trẻ
- Đánh giá tài chính
- Hệ thống tài trợ
Cải tiến chương
trình chăm sóc
trẻ và hệ thống
chăm sóc trẻ đặc
biệt
- Tiêu chuẩn hoá chương trình chăm sóc trẻ và các nguyên tắc
xây dựng kế hoạch
- Chăm sóc trẻ sơ sinh
Lâm nghiệp tham gia vào hoạt động của chương trình Chăm sóc và Giáo dục trẻ ở
Hàn Quốc một cách trực tiếp và gián tiếp.
Những nơi cung cấp dòch vụ cho chương trình Chăm sóc và Giáo dục trẻ
bao gồm các trường mẫu giáo quốc gia, cộng đồng và tư nhân và các trung tâm
chăm sóc trẻ quốc gia, cộng đồng và tư nhân (sở hữu cá nhân hay là trên cơ sở
công ty) thường gọi là các nhà trẻ hoặc các phòng chơi cho trẻ.
1.3.4.Hệ thống phục vụ Chăm sóc giáo dục trẻ ở Hàn Quốc
Các cơ quan đại
diện hành chính
Bộ Giáo dục và Phát
triển nguồn nhân lực
Bộ Y tế và Phúc lợi
Nơi cung cấp
chương trình
Chăm sóc và
Gíao dục trẻ
Trường mẫu giáo Các trung tâm chăm sóc (Các nhà trẻ,
các phòng chơi)
Các loại dòch vụ
Chương trình
Chăm sóc và
Giáo dục trẻ
Quốc gia, cộng đồng,
tư nhân
Quốc gia, cộng đồng, những nơi làm
việc, ở nhà
Tuổi của trẻ được
phục vụ
3 đến 5 0 đến 5
Trong số các cơ sở chăm sóc trẻ nhỏ, có khoảng 35,4 % có ít hơn 20 trẻ. Các
cơ sở công hay cộng đồng rộng hơn cơ sở tư, 35,3% các cơ sở có 66-91 trẻ
1.3.5. Số trẻ trong các cơ sở chăm sóc trẻ ở Hàn Quốc( tính %)
Số trẻ
đăngkí
Tổng số
Tổng số
21.267
(100)
1-19
7.535
(35,4)
20-30
3.641
(17,1)
31-39
4.191
(19,7)
40-65
1.992
(9,4)
66-91
1.869
(8,8)
(2,0)
67
(5,2)
380
(29,4)
457
(35,3)
181
(14,0)
104
(8,0)
40
(3,1)
33
(2,5)
Trường
tư
12ø.311
(100,0)
144
(1,2)
3.476
(28,2)
5
(2,6)
2
(1,0)
6
(3,1)
Ở nhà 7.467
(100,0)
7.359
(98,6)
108
(1,4)
Nguồn: Bộ Y tế và Phúc lợi, 2002b; Na et al., 2003a
Các cơ sở chăm sóc trẻ hoạt động 12 giờ một ngày một cách linh hoạt. Hầu
hết các trung tâm (85,6%) cung cấp dòch vụ chăm sóc trẻ kéo dài từ 9 đến 12 giờ
một ngày.Từ khi các cơ sở chăm sóc trẻ là một phần của hệ thống phúc lợi và thực
hiện chương trình cả ngày với học phí hơi giảm, các gia đình có thu nhập thấp và
các bà mẹ đi làm cảm thấy tốt hơn khi đưa con họ đi học.
1.3.6.Tỉ lệ đăng kí vào trường mẫu giáo và nhà trẻ 18
Tuổi 0 1 2 tổng 3 4 5 6 tổng
T. MG - - - -
công
và
CĐ
T.MG - - - -
đẳng 2 năm.
Trên thực tế, có 66% giáo viên tốt nghiệp cao đẳng và đại học tổng hợp 4
năm làm việc ở các trường mẫu giáo công và trường cộng đồng, còn 80% giáo
viên dạy trường mẫu giáo tư tốt nghiệp cao đẳng 2 năm. Có sự khác biệt về trình
độ giáo dục của hai nhóm giáo viên do sự khác biệt trong phương pháp tuyển
dụng, giáo viên mẫu giáo của trường công hay trường cộng đồng phải trải qua kì
thi quốc gia khắc khe, giáo viên của các trường mẫu giáo tư không yêu cầu phải
trãi qua kì thi hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng 4 năm. 64, 5% giáo viên của
trường mẫu giáo tư có dưới 5 năm kinh nghiệm làm việc, và một vài người có trên
5 năm kinh nghiệm làm việc. Tập thể nhân viên trong các trung tâm chăm sóc trẻ
có 16,6% tốt nghiệp cao đẳng 4 năm, 59,2% tốt nghiệp cao đẳng 2 năm, 24,2% tốt
nghiệp phổ thông trung học.
Kể từ năm 2002, chính phủ chi 355,5 tỉ won cho trường mẫu giáo và 441,1 tỉ
won cho chăm sóc trẻ. Tổng ngân sách chi cho chăm sóc giáo dục trẻ mầm non là
796,6 tỉ won chiếm 0,13% GDP của Hàn Quốc. Trong đó có 29,8%( khoảng 235 tỉ
mon) do trung ương cấp và phần còn lại của ngân sách thuộc thẩm quyền của
chính quyền đòa phương. Ngân sách được dành cho tiền lương lớn nhất: 206,6 tỉ 19
won cho giáo viên mẫu giáo và 214,6 tỉ won cho đội ngũ chăm sóc trẻ (35)
Ngân sách đòa phương và trung ương chi 37 tỉ won cho trường mẫu giáo và
103 tỉ won cho các cơ sở chăm sóc trẻ để hỗ trợ chăm sóc và giáo dục miễn phí
cho trẻ 5 tuổi thuộc các gia đình có thu nhập thấp. Mặc dù số tiền tương ứng với ít
hơn 20% tất cả trẻ em 5 tuổi, 26.202 trẻ mẫu giáo và 86.982 trẻ các cơ sở chăm
sóc trẻ không đủ trả cho công tác giảng dạy năm 2002. Nếu cha mẹ chọn các
trường tư, thì họ được nhận 105.000 won một tháng thay vì họ không cho con đi
học (Na et al.,2003 a). Chi phí giảng dạy trung bình cho trường mẫu giáo ở thành
thò là 24.000 won, cho trường cộng đồng và 99.000 won cho trường tư. Chi trả
trung bình cho các trung tâm chăm sóc trẻ 3 tuổi là 12.000 won cho trường cộng
20
Đây là vấn đề mà nhiền nước trên thế giới thực hiện. Chúng tôi muốn giáo dục
mầm non của thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu kó để học tập và đề xuất triển
khai thực hiện chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam có hiệu
quả.
II. Giáo dục mầm non của Việt Nam
2.1. Một vài nét về sự hình thành và phát triển giáo dục mầm non của
Việt Nam đến năm 1990.
Ở Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc chưa có hệ thống nhà trẻ và nhóm trẻ,
chỉ có một vài cở sở trông trẻ mang tính chất cứu tế, từ thiện như Trại trẻ mồ côi
Soent Antoine, trại Tế Sinh Hà Nội.
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo không được Nhà nước và xã hội chăm lo. Cả nước
chỉ có một vài trường hoặc lớp mẫu giáo tư thục. Ở Hà Nội có lớp mẫu giáo đặt ở
trường Lyxe Albert Srraut để dạy con em người Pháp và những gia đình người
Việt Nam có quyền thế; trường mẫu giáo bán trú Bách Thảo nuôi dạy chủ yếu là
con em nhà khá giả (trẻ đến trường từ sáng thứ hai đến chiều thứ bảy). Ở Huế có
vài lớp mẫu giáo ở trường nữ học tư thục Jeanne d
,
Are do Thiên chúa giáo quản
lí, trẻ đến đây ngoài việc học chữ còn học giáo lí.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tuy còn gặp vô vàn những khó
khăn nhưng Sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946 có ghi “Bậc học ấu tró nhận giáo
dục trẻ dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theo điều kiện do Bộ quốc gia giáo dục ấn
đònh sau”.
Ngày 4/7/1950 Ban mẫu giáo trung ương được thành lập theo quyết đònh số
404-QĐ của Bộ quốc gia giáo dục. Ban có những nhiệm vụ sau:
1. Nghiên cứu phương pháp, xây dựng chương trình, kế họach dạy trẻ từ 3
đến 6,7 tuổi, chuẩn bò cho trẻ biết đọc biết viết để học các lớp trên được
thuận lợi.
trào, ở huyện có cán bộ theo dõi mẫu giáo. Tổ mẫu giáo Bộ giáo dục gấp rút biên
sọan các tập bài hát, trò chơi, chuyện kể, dòch chương trình giáo dục mẫu giáo của
Liên Xô, Trung Quốc để tham khảo, tổ chức hội nghò rút kinh nghiệm chỉ đạo giáo
dục mẫu giáo ở cơ quan, xí nghiệp cho một số tỉnh trọng điểm. Phong trào lan
rộng ở nhiều tỉnh, thành phố.
Ở miền Bắc 1958-1960 phong trào hợp tác hóa ở nông thôn căn bản hoàn
thành, các lớp mẫu giáo dần dần mọc lên ở nhiều nơi.
Ngày 22/9/1964, Bộ giáo dục chính thức thành lập trường Sư phạm mẫu
giáo Trung ương. Công việc đào tạo bắt đầu đi vào nề nếp, chương trình đào tạo
dần được hoàn chỉnh, chính quy hơn. Các tỉnh cũng bắt đầu tổ chức các lớp huấn
luyện để đào tạo và bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển mẫu giáo ở cơ
sở.
Sự phát triển hệ thống nhà trẻ gặp khó khăn do chiến tranh phá hoại của Đế
quốc Mỹ vào tháng 8/1965. Nhiều nhà trẻ phải trông trẻ nộâi trú cả ngày lẫn đêm
ở nơi sơ tán, thậm chí có trẻ phải sống suốt ngày dưới hầm hào, đòa đạo. Các cháu
phải sống xa cha mẹ, thiếu thốn đủ mọi thứ, nên sức khỏe và thể lực của trẻ có
giảm sút. Trước tình hình này các đoàn thể và các ngành công đoàn, phụ nữ, y tế,
giáo dục đã tích cực tìm mọi cách khắc phục khó khăn để ổn đònh, đưa nhà trẻ
thích nghi dần với thời chiến. Đồng thời, phát động các phong trào thi đua xây
dựng nhà trẻ “4 tốt”, phụ nữ “3 đảm đang”. Nhiều gương hy sinh dũng cảm quên
mình của các cô, các bác giữ trẻ để bảo vệ an toàn tính mạng cho trẻ.
Nhiều nhiệm vụ cấp bách đã đặt ra cho phong trào mẫu giáo trong thời kì
chiến tranh phá họai Miền Bắc. Cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, công, nông trường 22
đã tổ chức các trại sơ tán cho các cháu tạo điều kiện cho công đoàn và nữ công
hoạt động.
Đầu năm 1968, Mó buộc phải ngừng đánh phá miền Bắc và ngồi vào bàn
thương lượng với Chính Phủ Việt Nam tại Hội Nghò Paris. Các nhà trẻ nhóm trẻ
riêng. Các lớp mẫu giáo đều tập trung ở các khu phố giàu có, ở gần trung tâm của
các cơ quan chính quyền. Những vùng đông dân lao động, quanh các xí nghiệp
đông công nhân, vùng ven nội và vùng nông thôn hầu như không có trường mẫu
giáo. Tuyệt đại các lớp mẫu giáo đều nằm trong trường phổ thông, mục đích chủ
yếu là học chữ. Trong số 520 cơ sở mẫu giáo của Sài Gòn cũ, 85% lớp mẫu giáo là 23
tư thục, trong đó có 97 cơ sở mẫu giáo riêng (không gắn vào trường phổ thông);
323 cơ sở gắn vào trường cấp I; 82 cơ sở gắn vào trường cấp II; 18 cơ sở gắn vào
trường cấp III. Nội dung giảng dạy tùy theo từng trường, chủ yếu là dạy chữ và
dạy giáo lí. Trang thiết bò của các lớp mẫu giáo gắn với trường phổ thông thường
không phù hợp độ tuổi. Các trường mẫu giáo riêng thường được trang bò đầy đủ đồ
dùng đồ chơi, bàn ghế đẹp, phòng học rộng rãi, trường sở khang trang. Phần lớn
giáo viên do thiên chúa giáo đào tạo. Nhiều giáo viên là tu só được đào tạo tương
đối kó về giáo lí và tâm lí. Một số được đi tu nghiệp ở Anh, Pháp, Mó, Nhật,
Philipin. Tuy nhiên trình độ văn hóa của giáo viên chênh lệch nhau: một số có
trình dộ đại học, một số là sinh viên đi làm thêm, một số có trình dộ tú tài…. Không
ít người coi nghề mẫu giáo là tạm bợ sống qua ngày. Sau ngày giải phóng miền
Nam thống nhất đất nước, giáo dục mẫu giáo đã thay đổi căn bản, sự nghiệp mẫu
giáo xã hội chủ nghóa phát triển trên quy mô toàn quốc.
Đến cuối 1977 hệ thống tổ chức bộ máy điều hành công tác nuôi dạy trẻ ở
các tỉnh phía nam được hoàn thiện và được thống nhất chung trong cả nước từ
trung ương đến đòa phương.
Ngành dựa trên cơ sở Chỉ thò 65 CT/TW ngày 8/2/1979 các trung tâm được
thành lập như: Trung tâm dòch vụ nhà trẻ; Trung tâm nghiên cứu khoa học nuôi
dạy trẻ và Nhà trẻ Hoa Hồng nhằm điều tra cơ bản, nghiên cứu thực nghiệm các
phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Đồng thời Ngành đã ban hành
các quy chế về nhà trẻ, triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng nuôi dạy
trẻ… nhằm giải quyết đồng bộ các khâu chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, tạo
em với Bộ giáo dục. Đó là tiền đề và điều kiện đổi mới sự nghiệp Giáo dục dục
Mầm non.
Bắt đầu từ năm 1987, thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục hệ thống các
trường trung học nuôi dạy trẻ trung ương và đòa phương lần lượt sáp nhập với các
trường trung học sư phạm mẫu giáo hình thành hệ thống các trường sư phạm nhà
trẻ - mẫu giáo trung ương và đòa phương. Hệ thống nhà trẻ trong cả nước lần lượt
sáp nhập với hệ thống trường mẫu giáo thành hệ thống các trường mầm non, chỉ
còn lại một số ít nhà trẻ, trường mẫu giáo riêng biệt. Chủ trương hợp nhất nhà trẻ
mẫu giáo thành trường mầm non đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lí, tận
dụng hết công năng cơ sở vật chất, giảm biên chế trung gian, thuận tiện cho phụ
huynh gửi con đã thu hút các cháu đến trường nhiều hơn. Đồng thời các nhà trẻ
mẫu giáo trong hệ thống chính quy đã phát huy tác dụng đầu tàu của các trường
trọng điểm của thành phố và đòa phương. Việc thực hiện đa dạng hóa các lọai hình
trường lớp đã huy động được sự đóng góp của toàn xã hội nên số lượng trường lớp
tăng đáng kể, góp phần tăng tỉ lệ huy động cháu đến trường phù hợp với đặc điểm
của từng đòa phương. Tuy nhiên, sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thò
trường đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục mầm non. Nhiều nơi, nhà trẻ lớp mẫu
giáo tan vỡ, đặc biệt là ở nông thôn và một số nông trường, xí nghiệp, nhà máy. Ở
thành phố Hồ Chí Minh, năm 1988, ngành Bảo vệ bà mẹ trẻ em hợp nhất với
ngành Giáo dục xây dựng hệ thống giáo dục mầm non làm nhiệm vụ chăm sóc
giáo dục trẻ từ 6 tháng đến 71 tháng tuổi. Phòng giáo dục mầm non được thành
lập.Trong những năm từ 1987 đến 1989, ngành học mầm non bò tác động mạnh khi
chuyển sang cơ chế thò trường, có nhiều dấu hiệu báo động sự tan rã của ngành
học nhất là khu vực nhà trẻ. Do không nhận thức đầy đủ về xóa bao cấp trong giáo
dục nhiều xí nghiệp đã xóa dần nhà trẻ mẫu giáo khi thực hiện cơ chế tự hạch
toán, nhiều phường xã cũng giảm bớt trường, lớp; các cơ sở tốt nhất của nhà trẻ
mẫu giáo trong những năm 1976-1980 trở thành những mục tiêu cho sự họach đònh
về các cơ sở dòch vụ thương mại, du lòch. Nhà hàng, khách sạn… để thu lợi nhuận
Từ Nghò quyết 4 Trung ương Đảng khóa VII đã xác đònh đường lối xã hội
hóa giáo dục năm 1993 và xuyên suốt trong các khóa tiếp theo: “Huy động toàn
xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo
dục quốc dân dưới sự quản lí của nhà nước”.
Nghò quyết 90/1997/NQ-CP của Chính Phủ về phương hướng chủ trương xã
hội hóa các hoạt động y tế-văn hóa đã nêu rõ nội dung cuộc vận động toàn dân
tham gia sự nghiệp giáo dục: Vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo ra môi
trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với
giáo dục ở gia đình và ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp ủy Đảng, Hội
đồng nhân dân, Ủy Ban nhân dân, các đoàn thể quần chúng, các doanh nghiệp…
đối với sự nghiệp giáo dục. Nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn