Báo cáo khoa học Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên nam 13-15 tuổi môn xe đạp đường trường tại Thành Phố Hồ Chí Minh - Pdf 25


THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 7/2008 MỤC LỤC
Trang
Tóm tắt đề tài (gồm tiếng Việt và tiếng Anh)
I
Mục lục
II
Danh sách các chữ viết tắt
III
Danh sách bảng
IV
Danh sách biểu đồ và hình vẽ
V
Bảng quyết toán (giám đònh giai đoạn 1)
VI
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Tổng quan về môn xe đạp thể thao. 7
1.1.1 Đặc điểm môn xe đạp thể thao. 7
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến thành tích thi đấu trong XĐĐT. 14
1.1.3 Hệ thống và các giai đoạn huấn luyện VĐV XĐĐT. 18
1.2 Cơ sở lý luận về tuyển chọn VĐV xe đạp đường trường. 23
1.2.1 Những cơ sở chung. 23
1.2.2 Cơ sở lý luận tuyển chọn VĐV XĐĐT.
41
1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý và phát triển thể chất lứa tuổi 13 - 15.
54

3.1.3 Kiểm nghiệm độ tin cậy và tính thông báo các chỉ tiêu tuyển
chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi (chỉ tiêu điều kiện).
102
3.1.4 Nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn VĐV
XĐĐT 13 – 15 tuổi:
104
3.1.5 Thảo luận về các chỉ tiêu về hình thái, thể lực, kỹ thuật, tâm lý
và chức năng cơ thể trong tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi.
106
3.2 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chỉ tiêu tuyển chọn VĐV XĐĐT 13
– 15 tuổi.
121
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi
theo nhóm chỉ tiêu điều kiện.
121
3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi
theo nhóm chỉ tiêu mở rộng.
126
3.2.3 Hướng dẫn cách sử dụng thang tuyển chọn VĐV XĐTT 13 – 15
tuổi.
127
3.2.4 Kiểm nghiệm tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15
tuổi.
130
3.2.5 Thảo luận hệ thống tiêu chuẩn chỉ tiêu tuyển chọn VĐV
XĐĐT 13 – 15 tuổi:
131
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 133
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO

selection exactly is very important and indispensable, too. Really, racers
selection is a key to decide sport achievements and saving some things as
training expenditure or racers’ efforts. Nowadays, in our nation, the selections
for racers are not carried out to an unity of system. It hasn’t a general standard
to select scientifically racers at any age. So, it’s very important and
indispensable to build a selection system with the perfect standard for racers
such as forms, physical finesses, techniques, psychology, and abilities of parts
of body.
Topic of research determined the norms of form, physical fitness,
technique, nervous functions, psychology functions, psychological functions… It
also built a standard selection following three different levels for male racers
at ages 13 -15. All of them are going to contribute initially for selection racers
in whole of training process of road racing cycle.
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VIẾT TẮT THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT
HLV Huấn luyện viên
VĐV Vận động viên
HLTT Huấn luyện thể thao
TDTT Thể dục thể thao.
TTTT Thành tích thể thao
LVĐ Lượng vận động
XĐTT Xe đạp thể thao
XĐĐT Xe đạp đường trường
Nxb Nhà xuất bản
VO
2
max Thể tích hấp thụ oxy tối đa (ml/ph).
VCO
2

So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các chỉ tiêu tuyển chọn
vận động viên nam môn xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi.
Sau
trang101
3.3
Hệ số tương quan cặp giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động
viên xe đạp đường trường qua hai lần kiểm tra – 13 tuổi.
3.4
Hệ số tương quan cặp giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động
viên xe đạp đường trường qua hai lần kiểm tra – 14 tuổi.
3.5
Hệ số tương quan cặp giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động
viên xe đạp đường trường qua hai lần kiểm tra – 15 tuổi.
Sau
trang103
3.6 Hệ số tương quan thứ bật giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận
động viên xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi với thứ hạng thi
Sau
trang104
đấu.
3.7
Mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường – 13 tuổi.
3.8
Mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường – 14 tuổi.
3.9
Mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường – 15 tuổi.
3.10

.
123
3.18
Hệ số tương quan giữa các yếu tố tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường với nhau và với thành tích thi đấu – 13
tuổi.
3.19
Hệ số tương quan giữa các yếu tố tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường với nhau và với thành tích thi đấu – 14
tuổi.
3.20
Hệ số tương quan giữa các yếu tố tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường với nhau và với thành tích thi đấu – 15
tuổi.
3.21
Tỷ trọng ảnh hưởng (β) các yếu tố tuyển chọn vận động
viên xe đạp đường trường với thành tích thi đấu 13 – 15 tuổi.
Sau
trang124
3.22
Bảng điểm tổng hợp phân loại tuyển chọn VĐV nam XĐĐT
13 – 15 tuổi theo tỷ trọng ảnh hưởng.
126
3.23
Kiểm nghiệm bảng điểm và phân loại các chỉ tiêu điều kiện
tuyển chọn VĐV XĐĐT – 13 tuổi
3.24
Kiểm nghiệm bảng điểm và phân loại các chỉ tiêu điều kiện
tuyển chọn VĐV XĐĐT – 14 tuổi
Sau

3.2
Cách đo chiều dài chân, chiều cao ngồi và chiều dài đùi bàn
đạp.
110
3.3 Các cơ tham gia chính vào quá trình tạo lực 111
3.4 Trục và hướng quay các đoạn của chân khi nhấn pêđan 112

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tên đề tài:
“Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên nam 13 – 15 tuổi
môn xe đạp đường trường tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
Chủ nhiệm đề tài: TS. Huỳnh Trọng Khải.
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành
phố Hồ Chí Minh.
Thời gian thực hiện đề tài: 18 tháng (12/2005 – 6/2007) theo hợp đồng
số : 369/HĐ – SKHCN ký ngày 28/12/2005.
Kinh phí được duyệt: 170.000.000 đồng
Kinh phí đã cấp: 150.000.000 đồng (90.000.000 đồng theo thông báo
số 292/TBKHCN ngày 13/12/2005 và 60.000.000 đồng theo thông báo số
18/TBKHCN ngày 12/02/2007).
2. Mục tiêu:
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên nam 13 –
15 tuổi môn xe đạp đường trường, tại Thành phố Hồ Chí Minh
.
3. Nội dung:
- Tổng hợp tài liệu có liên quan nhằm tìm ra cơ sở lý luận của đề
tài.
- Xác đònh các chỉ tiêu về hình thái, thể lực, tâm lý và y sinh học áp
dụng trong tuyển chọn vận động viên nam 13 – 15 tuổi môn xe đạp đường
trường.

- Phẩm chất ý chí, nghò lực và tác phong trong tập luyện của VĐV.
Yếu tố di truyền từ cha, mẹ và truyền thống thể thao của gia đình.
4.2 Bảng điểm tổng hợp phân loại theo tỷ trọng ảnh hưởng tuyển
chọn VĐV nam XĐĐT 13 – 15 tuổi.
Bảng điểm tổng hợp phân loại tuyển chọn VĐV nam XĐĐT
13 – 15 tuổi theo tỷ trọng ảnh hưởng.

Tổng điểm
Phân loại
13 tuổi 14 tuổi 15 tuổi
Tốt
≥ 86.4 ≥ 85.2 ≥ 89

Khá
67.2 →< 86.4 66.3 →< 85.2
69.2 →< 89
Trung bình
48 →< 67.2
47.3 →< 66.3 49.4 →< 69.2
Yếu
28.8 →< 48
28.4 →< 47.3 29.7 →< 49.4
Kém
< 28.8 < 28.4 < 29.7

- Ba phương trình xác đònh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến
thành tích thi đấu trong tuyển chọn VĐV nam XĐĐT 13 – 15 tuổi.

1
3

:
Điểm từng chỉ tiêu theo C,
i
β
: Tỷ trọng ảnh hưởng của từng chỉ tiêu,
i
n
: Số chỉ tiêu trong từng yếu tố, 10: là số điểm tối đa của từng chỉ tiêu).

Xe đạp là môn thể thao quần chúng gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân
nên được nhiều người hâm mộ và ưa thích luyện tập. Xe đạp là một trong
những môn thể thao trọng điểm của Việt Nam, vì nó là môn thể thao truyền
thống và có khả năng chiếm giữ thứ hạng cao trong khu vực và châu lục.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, môn xe đạp thể thao phát triển mạnh,
tại đây có nhiều đội đua mạnh với số lượng người tham gia tập luyện
thường xuyên ở hầu hết các quận huyện. Ở các quận trọng điểm đều có
hệ thống đào tạo VĐV chuyên sâu cho quận huyện nhà và Thành phố. Ở
Thành phố VĐVxe đạp được phân thành nhiều cấp như: năng khiếu
trọng điểm quận/huyện, năng khiếu trọng điểm Thành phố, năng khiếu
dự bò tập trung, đội tuyển trẻ cho tới đội tuyển Thành phố. Tuy phong
trào phát triển rộng như vậy, nhưng cho đến nay Thành phố Hồ Chí
Minh vẫn chưa xây dựng được cơ sở khoa học trong tuyển chọn và đào
tạo VĐV xe đạp thể thao, mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Công tác
huấn luyện và tuyển chọn VĐV năng khiếu tất cả các tuyến ở các quận
huyện chưa được tiến hành theo một hệ thống và tiêu chuẩn thống nhất.
Do đó việc xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn cho các VĐV nam xe đạp
đường trường (13 – 15 tuổi) ở Thành phố Hồ Chí Minh là rất quan trọng
và cấp thiết. Thật vậy lứa tuổi 13 - 15 là giai đoạn huấn luyện ban đầu
trong toàn bộ qui trình huấn luyện nhiều năm của môn xe đạp đường
trường. Nó đóng vai trò vô cùng quan trọng cho việc đặt nền móng cho

nhất, chưa có chuẩn mực chung và tiêu chuẩn tuyển chọn khoa học cho
tất cả các độ tuổi. Do đó việc xây dựng một tiêu chuẩn tuyển chọn toàn
diện cả về thể lực, tâm lý và khả năng chức phận của cơ thể vận động
viên, theo một qui trình và trong một hệ thống chặt chẽ, khoa học được coi
là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết.
Từ đó chúng tôi chọn đề tài : “Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV nam
13 – 15 tuổi môn xe đạp đường trường, tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác đònh chỉ tiêu và xây dựng hệ thống tiêu
chuẩn tuyển chọn VĐV nam 13 – 15 tuổi môn xe đạp đường trường, tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó cung cấp cho các huấn luyện viên những
thông tin chính xác và khoa học trong tuyển chọn VĐV xe đạp đường
trường.
Để thực hiện mục tiêu trên đề tài giải quyết hai nội dung sau:
Nội dung 1
: Xác đònh các chỉ tiêu về hình thái, thể lực, kỹ thuật, tâm lý
và chức năng cơ thể trong tuyển chọn VĐV xe đạp đường trường 13 – 15
tuổi
.
Nội dung 2
: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV xe đạp
đường trường 13 – 15 tuổi.
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về môn xe đạp thể thao.
1.1.1 Đặc điểm môn xe đạp thể thao.
1.1.1.1 Đặc điểm nguyên lý động lực học và kỹ thuật môn xe đạp thể thao:
Xe đạp thể thao là môn thể thao có chu kỳ vận động bằng hai chân theo
vòng tròn của đóa xe, có loại hình thi trong sân và thi đường trường trên quốc
lộ (đường nhựa), trong lòng chảo (Velodrom) và trên đòa hình gồ ghề (việt dã).
Các nội dung thi gồm tính thời gian (đường nhựa, lòng chảo), đua đồng đội
(đường nhựa, lòng chảo, đòa hình). Thời gian thi có thể là một ngày và nhiều

phần dưới tay cầm và giữ trọng tâm cơ thể cân bằng và đồng thời VĐV
phải quan sát kòp thời các tình huống thay đổi trong khi đua và suy nghó
chiến thuật, phản ứng kòp thời.
Do vậy, VĐV luôn luôn ngẩng đầu quan sát động thái cuộc đua. Duy
trì trong thời gian dài như vậy, làm cho cơ lưng, cơ cổ cơ vai vào trạng
thái tónh lực, nhưng chân dưới lại hoạt động theo trạng thái động lực.
Đặc điểm mệt mỏi của VĐV xe đạp đầu tiên biểu hiện ở các phần
hoạt động tónh lực, sẽ giảm khả năng hoạt động và sẽ phá vỡ tư thế có lợi
như đã nói trên. Do vậy VĐV xe đạp cần phải duy trì cường độ trung bình
trong thời gian dài (cự ly trên 50 km). Trong quá trình tập, góc độ thân
mình trong điều kiện giảm sức cản không khí, luôn luôn phải điều chỉnh
lúc cao, lúc thấp VĐV hoạt động thay đổi để khi thi đấu khỏi bò mệt mỏi
các nhóm cơ cổ, cơ tay và ức chế thần kinh trung ương. Quan sát thấy:
những VĐV đạp xuất sắc trong thi đấu luôn luôn lợi dụng phản xạ tư thế
phần đầu, cố gắng điều chỉnh tư thế đầu và thân nhòp nhàng, hợp lý.
Từ những đặc điểm trên, trạng thái hoạt động của VĐV XĐTT so với
các VĐV của các môn thể thao khác có những đặc điểm khác sau đây:
Trọng lượng VĐV đè nặng thẳng đứng trên xe đạp trong quá trình đua
gây lực ma sát, nên trong quá trình thi đấu môn XĐTT VĐV phải chòu ngoại
lực tác động. Ngoại lực quan trọng nhất là lực ma sát sản sinh ra khi bánh xe
tiếp xúc với đất, khi VĐV chuyển động. Lực ma sát này tính theo công thức:
F
masát = Kn x r / h
Kn : Là tổng trọng lượng của xe đạp và cân nặng của VĐV.
r : Là bán kính của bánh xe đạp.
h : Là cự ly giữa bánh xe trước thực tế tiếp xúc với mặt đất và điểm
chống lý thuyết mặt đất với bánh xe.
Ngoại lực quan trọng nữa là sức cản của gió, VĐV xe đạp trong quá
trình thi đấu phải chòu lực cản của không khí, gió ngược.
Theo tác giả Hill – nhà sinh học – vật lý người Anh thì công thức sức

S = 71,84 x W 0,432 x h 0,725
Trong đó: W là trọng lượng (Kg) và h : chiều cao (cm) [28, tr 9].
Những cơ sở nguyên lý khí động học trên, VĐV xe đạp phải chòu lực
cản không khí rất lớn khi phải tiến hành thi đấu ngược gió. Để giảm sức cản
này trong quá trình thi đấu phải tập luyện sức bền, sức mạnh và thực hiện các
kỹ thuật động tác: đẩy ép vai về trước, nằm ngang lưng để giảm sức cản
không khí và hai tay cùng nắm vào phần dưới của tay lái, giữ trọng tâm cân
bằng và đồng thời VĐV phải quan sát kòp thời các tình huống thay đổi trong
đường đua và suy nghó chiến thuật, phản ứng kòp thời [34, tr 141].
VĐV xe đạp khi hoạt động có trạng thái bò hạn chế về kích thước xe
đạp, nên khả năng hoạt động hẹp, khu vực hoạt động đùi cố đònh, nhưng
nhiệm vụ là phải cưỡi xe lao về trước. Do vậy huấn luyện kỹ thuật chuyên
môn phải tỉ mỉ và kiên trì tập luyện mỗi một mắt xích kỹ thuật và các yếu tố
tạo thành chúng. Ngoài ra trong khi thực hiện các kỹ thuật trên đường đua
phải chú ý đến tính ổn đònh tư thế đạp xe, tính nhòp điệu của động tác đạp xe
và tính hợp lý điều khiển tốc độ. Những yếu tố này rất quan trọng trong quá
trình huấn luyện cũng như thi đấu môn XĐTT.
Môn XĐTT dùng sức người để điều khiển phương tiện, làm chuyển động
lực, nên VĐV phải biết sử dụng hết các đặc điểm có lợi của chiếc xe để phát
huy hết tiềm năng hoạt động của cơ thể. Do vậy, sử dụng hợp lý chiếc xe đạp
đua là vấn đề quan trọng của công tác huấn luyện và thi đấu môn xe đạp. Ví dụ:
sử dụng hợp lý sự chuyển động với độ dài khác nhau của giò đạp, bàn đạp [69, tr
903].
Không dùng sức tối đa là đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình luyện
tập và thi đấu. Trong quá trình thi đấu trên đường trường quốc lộ, VĐV không
nên dùng sức tối đa trừ khi thực hiện kỹ thuật xuất phát, ngay cả khi leo dốc nên
dùng tần số để nâng cao tốc độ là chính, trong quá trình thi đấu môn XĐTT
phần nhiều không nên dùng sức tối đa [28, tr 9 – 10]. Mặt khác, trong cuộc đua
VĐV phải luôn luôn giữ sức, phí sức sớm ảnh hưởng không tốt phần sau trong
cuộc đua, vì vậy VĐV phải giữ sức tốt ngay khi có thể như: tranh thủ uống, ăn

trung bình 8,3 – 16 m/gy. Khi đua có tốc độ cao, yêu cầu các cơ quan cảm
giác tinh tế và khả năng cân bằng các bộ phận.
Trong quá trình huấn luyện, sự thay đổi tốc độ sẽ kích thích mạnh mẽ
vào cơ quan cảm giác vò trí cơ thể và gây nên phản ứng sinh lý rất lớn. Nhưng
khả năng và mức độ phản ứng sinh lý này nhỏ dần và không cảm thấy khi trình
độ huấn luyện của VĐV được nâng cao, bởi vì lúc đó năng lực cân bằng cơ thể
đã được nâng cao, chức năng cơ quan tiền đình cũng được nâng cao, tính ổn
đònh của cơ quan tiền đình là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ huấn
luyện của VĐV XĐĐT. Ngoài ra, VĐV XĐĐT yêu cầu có chức năng thò giác
tương đối cao. Bởi vì họ phải có trung tâm thò giác quan sát sự thay đổi phía
trước, đồng thời phải có khả năng thò giác quan sát các đối thủ hai bên. Các
vận VĐV XĐĐT xuất sắc đều có khả năng phân tích tổng hợp nhanh chóng
các tình huống xảy ra.
Đặc điểm cung cấp năng lượng cho VĐV XĐĐT:
Đua XĐĐT là môn thể thao sức bền hoạt động trong thời gian dài, nên
nhu cầu năng lượng cung cấp cho VĐV là rất lớn và liên quan mật thiết đến
thành tích thi đấu của họ. Để thực hiện chiến thuật có những đoạn VĐV cần
phải bứt phá vượt đối thủ hoặc rút về đích, với cường độ vận động tối đa nên
năng lượng cung cấp phải lớn và biến đổi tùy thuộc vào tốc độ trên đường đua.
Về các nguồn cung cấp năng lượng, có những đoạn chỉ cần sử dụng năng lượng
ưa khí nhưng cũng có đoạn phải huy động năng lượng yếm khí để tăng cường
cung cấp năng lượng cho những pha đua tốc độ.
Theo nghiên cứu của các tác giả (J.F.Mayer – G. Peres 1982) khi
nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mối quan hệ giữa các cự ly thi đấu
của một số môn đua xe đạp và tỷ lệ sử dụng nguồn năng lượng ưa khí và
yếm khí thì sức bền của VĐV XĐĐT chủ yếu do hệ năng lượng oxy hóa
(glucose và axít béo) cung cấp, chiếm tỷ lệ 95% [6, tr 18]. Tuy nhiên với
những pha đua tốc độ năng lượng được cung cấp từ nguồn yếm khí là rất
quan trọng. Như vậy, đặc điểm riêng biệt của môn đua XĐĐT thì các
nguồn năng lượng cung cấp chủ yếu cho VĐV trên đường đua biến đổi

Theo D.Harre, các yếu tố xác đònh thành tích thể thao cá nhân bao
gồm: các phẩm chất nhân cách, các tố chất thể lực, kỹ thuật – phối họp
vận động, chiến thuật và các yêu cầu về cấu trúc cơ thể [9, tr 44]. Mặt
khác, ông đã chỉ ra lượng vận động tập luyện và lượng vận động thi đấu
là những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến nhòp độ phát
triển và độ ổn đònh của thành tích thể thao [9, tr 38].
Thành tích XĐTT là tập hợp các trạng thái sung sức, nghóa là của
khả năng về năng lượng sinh học, thần kinh – cơ, tâm lý và kỹ, chiến thuật.
Mỗi mặt này đều là những tố chất bẩm sinh (khả năng năng lượng sinh
học, hình thái học, nhân cách, trực giác, .v.v.) và phát triển nhờ tập luyện,
huấn luyện và hoàn thiện.
Ngoài ra những yếu tố cơ bản quan trọng khác có liên quan đến
thành tích môn xe đạp thể thao là: động cơ thi đấu, mức độ khát vọng đạt
thành tích, đặc điểm tâm lý và môi trường của VĐV [53, tr 129].
Theo Liên đoàn XĐTT Việt Nam thì những yếu tố đảm bảo cho việc
đạt được thành tích môn XĐTT đều thuộc về các chỉ số về: sinh lý học (VO
2

max, giới hạn xuất hiện các cơ chế Lactac .v.v.), tâm lý học (tập trung tư
tưởng, cảm xúc ổn đònh .v.v.), thần kinh vận động (thời gian phản ứng, khả
năng phối hợp …), hay thuộc chiến lược (các bước tiến hành, các phương
pháp thực hiện …) [50, tr 157].
Mặt khác theo Vesa Naukkarinen B.S thì thành tích của XĐTT
thường được biểu hiện bởi tốc độ của các tay đua. VĐV đua xe đạp phải
vượt qua 2 loại lực cản để sinh ra chuyển động: lực cản lăn tròn và lực
cản không khí.
Lực cản lăn tròn đã được chỉ ra là phụ thuộc vào trọng lượng cơ
thể của từng cá nhân, áp lực căng phồng của lốp xe, và những đặc trưng
của bề mặt đường đua và lốp bánh xe.
Sức cản không khí phụ thuộc vào khu vực phía trước của tay đua và

cần theo tỷ lệ họp lý. Theo Bác só Bùi Văn Đức thì các VĐV XĐTT cần ăn
theo công thức: 4/7 gluxit : 2/7 lipit : 1/7 protit [11, tr 75]. Cần lưu ý rằng
mỗi gram protit và gluxit cung cấp cho cơ thể 4,1 kg calories, 1 gram mỡ
cung cấp 9,3 kg calories.
Theo John Forester [59, tr 362 - 363] các VĐV đua XĐĐT phải thi
đấu nhiều ngày liên tục ngoài trời nên thời tiết (nóng, lạnh, mưa, nắng,
gió .v.v.) cũng ảnh hưởng đến thành tích của các tay đua.
Irvin E.Faria (1998) cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích
thi đấu của VĐV là: “Khả năng phân phối và sử dụng oxy (VO2max), kỹ
thuật đua xe, các chiến thuật khi tham gia thi đấu, kinh nghiệm thực tế,
động lực của cá nhân” [57, tr 118].
Theo Trònh Phước Tiến [68] và Edmund R. Burke, PHD [54].Trong
các môn thể thao có dụng cụ, việc lựa chọn dụng cụ thi đấu quyết đònh
thành tích thi đấu của VĐV. Do đó, việc lựa chọn chiếc xe đạp để thi đấu
cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến thành
tích thi đấu của VĐV XĐTT.
Ngoài ra, theo Loras S, CoWie, B.S [60, tr 2] các yếu tố bên ngoài
như trang phục thi đấu (giảm lực cản của gió), sự yêu thích trang phục và
các logo mà VĐV mang trên áo thi đấu, để quảng cáo (tạo tâm lý hưng
phấn, lòng quyết tâm, tự hào) cũng ảnh hưởng đến thành tích thi đấu của
VĐV.
1.1.3 Hệ thống và các giai đoạn huấn luyện VĐV XĐĐT.
1.1.3.1 Độ tuổi bắt đầu tập luyện môn xe đạp:
Việc xác đònh chính xác, hợp lý độ tuổi bắt đầu tập luyện ở môn thể
thao chuyên sâu có ý nghóa quan trọng, là tiêu chí cơ bản để phân chia
giai đoạn trong quy trình huấn luyện nhiều năm trên cơ sở các giai đoạn
phát triển sinh học tự nhiên của con người. Chuyên môn hoá thể thao
muộn hoặc quá sớm đều có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển
của VĐV sau này gây khó khăn trong đònh hướng, mục đích huấn luyện
và tuyển chọn tài năng trẻ [62, tr 19].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status