1
ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP MIỀN NAM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM CKTBKT NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO GIÁM ĐỊNH
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG KHẨU
PHẦN NUÔI DƯỠNG BÊ ĐỰC LAI
HOLSTEIN FRIESIAN (HF)
HƯỚNG SỮA LẤY THỊT
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
hiệu quả kinh tế cao. Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
Sản xuất và thử nghiệm chất thay sữa từ nguồn nguyên liệu địa phương, thay
thế sữa bò mẹ sử dụng cho bê đực sau khi sinh cho đến khi cai sữa.
Thử nghiệm khẩu phần nuôi dưỡng bê đực sau khi cai sữa đến khi giết thịt
trên cơ sở tận dụng nguồn thức ăn địa phương.
Chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiển sản xuất.
- Nội dung (theo RD):
Đề tài sẽ thực hiện theo 03 nội dung chính như sau:
v Nội dung 1: Sản xuất thử nghiệm chất thay sữa từ nguồn nguyên liệu địa
phương thay thế sữa bò mẹ nuôi bê đực lai Hà Lan sau khi sinh (1-3 ngày
tuổi) đến khi cai sữa (4 tháng tuổi).
§ Nghiên cứu tổ hợp 02 công thức chất thay sữa từ các nguyên liệu như :
công thức 1: bột đậu nành enzym, bột gạo, béo thực vật, vitamin, khoáng
và enzym gọi là SCMR (Soybean calf milk replacer); công thức 2: bột
đậu nành enzym, sữa ít béo, vitamin, khoáng và enzym gọi là CMR (Calf
Milk Replacer); tạo thành hỗn hợp bột có 20-24% chất béo; 22-24% chất
đạm, khoáng tổng số 10%, xơ thô 0,5-1%, ẩm độ 0,3-0,5%, lactose 40%.
§ Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển khi sử dụng chất
3
thay sữa từ bột đậu nành (SCMR), sữa thay thế CMR và sữa bò mẹ gọi là
CM (Cow Milk) trên bê đực lai Hà Lan sau khi sinh.
v Nội dung 2: Thử nghiệm khẩu phần nuôi dưỡng bê sau khi cai sữa đến khi
giết thịt trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu tại địa phương.
• Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của việc thay thế cỏ, cám trong khẩu phần bằng
các phụ phẩm nông nghiệp đã được chế biến như rơm ủ 4% urê, thân bắp
ủ chua, vỏ khoai mì khô/ủ chua, khoai mì lát đến khả năng sinh trưởng và
phát triển của bê giai đoạn 5-14 tháng tuổi.
• Thí nghiệm 3: Nuôi vổ béo bê lai hướng sữa lấy thịt theo kỹ thuật phối
4
các phụ phẩm nông nghiệp đã được
chế biến như rơm ủ 4% urê, thân bắp ủ
chua, vỏ khoai mì khô/ủ chua, khoai
mì lát đến khả năng sinh trưởng và
phát triển của bê giai đoạn 5-14 tháng
tuổi
Hà Lan (9 bê cái và 12 bê đực) tại Long
Thành từ 07/2007 đến 02/2008 (bê từ 5
đến 10 tháng tuổi)
Thí nghiệm 3: Nuôi vổ béo bê lai
hướng sữa lấy thịt theo kỹ thuật phối
hợp khẩu phần tổng hợp (giai đoạn 15-
18 tháng tuổi)
Bước đầu thực hiện thí nghiệm vỗ béo cho
12 bê đực lai Hà Lan, giống ≥ F3; trọng
lượng bình quân 220 kg tại 01 hộ chăn
nuôi ở Hóc Môn trên cơ sở sử dụng khẩu
phần có mức năng lượng (ME) khác nhau
từ 2.300 đến 2.500 kcal/kg DM khẩu phần;
đạm thô (CP) từ 10-12%
- Những nội dung còn lại.
• Tiếp tục theo dõi thí nghiệm 2 ở các hộ chăn nuôi tại Hóc Môn và Long
Thành.
• Tiếp tục triển khai thí nghiệm 3: Nuôi vổ béo bê lai hướng sữa lấy thịt
(giai đoạn 15-18 tháng tuổi).
• Tổ chức Hội thảo chuyển giao kết quả nghiên cứu.
• Báo cáo nghiệm thu đề tài
mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Ở nước ta việc sử dụng sữa thay thế ni bê vẫn
còn hạn chế là do: chăn ni thường khơng tập trung và mang tính nhỏ lẽ; giá sữa
6
thay thế ngoại nhập còn khá cao; quan trọng hơn hết là do trình độ và sự e ngại của
người chăn ni khi sử dụng những sản phẩm khơng có nguồn gốc tự nhiên; và cuối
cùng là làm sao giải quyết tốt những vấn đề có liên quan như: hiệu quả kinh tế,
chất lượng sữa thay thế, phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng… Chính vì thế việc
thử nghiệm sử dụng sữa thay thế và xây dựng khẩu phần ăn trên cơ sở sử dụng
ngun liệu tại chổ cho bê sau cai sữa trong điều kiện Việt Nam có ý nghóa thiết
thực trong chăn nuôi bò hiện nay.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngồi nước
Vỗ béo bê đực hướng sữa lấy thịt khơng mới đối với những nước có nền chăn
ni tiên tiến và đã trở thành một qui trình cơng nghiệp được áp dụng rộng rãi ở các
nước như Úc, Mỹ, Anh Riêng những quốc gia mà trình độ chăn ni chưa cao, đã
có nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn đề này như: Alvarez và ctv, 1980; Velazco
và ctv, 1982; Khan và Preston, 1985; Gaya và ctv, 1987; Kevin và ctv, 2000; Jenkin
và ctv, 2001; Quigley và ctv, 2001; Robert và ctv, 2003 đã thử nghiệm dùng sữa
nhân tạo trên nền là sữa khơng béo bổ sung một số ngun liệu khác như: béo thực
vật, bột lòng đỏ trứng gà, một số vitamin và khống cho bê Hà Lan thuần và bê lai
giữa Hà Lan và Hereford đã cho kết quả rất khả quan, tăng trọng bê từ 353-500
gam/con/ngày so với 497-770 gam/con/ngày khi bú bò mẹ.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trung tâm Nghiên cứu KHKT và Khuyến nơng TP Hồ Chí Minh đã xây dựng 5
mơ hình điểm ni bê đực (giống lai hướng sữa) tại 5 hộ ở xã Thới Tam Thơn,
huyện Hóc Mơn cho kết quả rất tốt. Theo những hộ ni này, việc giữ bê đực để
ni lấy thịt hiệu quả hơn thay vì bán làm bê thui, lại dễ ni, tăng trọng nhanh (từ
100kg/con lên 300 –360kg/con trong 12 – 18 tháng. Lợi nhuận thu được dao động
cầu thịt bò trong nước và quan trọng là nó góp phần tăng thêm thu nhập cho chăn
nuôi bò sữa khi gía cả thị trường của con giống không ổn định.
Như chúng ta biết, sữa là thức ăn tốt nhất và quan trọng nhất không thể thiếu
đối với bê đặc biệt là khi bê mới sinh ra, vì sữa là nguồn thức ăn chứa đầy đủ dưỡng
chất dưới dạng dễ tiêu hóa, là một hệ thống keo phức tạp, là một chất màu trắng ánh
vàng chứa hàng trăm chất khác như mỡ sữa, protein sữa, đường sữa, chất khoáng,
vitamin, men, kích thích tố… Sữa giữ vai trò quan trọng là do trong sữa có chứa đầy
đủ các loại acid amin thiết yếu, 18 loại acid béo, 12 loại sinh tố và nhiều nguyên tố
8
đa và vi lượng. Do đó để có sự phát triển hoàn thiện thì sữa cần phải có đầy đủ
dưỡng chất.
Thông thường tất cả động vật nhai lại khả năng kháng bệnh có được là do
chúng được uống sữa đầu. Khả năng kháng bệnh của chúng không phải có được
nhờ các kháng thể trong máu. Vì vậy, điều quan trọng là gia súc non phải được
uống sữa đầu ngay sau khi sinh càng sớm càng tốt. Do đó bê cần phải được bú sữa
đầu 5-7 ngày, vì trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể và là thức ăn dễ tiêu hóa
thỏa mãn các nhu cầu dinh dưỡng của bê.
Ngoài ra sữa đầu còn chứa hàm lượng MgSO
4
cao, hoạt động như là một
chất tẩy nhẹ, tẩy “cứt su” làm sạch đường tiêu hóa. Độ chua của sữa đầu cao (48-
50
o
T) ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đường ruột. Đặc biệt sữa đầu chứa
Immunoglobulin cao (5,5-6,8%).
Trong sữa đầu có hàm lượng chất dinh dưỡng và kháng thể cao hơn gấp 4 lần
sữa thường. Có hàm lượng chất béo và protein cao. Vitamin A trong sữa đầu nhiều
gấp 10 lần so với sữa thường. Bê mới sinh ra không có sinh tố A dự trữ nên sữa đầu
Nguyên liệu sử dụng trong sữa thay thế phải có giá trị dinh dưỡng tốt, đặc điểm
sinh học gần giống sữa nguyên và có thể sử dụng sớm cùng sữa nguyên. Bên cạnh
đó, một yêu cầu quan trọng nữa là nguyên liệu sử dụng phải ổn định, giá thành hiệu
quả và phải hòa tan tốt trong nước.
a. Yêu cầu chất thay thế sữa.
Chất thay thế sữa phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Là những thực liệu dễ tiêu hóa.
- Có độ ngon miệng cao giúp bê thích khi uống.
- Đảm bảo tốt về sức khỏe, giúp bê tăng trọng nhanh.
- Giảm nguy cơ tiêu chảy.
- Hòa tan tốt trong nước.
- Đạt hiệu quả kinh tế.
- An toàn sinh học.
b. Sử dụng Protein đậu nành trong sữa thay thế.
Tại Mỹ và các nước chăn nuôi công nghiệp khác đã sử dụng những sản phẩm
như: sữa gầy, sữa tách béo, casein, whey protein để sử dụng trong sản phẩm sữa
thay thế tuy nhiên với giá thành khá đắc vì thế họ đã nghiên cứu tìm ra sản phẩm
protein từ đậu nành dùng trong chất thay sữa mà có thể chấp nhận được. Hiện
nay protein đậu nành đã được sử dụng khá rộng trong chất thay sữa. Trong bột
đậu nành chứa 50% protein và các acid amin thiết yếu, nhất là
lysin và
methionin.
Đậu nành là loại hạt họ đậu chủ lực được sử dụng trong thức ăn chăn
nuôi, với giá thành rẻ, an toàn, có thể làm cho thịt thơm ngon và được dùng với
tỷ lệ cao trong khẩu phần của gia súc. Tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố hạn chế
10
khi sử dụng protein đậu nành trong sữa thay thế là do sự hiện diện của những
yếu tố kháng dinh dưỡng trong đậu nành như:
11
Những yếu tố kháng dinh dưỡng còn trong Dabomb-P ở tỉ lệ rất thấp
Antitrypsin 1mg/g protein.
- Khả năng kết dính của Dabomb-P tương tự như của bột, đây là chất kết dính
tự nhiên là nguồn cung cấp protein tốt nhất.
Quy trình sản xuất Dabomb-P
Bột đậu nành bỏ vỏ
Tiệt trùng (130-135
o
C, 5s)
Lên men lactobacillus
Làm khô chân không (60
o
C, 5hrs)
Nghiền
Dabomb-P
Su Chiang Co đã tiến hành thí nghiệm trên heo cai sữa sau 28 ngày, giống lai
3 máu Duroc * Yorkshire * Landrace, tiến hành tại trại chăn nuôi Joy Chan’s Farm,
Shilo, Đài Loan, 2003. Dùng 25% Dabomb thay cho 21,1% bánh dầu đậu nành (48)
dựa trên thành phần protein thô cho kết quả rất tốt.
Ngoài ra, một sản phẩm của công ty trên cũng được chúng tôi đưa vào sử
dụng trong sữa thay thế là Rubys protein, đây là chất thay thế plasma với những đặc
Độ tiêu hóa chất xơ trong dung dịch kiềm 4,0%
Độ tiêu hóa chất xo trong dung dịch acid 6,2%
Ẩm độ 8,0%
Theo khuyến cáo của công ty, rubys protein được sử dụng trong sữa thay thế
ở mức <5% sẽ đạt hiệu quả tốt.
c. Sử dụng protein nguồn gốc động vật trong sữa thay thế.
Sản phẩm sữa ít béo của Hà Lan với tên thương mại là Super cowlac được sử
dụng trong sữa thay thế là do thành phần dinh dưỡng tốt và giá thành thấp. Sản
phẩm này được xem như là nguồn cung protein có nguốn gốc động vật với thành
phần dinh dưỡng như sau: vật chất khô (DM) 97%; đạm thô (CP) 40%;
carbonhydrate 35%; béo thô 2%; xơ thô 2%; khoáng tổng số 7% và một số acid
amin thiết yếu Lysin 2.2%; Methionin + Cystin 1,15%; Calcium 0,9% và Phosphor
0,85% (nguồn Su Chiang Co, 2007).
d. Tổ hợp công thức chất thay sữa.
• Công thức 1-CT1, dựa trên nền là nguồn đạm thực vật.
Dabomb đáp ứng được đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho thú dạ dày đơn và là
nguồn thức ăn có hàm lượng protein thực vật rất dồi dào có thể thay thế cho protein
trong sữa vì thế chúng tôi sử dụng Dabomb như nguồn nguyên liệu chính trong
công thức 1 của chất thay sữa. Để đáp ứng được giá trị dinh dưỡng như sữa nguyên
vì thế ngoài nguyên liệu chính là Dabomb còn được kết hợp với khoáng, vitamin,
13
enzyme (Rubys Protein), bột gạo, béo thực vật gọi chung là SCMR (Soybean Calf
Milk Replacer).
• Công thức 2-CT2, dựa trên nền là nguồn đạm động vật.
Với giá thành tương đối, mà vẫn đáp ứng được đầy đủ giá trị dinh dưỡng như
sữa nguyên, vì thế chúng tôi chọn sản phẩm Milklac (sữa ít béo) để cho ra công
thức 2 kết hợp với vitamin, khoáng, enzym (Rubys Protein) gọi là CMR (Calf Milk
Replacer).
thay sữa từ bột đậu nành (SCMR), sữa thay thế (CMR) và sữa bò mẹ (CM)
trên bê đực lai Hà Lan sau khi sinh.
- Gia súc: 48 bê đực lai Hà Lan và 9 bê cái lai Hà Lan; Giống ≥ F2; Trọng
lượng bình quân 28 kg được bú sữa đầu 3-5 ngày, không có dị tật và khoẻ
mạnh, được sử dụng cho thí nghiệm.
- Địa điểm : Thí nghiệm được tiến hành tại trại chăn nuôi bò là Xí nghiệp bò
sữa An Phước, Long Thành, Đồng Nai (XNBSAP); 02 trại chăn nuôi gia
đình hộ ông Nguyễn Văn Ngàn (Hộ A) và hộ Ông Nguyễn Thành Phương
15
(Hộ B) tại Hóc Môn TP.HCM (TCNGĐ), thời gian thí nghiệm kéo dài trong
04 tháng từ 21/03/2007 đến 21/07/2007 (Danh sách bê, trọng lượng sơ sinh
đính kèm phần phụ lục).
- Bố trí thí nghiệm: 57 bê đực và cái lai Hà Lan, giống F
2
, F
3
tại XNBSAP và
≥F
3
tại TCNGĐ; Trong đó, 30 bê của 2 hộ ở Hóc Môn và 27 bê của
XNBSAP, được phân làm 03 nhóm : nhóm 1 gọi là nhóm đối chứng (ĐC) sử
dụng sữa bò mẹ hay sữa nguyên (Cow milk-CM), nhóm 2 sử dụng sữa thay
thế CT1 (SCMR) và nhóm 3 sử dụng sữa thay thế CT2 (CMR). Các bê trong
mỗi nhóm sẽ tương đồng với nhau về trọng lượng, giống, phái tính. Thí
nghiệm được bố trí theo kiểu 2 yếu tố (khẩu phần, phái tính) ở Long Thành
và 1 yếu tố (khẩu phần) ở Hóc Môn.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
ĐC-CM CT1-SCMR CT2-CMR
Khi bê được bắt về trong 3 ngày đầu bê được tập uống sữa trong xô, bình quân
khoảng 3-4 kg/con/ngày chia làm 2 lần, sáng 7 giờ và chiều vào lúc 16 giờ. Đến
ngày thứ 7; tùy theo lô thí nghiệm sẽ thay thế sữa bò mẹ (sữa nguyên) bằng sữa
thay thế cho bê ở lô sử dụng sữa thay thế SCMR và CMR như sau (áp dụng từ ngày
thứ 7):
• Ngày đầu tiên (ngày thứ 7) : 100% sữa bò mẹ
• Ngày thứ hai (ngày thứ 8): 30% sữa thay thế + 70% sữa bò mẹ.
• Ngày thứ 3 (ngày thứ 9): 50% sữa thay thế + 50% sữa bò mẹ.
• Ngày thứ 4 (ngày thứ 10) : 70% sữa thay thế + 30% sữa bò mẹ.
• Ngày thứ 5 (ngày thứ 11): 100% sữa thay thế.
Sữa thay thế được pha bằng nước ấm khoảng 40-50ºC theo tỷ lệ 1 kg sữa + 8 lít
nước tạo thành 9 lít sữa thay thế. Lượng sữa sử dụng cho bê tối thiểu 4
kg/con/ngày, chia làm 02 lần/ngày (sáng 40%/tổng sữa tiêu thụ cả ngày; chiều
60%/tổng sữa tiêu thụ cả ngày). Khi bê được 1-2 tuần tuổi (10-14 ngày), tập cho bê
ăn sớm (áp dụng cho cả 3 lô thí nghiệm) bằng những thức ăn có chất lượng tốt như
cỏ non (cỏ sả nhỏ ở Long Thành; Cỏ lùn ở Hóc Môn), cỏ được phơi héo trước khi
cho bê ăn nhằm tránh tình trạng chướng hơi; Cám hỗn hợp sử dụng là loại cám viên
số hiệu 1102, do công ty Cargill sản xuất có 17% đạm thô. Khi bê được 72 ngày
tuổi (10 tuần hay 2,5 tháng tuổi) sẽ cai sữa lúc này bê đã ăn được trên 0,8 kg thức
ăn tinh hỗn hợp/ngày và cỏ khoảng 2-3 kg/con/ngày. Cỏ và cám cho bê ăn tự do
sau khi uống sữa ngày 2 lần (cám trước cỏ sau).
Từ 73-120 ngày tuổi bê được cung cấp cỏ ăn tự do ngày 2 lần; thức ăn tinh hỗn
hợp sử dụng là cám dạng bột loại C40 từ 1-1,5 kg/con/ngày. Ngoài ra, hèm bia và
xác mì được trộn chung được bổ sung thêm cho bê theo tỷ lệ 2 hèm bia/1 xác mì ăn
tự do ngày 2 lần sau khi cho ăn cỏ và cám.
- Chỉ tiêu theo dõi:
§ Lượng sữa và số lượng cỏ, cám , hèm, xác mì tiêu thụ thực tế theo cá thể.
§ Tăng trọng bê: theo dõi cá thể bằng cân đại gia súc, ½ tháng 1 lần trong
thời gian 4 tháng. Bao gồm 2 chỉ tiêu:
loại thức ăn chủ yếu bao gồm : thức ăn thô là cỏ trồng (cỏ sả nhỏ, cỏ lùn xanh),
rơm ủ urê 4%, rơm khô; thức ăn tinh là cám hỗn hợp, hèm bia, xác mỳ.
- Đối tượng bê đưa vào thí nghiệm gồm 45 bê từ thí nghiệm 1, phân làm 3 nhóm.
Mỗi nhóm sẽ có 15 bê, sao cho tương đối đồng đều về tuổi, giống, phái tính và
trọng lượng giữa các nhóm.
- Thời gian thí nghiệm kéo dài trong 10 tháng bắt đầu từ 08/2007 đến 05/2008 tại
1 hộ của Xí nghiệp bò sữa Long Thành-Đồng Nai; hộ anh Nguyễn Văn Ngàn và
hộ anh Trương Hoài Phương tại Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
- Khẩu phần thí nghiệm bao gồm 3 dạng khẩu phần : Khẩu phần 1 (T1) cỏ (ăn tự
do), cám hỗn hợp dạng bột C40 do proconco sản xuất có 15% đạm thô; Khẩu
phần 2 (T2) cỏ , rơm ủ urê (thay thế 25% lượng chất khô của cỏ trong khẩu phần
1), thay thế cám hỗn hợp bằng hèm bia, xác mì; Khẩu phần 3 (T3) cỏ, rơm ủ urê
4% (thay thế 50% lượng chất khô của cỏ trong khẩu phần 1), và thức ăn tinh hỗn
hợp cũng được thay thế bằng hèm bia và xác mì; Nhằm bổ sung thêm lượng đạm
khẩu phần 2 và 3 sẽ bổ sung thêm 50-70 gam urê/con/ngày. Giá trị dinh dưỡng
18
khẩu phần được tính toán sao cho phù hợp với từng cá thể bò thí nghiệm. Lượng
vật chất khô tổng số ăn được bình quân của mỗi bò từ 3-3,5% (NRC, 2000). Tỷ
lệ tinh/thô khẩu phần dự kiến là 45/55 dựa theo kết quả nghiên cứu của các tác
giả Đinh Văn Cải và ctv (2000) ; Phạm Văn Quyến và ctv (2001) ; Nguyễn Văn
Vinh và ctv (2003). Thức ăn cung cấp theo từng lô theo đúng số lượng tính toán
2 lần/ngày (tinh và thô cho ăn riêng) thức ăn tinh cho ăn trước và thức ăn thô cho
ăn sau, theo dõi tăng trọng từng cá thể bằng cách cân trọng lượng 30 ngày/lần.
Chi tiết thành phần hóa học của các thực liệu sử dụng trong khẩu phần trình bày
bảng 2.1.
Bảng 2.1. Thành phần hóa học của các thực liệu sử dụng trong thí nghiệm
Thực liệu n VCK (kg)
CP
0,86 170 55 3000
Cám HH C40
*
0,87 150 100 2500
Ghi chú: * Thành phần dinh dưỡng ghi trên bao bì.
- Bố trí thí nghiệm theo kiểu phân lô đồng đều 1 yếu tố ở Hóc Môn (khẩu phần)
và 2 yếu tố ở Long Thành (khẩu phần và phái tính), mỗi lô có 15 con , tổng số có
3 lô (3 dạng khẩu phần) với 45 bê thí nghiệm bao gồm 21 bê tại XNBSAP; 24 bê
tại 02 TCNGĐ (mỗi trại 12 bê).
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
T1 T2 T3
Địa điểm
Đực Cái Đực Cái Đực Cái
XNBSAP (con) 4 3 4 3 4 3
Hộ A (con) 4 - 4 - 4 -
Hộ B (con) 4 - 4 - 4 -
Tổng cộng 12 3 12 3 12 3
- Chỉ tiêu theo dõi:
19
v Lượng thức ăn tiêu thụ bình quân trên lô/ngày.
v Tăng trọng bê qua từng tháng thí nghiệm.
v Các rối loạn tiêu hóa và bệnh tật xãy ra nếu có.
v Hiệu quả kinh tế thu được.
2.2.2 Thí nghiệm 3:
Nuôi vổ béo bê lai hướng sữa lấy thịt (giai đoạn 15-18 tháng
tuổi).
- Gia súc thí nghiệm: 12 bò đực lai Hà Lan, 12-13 tháng tuổi, giống F3, F4; trọng
v Lượng thức ăn tiêu thụ trên con/ngày.
v Tăng trọng bê qua từng tháng thí nghiệm (cân bằng cân đại gia súc).
v Hạch toán hiệu quả kinh tế thu được.
2.3. Xử lý số liệu.
Tất cả các số liệu thu thập, được nhập vào phần mềm Excel và xử lý theo
kiểu thí nghiệm 2 yếu tố cho thí nghiệm ở Long Thành và 1 yếu tố cho thí nghiệm ở
Hóc Môn bằng phần mềm Minitab Version 12.1.
21
PHẦN III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nội dung 1 : Sản xuất thử nghiệm chất thay sữa từ nguồn nguyên liệu
địa phương thay thế sữa bò mẹ nuôi bê đực lai Hà Lan sau khi sinh (1-3
ngày tuổi) đến khi cai sữa (4 tháng tuổi).
3.1.1 Nghiên cứu công thức chất thay sữa.
Sữa thay thế cho bê phải dễ hòa tan được trong nước, mùi đặc trưng cho
nguyên liệu, không vị lạ và giá trị dinh dưỡng phải tương đương với sữa nguyên và
quan trọng hơn cả là giá thành phải thấp mới có hiệu quả cao. Trên cơ sở đó chúng
tôi đã nghiên cứu và sản xuất được 2 công thức sữa thay thế với thành phần các
nguyên liệu và tỷ lệ như bảng 3.1 với giá cho 1 kg sữa từ 21.000 đến 25.000 đồng
(giá được tính vào thời điểm tháng 04/2007); sản phẩm sữa thay thế này có giá trị
dinh dưỡng gần tương đương nhau vật chất khô 92-93%, đạm thô từ 29-35%, béo
thô từ 21-23% và lactose nằm trong khoảng từ 32-35% (bảng 3.2). Cứ 1 kg sữa này
pha với 8 lít nước sẽ tạo thành sữa thay thế có giá trị dinh dưỡng như sau: vật chất
khô 10-11%; đạm 3,5-3,9%; béo 2,4-2,6% và lactose 3,6-3,9% là tương đương với
giá trị dinh dưỡng của sữa nguyên nhưng giá lại rẽ hơn ½.
Bảng 3.1. Thành phần và tỷ lệ nguyên liệu của 2 công thức sữa thay thế
Thực liệu ĐVT SCMR CMR
Ruby Protein % 5.0 5.0
Dabomb-P (bột đậu nành) %
Giai đoạn Giới tính CM
(n=9)
SCMR
(n=9)
CMR
(n=9)
Đực 373.7±74.3 516.2±64.2 323.0±72.9
Sơ sinh đến 72 ngày tuổi
Cái 498.7±68.5 367.4±69.9 428.0±72.0
Đực 631.7±150.8
788.7±141.4
705.3±120.8
Từ 73 ngày- 120 ngày
Cái 505.6±139.3
722.3±129.9
899.7±157.5
Đực 459.8±77.8 599.6±68.9 473,0±71.5
Bình quân
Cái
504.1±71.4 509.9±69.4 574.0±76.9
Bình quân chung 510.9±41.7 535.9±51.9 507.5±52.2
Số liệu bảng 3.3 cho chúng ta nhận xét; giai đoạn từ sơ sinh đến 72 ngày tuổi
mức tăng trọng bình quân của bê đực và bê cái nằm trong khoảng từ 323-516
gam/con/ngày; giai đoạn từ 73 đến 120 ngày tuổi mức tăng trọng có cao hơn từ 505-
Biểu đồ 3.1 cho chúng ta nhận xét, tỷ lệ tăng trọng của bê của giai đoạn 1 ở
lô sử dụng sữa nguyên cao hơn so với 2 lô sử dụng sữa thay thế (88% so với 61 và
53%); Giai đoạn 2 tỷ lệ này lại theo chiều hướng ngược lại là bê ở 2 công thức sử
dụng sữa thay thế có tỷ lệ tăng trọng cao hơn so với lô sử dụng sữa nguyên; chính
điều này đã làm cho mức tăng trọng bình quân ở 3 lô đã không có sự chênh lệch
lớn. Điều này có thể là do ở 2 lô sử dụng sữa thay thế, do sử dụng những dưỡng
chất không phải từ nguồn sữa mẹ cung cấp đã giúp cho bộ máy tiêu hóa của bê ở 2
lô này đã phát triển nhanh hơn ở lô sử dụng sữa nguyên. Lượng sữa, cỏ, cám tiêu
thụ của bê từ sơ sinh đến 120 ngày tuổi được trình bày qua bảng 3.4 và 3.5.
Bảng 3.4 Tiêu thụ sữa, cám, cỏ của bê giai đoạn sơ sinh đến 72 ngày tuổi
ở Long Thành.
Ngày tuổi Lô
1-3 4-7 8-14 15-
21
22-
28
29-
49
50-
56
57-
63
64-
72
Khối lượng (kg) 29 33 35 38 40 44 49 53 61
Tổng
(kg)
Sữa (kg) 3.0 3.9 4.5 5.2 5.2 5.2 4.1 3.7 1.6
Bảng 3.5. Tiêu tốn thức ăn của bê giai đoạn 2 từ 73-120 ngày tuổi ở Long Thành
ĐVT CM SCMR CMR
Cỏ tươi Kg/con/ngày 6.55±0.11 6.71±0.11 6.61±0.13
Cám hỗn hợp Kg/con/ngày 0.98±0.01 0.89±0.02 0.81±0.02
Vật chất khô (DM) Kg/con/ngày 2.7 2.7 2.6
Năng lượng (ME) Mcal/con/ngày
6.1 6.0 5.8
Đạm thô (CP) Gam/con/ngày
386.4 376.8 360.2
Kết quả cho thấy ở giai đoạn 1 (từ sơ sinh đến 72 ngày tuổi), không có chênh
lệch nhiều về số lượng cỏ, cám và sữa tiêu thụ. Ở lô sử dụng sữa nguyên đã tiêu thụ
24
hết 285 kg sữa tươi, 34 kg cám và 77 kg sữa, so với 2 lô sử dụng sữa thay thế thì
lượng sữa có thấp hơn (277 kg ở lô SCMR và 272 kg ở lô CMR) nhưng lượng cỏ và
cám ở 2 lô này lại cao hơn (36-38 kg cám; và 72 kg cỏ). Trong khi đó; giai đoạn từ
73-120 ngày nuôi lượng tiêu thụ cỏ và cám ở 3 lô gần tương đương nhau bình quân
6,55-6,71 kg cỏ/con/ngày và cám từ 0,81-0,98 kg/con/ngày cho nên mức năng
lượng và đạm thô tiêu thụ là như nhau ở cả 3 lô.
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của sử dụng sữa nguyên và sữa thay thế
đến tinh trạng tiêu chảy của bê nuôi ở Long Thành
CM SCMR CMR Giai đoạn
Số ngày Tỷ lệ (%)
Số ngày Tỷ lệ (%)
Bảng 3.7. Sơ bộ tính toán hiệu quả kinh tế nuôi bê từ sơ sinh đến 4 tháng tuổi
ở Long Thành (tính cho 1 bê)
CM SCMR CMR Chỉ tiêu ĐVT
Số
lượng
Thành
tiền
Số
lượng
Thành
tiền
Số
lượng
Thành
tiền
Sữa tươi Kg/đồng 285 1,567,500 21 115,500 21 115,500
Sữa thay thế Kg/đồng 0 0 256 718,947 251 595,721
Cỏ tươi Kg/đồng 378 67,662 394 70,526 389 69,631
Cám HH Kg/đồng 81 202,500 79 197,500 77 192,500
Thú y Ngày/đồng 3 9,000 4 12,000 5 15,000
Tổng chi Đồng 1,846,662 1,114,474 988,352
% so với lô sử dụng CM
100.0 60.4 53.5
25
Số liệu bảng 3.7 cho thấy; khi nuôi bê bằng sữa thay thế đã tiết kiệm chi phí
rất đáng kể, nếu sử dụng sữa nguyên đã chi hết 1.846.662 đồng nhưng nếu sử dụng
sữa thay thế thì mức chi này khoảng 988.352 đồng ở lô sử dụng công thức CMR và
1.114.474 đồng ở lô sử dụng công thức SCMR dù cho mức tăng trọng của bê là
80
Tăng tr
ọng
t
ương đối (%)
Từ sơ sinh đến 72 ngày Từ 73-120 ngày
Giai đo
ạn
CM SCMR CMR
Biểu đồ 3.2. Tăng trọng tương đối bê giai đoạn bú sữa tại Hóc Môn
.
Kết quả tăng trọng tuyệt đối và tương đối của bê tại Hóc Môn giai đoạn từ sơ
sinh đến 120 ngày tuổi trình bày qua bảng 3.8 và biểu đồ 3.2. Tương tự như kết quả
tại Long Thành, mức tăng trọng bình quân của bê không có sự sai khác khi sử dụng
sữa nguyên và sữa thay thế, giai đoạn từ sơ sinh đến 72 ngày tuổi đạt 324,3-471,4
gam/con/ngày và từ 73 đến 120 ngày tuổi mức tăng trọng bình quân khoảng 440,7-
633.3 gam/con/ngày; tình bình quân cả giai đoạn từ sơ sinh đến 120 tuổi thì mức
tăng trọng ở lô sử dụng sữa nguyên là cao nhất 489,9 gam/con/ngày, kế đến là lô sử
dụng sữa thay thế CMR 463,7 gam/con/ngày và cuối cùng là lô sử dụng sữa thay