TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG GIS TRONG QUẢN LÝ NƯỚC
NGẦM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD: Võ Thành Hưng
Thực hiện: Nhóm – DH10DL
Tp HCM, tháng 5/2014
Tp.HCM, tháng 5/2013
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
Mục lục
Trang 2
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là ngành công nghệ thông tin
trong hai hướng: thiết bị phần cứng và các chương trình phần mềm đã mở ra nhiều
triển vọng lớn cho việc xử lý các số liệu trong nhiều ngành khác nhau. Đối với
những ngành mà khối lượng dữ liệu cần quản lý lớn, việc ứng dụng các thành tựu
công nghệ thông tin trở thành vấn đề cấp thiết. Nước là một trong những tài nguyên
quan trọng nhằm phục vụ các nhu cầu cần thiết của con người. Lượng nước ngọt chỉ
chiếm khoảng 3% tổng lượng nước trên Trái Đất. Trong đó, nước mặt chỉ chiếm
khoảng 0,03 %, nước dưới đất chiếm 30,1 %; còn lại là các băng tuyết trên đỉnh núi
và các sông băng. Với lượng nước mặt như kể trên thì không thể đáp ứng được hết
nhu cầu dùng nước ngày càng tăng của con người, bên cạnh đó, chất lượng nước
mặt đang ngày một suy giảm nhanh chóng – kết quả của quá trình đô thị hóa và
công nghiệp hóa ồ ạt. Vì vậy, việc sử dụng nước dưới đất được xem là một giải
pháp cho vấn đề nước cấp ở nhiều khu vực; nhất là những khu vực có lượng nước
mặt và nước mưa khan hiếm. Tuy nhiên nếu không có sự quản lý chặt chẽ thì chất
lượng nước ngầm sẽ nhanh chóng bị suy giảm và kéo theo đó là sự ô nhiễm của các
môi trường khác như môi trường đất,không khí Do đó, việc áp dụng nhiều thành
nhau.
- Lưu trữ, điều chỉnh, cập nhật và tổ chức các thông tin không gian và thông
tin thuộc tính.
- Phân tích biến đổi thông tin trong cơ sở dữ liệu nhằm giải quyết các bài
toán tối ưu và mô hình mô phỏng không gian- thời gian.
- Hiển thị và trình bày thông tin dưới các dạng khác nhau, với các biện pháp
khác nhau.
Phần mềm được phân thành ba lớp: hệ điều hành, các chương trình tiện
ích đặc biệt và các chương trình ứng dụng.
1.2.3. Cơ sở dữ liệu
Có thể coi thành phần quan trọng nhất trong một hệ GIS là dữ liệu. Các dữ
liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính liên quan có thể được người sử dụng tự tập hợp
hoặc được mua từ nhà cung cấp dữ liệu thương mại. Hệ GIS sẽ kết hợp dữ liệu
không gian với các nguồn dữ liệu khác, thậm chí có thể sử dụng DBMS (Database
Management System ) để tổ chức lưu giữ và quản lý dữ liệu.
Một cách tổng quát, người ta chia dữ liệu trong GIS thành 2 loại:
Dữ liệu không gian (spatial) cho ta biết kích thước vật lý và vị
trí địa lý của các đối tượng trên bề mặt trái đất.
Dữ liệu thuộc tính (non-spatial) là các dữ liệu ở dạng văn bản
cho ta biết thêm thông tin thuộc tính của đối tượng.
1.3. Một số khả năng của Gis
1.3.1. Truy xuất/ cập nhật dữ liệu
Vì các hệ GIS được thiết kế cho các quá trình phân tích không gian nên đặc
tính cơ bản nhất của GIS là truy xuất và cập nhật dữ liệu.Đây là những chức năng
không thể tách rời nhau, bất kỳ một hệ thống nào cho phép truy xuất vào cơ sở dữ
liệu sẽ phải cho phép cập nhật cơ sở dữ liệu. Bất kỳ hệ thống nào không cung cấp
chức năng truy xuất/ cập nhật dữ liệu sẽ không được xem là GIS vì chức năng này
là yêu cầu trước tiên trong các chức năng của GIS.
Trang 4
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
Dữ liệu GIS có thể được xuất ra dưới nhiều dạng khác nhau như in trên giấy,
xuất ra thành các tập tin ảnh, đưa vào các báo cáo, chuyển vào Internet để cung cấp
cho người dùng ở xa…
1.4. Một số ứng dụng của Gis
Vì GIS được thiết kế như một hệ thống chung để quản lý dữ liệu không gian,
nó có rất nhiều ứng dụng trong việc phát triển đô thị và môi trường tự nhiên như là:
quy hoạch đô thị, quản lý nhân lực, nông nghiệp, điều hành hệ thống công ích, lộ
trình, nhân khẩu, bản đồ, giám sát vùng biển, cứu hoả và bệnh tật. Trong phần lớn
Trang 5
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
lĩnh vực này, GIS đóng vai trò như là một công cụ hỗ trợ quyết định cho việc lập kế
hoạch hoạt động.
2. Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh
2.1. Lịch sử hình thành
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung
tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam.
Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor, thành phố sau đó hình thành
nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh
cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Khi người Pháp vào Đông
Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành
lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt
Nam, được mệnh danh Hòn ngọc Viễn Đông hay Paris Phương Đông. Sài Gòn là
thủ đô của Liên Bang Đông Dương giai đoạn 1887-1901. Năm 1954, Sài Gòn trở
thành thủ đô của Việt Nam Cộng hòa và thành phố hoa lệ này trở thành một trong
những đô thị quan trọng của vùng Đông Nam Á Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc
hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí
Minh", theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ,
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích
2.095,06 km². Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ
đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở
ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ
sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng
của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức
tạp cũng gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang
hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.
2.2.2. Xã hội:
2.2.2.1. Dân cư
Dân số năm 1929 là 123.890 người trong số đó có 12.100 người Pháp. Kể từ
sau 1975, dân số Sài Gòn gia tăng nhanh, nhất là dân cư trú lậu không kiểm soát
được, nên nhà cửa xây cất bừa bãi. Theo thống kê chính thức, dân số Sài Gòn năm
1975 là 3.498.120 người. Tính đến năm 2011, dân số toàn thành phố Hồ Chí Minh
đạt gần 7.521.100 người, với diện tích 2095,6 km
2
, mật độ dân số đạt 3589
người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 6.250.700 người, dân số sống
tại nông thôn đạt 1.270.400 người. Dân số nam đạt 3.585.000 người, trong khi đó
nữ đạt 3.936.100 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 7,4‰
Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều. Trong khi
một số quận như 4, 5 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện
ngoại thành Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km². Về mức độ gia tăng
dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới
2,5%. Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi
dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển
ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống.
Trang 7
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
2.2.2.2. Giao thông vận tải
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu
mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Tính riêng vận
Trang 8
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
2.3. Đặc điểm khí hậu- thủy văn
2.3.1. Địa chất, thủy văn
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích
Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần
Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và
hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng:
đất xám. Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển,
vũng vịnh, sông biển, bãi bồi hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù
sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha.
Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất
feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thành
phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Với lưu lượng
bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành
nguồn nước ngọt chính của thành phố. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản,
chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy
dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào
khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m.
Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi
hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài
Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào
bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một
hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ,
Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu
Hũ, Kênh Ðôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc
tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy
triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn
chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
Bản đồ ranh giới thành phố
Bản đồ các điểm khai thác nước ngầm
CSDL – QH nước ngầm thành phố
Thiết lập bản đồ
Truy vấn
Cập nhật
Trang 11
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
Lập báo cáo
Người sử dụng
Trình tự các bước thiết lập cơ sở dữ liệu trong quản lý nước ngầm đô thị
3.3. Xây dựng CSDL về hệ thống nước ngầm
3.3.1 Dữ liệu không gian
Từ các dữ liệu bản đồ nền thu thập được, cùng với dữ liệu các mỏ nước ngầm
từ phần mềm Autocad chuyển qua phần mềm chuyên dụng như Mapinfo,
Arcview , tiến hành số hóa và biên tập dữ liệu, cho ra bản đồ nước ngầm.
Sau đó, từ bản số liệu các điểm tọa độ khai thác nước ngầm được thiết lập trên
Excel tiến hành mở trong môi trường Mapinfo. Kết quả cho ra bản đồ khai thác
nước ngầm tại các địa điểm nghiên cứu:
Trang 12
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
Bản đồ các điểm khái thác nước ngầm
3.3.2 Dữ liệu thuộc tính
Sau khi hoàn thiện dữ liệu thuộc tính của nước ngầm trong Exel, tiến hành mở
bảng số liệu Exel trong phần mềm Mapinfo, sau đó cập nhật các trường dữ liệu,
cho ra bảng số liệu thuộc tính.
3.4. Khả năng khai thác thông tin
Việc thành lập bản đồ số quy hoạch hệ thống nước ngầm có ý nghĩa rất lớn. Thông
qua bản đồ số này, các nhà quản lý có thể nắm bắt được hiện trạng khai thác nước
ngầm, chất lượng nước tại các điểm, để có các phương án giải quyết kịp thời…Bằng
DANH SÁCH XẾP LOẠI CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
STT Họ và Tên MSSV XẾP LOẠI
1 Trần Thanh Minh( NT) 10157110 Tốt
2 Phạm Thị Kim Thương
1015719
2 Tốt
3 Nguyễn Thị Cẩm Lệ
1015708
5 Tốt
4 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
1015705
7 Tốt
5 Bùi Hữu Long
1015709
5 Tốt
Trang 14
Ứng dụng gis trong quản lý nước ngầm tại TP.HCM
Trang 15