1
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề:
Đái tháo đường là bệnh lý rối loạn chuyển hóa phức tạp, do hậu quả từ tình trạng
thiếu Insulin tuyệt đối hay tương đối. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là tình trạng
tăng đường huyết cùng với các rối loạn về chuyển hóa đường, đạm, mỡ, khoáng
chất. Các rối loạn này có thể đưa đến các biến chứng cấp tính, các tình trạng dễ bò
nhiễm trùng và lâu dài sẽ gây ra các biến chứng ở mạch máu nhỏ và mạch máu
lớn
[15,16,21]
.
Đái tháo đường có 2 type chính đó là type 1 (còn gọi là đái tháo đường phụ thuộc
Insulin) và đái tháo đường type 2, ngoài ra còn đái tháo đường thai kỳ và đái tháo
đường type đặc biệt khác hay còn gọi đái tháo đường thứ phát sau một số bệnh lý .
Đái tháo đường là một bệnh lý mạn tính, có xu hướng gia tăng rõ rệt trên thế giới,
bùng nổ thật sự như một đại dòch ở các nước đã và đang phát triển đặc biệt là ở
các nước châu Á. Theo ước tính hiện nay, đái tháo đường trên phạm vi toàn cầu là
300 triệu người, tức chiếm # 4,5% dân số thế giới, trong đó riêng Việt Nam theo
thống kê bệnh đái tháo đường nói chung năm 1992 ở Thành phố Hồ Chí Minh 2,52
% dân số. Dự báo của tổ chức Y tế thế giới vào năm 2030 sẽ có hơn 370 triệu
người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường
[42]
. Ở Việt Nam tần suất đái tháo
đường ngày càng gia tăng, năm 1993 tần suất mắc bệnh là 2,5% đến năm 2004 tỷ
lệ này là 6,9%
[9,16]
Đái tháo đường type 2 tính trên bình diện chung thống kê của nhiều nước trong đó
có Việt Nam chiếm khoảng 80% tổng số bệnh nhân đái tháo đường, có cơ chế
bệnh sinh đa dạng, đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạn tính và kết hợp
tháo đường phải đươc chẩn đóan bằng YHCT, với những mô tả triệu chứng như
trên, ngoài chứng hậu Tiêu khát, không có chứng trạng nào của YHCT hội đủ các
3
biểu hiện triệu chứng lâm sàng đại diện được cho bệnh cảnh đái tháo đường type
2, tuy nhiên vẫn chưa ai khẳng đònh được Tiêu khát có phải là đái tháo đường?,
ngược lại biểu hiện của Tiêu khát cũng xuất trên một số bệnh lý khác của YHHĐ
như Đái tháo nhạt, Cường giáp…v v…điều này đã gây không ít khó khăn cho việc
áp dụng kho tàng YHCT vào việc điều trò, cũng như việc học tập và nghiên cứu,
đó là lý do chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu bệnh học YHCT bệnh Đái tháo đường type 2 và xác đònh độc tính
cùng tác dụng hạ đường huyết của những bài thuốc trò chứng tiêu khát của YHCT
trên mô hình đái tháo đường thực nghiệm .
Mục tiêu cụ thể:
- Khảo sát mối tương quan về bệnh học các triệu chứng của Đái tháo đường:
tiểu nhiều, khát nước, uống nhiều, tê bì, mờ mắt, gầy…từ nguyên nhân, đến
bệnh sinh YHCT qua đó xác đònh về mặt lý thuyết - các thể lâm sàng
YHCT - của bệnh Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ
2
) .
- Xác đònh tỷ lệ bệnh nhân có bệnh ĐTĐ trên những bệnh nhân được chẩn
đoán Tiêu khát
- Xác đònh giá trò tiên đoán trong chẩn đóan bệnh ĐTĐ
2
đối với Tiêu khát
của YHCT
- Xác đònh tiêu chuẩn chẩn đóan các thể lâm sàng YHCT bệnh ĐTĐ
2
chứng lâm sàng của tăng đường huyết
Biểu hiện lâm sàng của tăng đường huyết là tiểu nhiều, khát nhiều, uống nhiều,
mờ mắt, dò cảm, và gầy
[15,16,21]
- Hoặc đường huyết lúc đói ≥ 126mg/dl (≥ 7mmol/L) sau 8 giờ không ăn
Bệnh nhân bò đái tháo đường type 2, có mức đường huyết tăng cao trong máu, sẽ
đưa đến tăng áp lực thẩm thấu trong máu, và khi đường huyết vượt quá ngưỡng
thận sẽ xuất hiện đường trong nước tiểu, đường xuất hiện trong nước tiểu kéo theo
mất nước và chất điện giải (vì đường là chất có áp lực thẩm thấu cao) sẽ gây tình
trạng tiểu nhiều, tiểu nhiều có thể đưa đến tiểu đêm. Tăng áp lực thẩm thấu cũng
gây khát, uống nhiều, mờ mắt do thủy tinh thể tiếp xúc với dòch có áp lực thẩm
thấu cao. Tăng đường huyết kéo dài cũng có thể làm rối loạn chức năng dẫn
6
truyền thần kinh gây dò cảm, cân nặng cũng có thể giảm do mất nước, do ly giải
mô mỡ, ly giải glycogen, giảm cân nhưng không nhiều bằng đái tháo đường type1.
Tuy nhiên trong đa số trường hợp, triệu chứng thường âm ỉ nên bệnh chỉ được phát
hiện nhân lúc đi thử máu thường quy như trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như
nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, nhiễm trùng da kéo dài thường gặp, bệnh
nhân nữ cũng hay bò ngứa vùng âm hộ do nhiễm nấm candida, bệnh nhân nam có
thể đến khám bệnh vì bất lực. Ngoài ra còn có một số yếu tố gợi ý như mập phì
nhất là mập phì vùng bụng, tiền căn gia đình có người bò đái tháo đường type 2,
phụ nữ sinh con lớn hơn 4kg, có tiền căn có thai đa ối, sản giật, thai chết không rõ
căn nguyên. Bệnh nhân mập phì cũng có thể tăng huyết áp nhẹ, tuy nhiên bệnh
nhân đái tháo đường type 2 cũng có thể không mập, nhất là ở các nước đang phát
triển. Nhiễm ceton acid không xảy ra đột ngột mà thường xảy ra khi có stress như
nhiễm trùng
.[7,15,16,25,29]
2.1.2. Tầm quan trọng của ĐTĐ type 2
Nội tỷ lệ Đái tháo đường khỏang 1,1%, tại Huế khỏang 0,96%, điều tra cơ bản
năm 1992 tại một số quận nội thành TP.HCM cho thấy tỷ lệ Đái tháo đường là 0,4
– 2,52%. Các cuộc điều tra gần đây tại một số vùng miền Bắc và miền Nam VN
tỷ lệ mới mắc từ 3 – 5%
[7,8,13,14,19]
Số người bò đái tháo đường type 2 tiếp tục gia tăng, nếu như năm 1995 là khoảng
135 triệu người trên tòan thế giới, thì năm 2000 là 160 triệu và năm 2010 dự đóan
sẽ có 300 triệu người mắc bệnh. Tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ ba sau ung thư và
tim mạch, hàng đầu trong các bệnh nội tiết
[13,14,19]
.
8
2.1.2. Nguyên nhân và bệnh sinh đái tháo đường type 2:
Về nguyên nhân cho đến nay thật sự chưa biết rõ
Tuy nhiên người ta cũng nhận thấy có sự rối loạn song song và tồn tại trong
cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2 đó là rối loạn tiết insulin, sự kháng insulin ở mô
đích, sự tăng sản xuất glucose cơ bản ở gan và có 2 yếu tố được tham gia vào
bệnh nguyên là cơ đòa di truyền và môi trường
[6,15,16]
:
2.1.2.1. Rối loạn tiết insulin :
Tế bào β t tạng bò rối loạn về khả năng sản xuất insulin về mặt số lượng
cũng như chất lượng để đảm bảo cho chuyển hoá glucose bình thường. Những rối
loạn bất thường đó có thể là :
• Bất thường về điều tiết và động học bài tiết insulin mất pha sớm
• Bất thường về số lượng tiết insulin.
• Bất thường về chất lượng những peptid có liên quan đến insulin trong
Giảm dung nạp glucose dưới tác động của insulin
10
2.1.2.3. Vai trò của di truyền và môi trường
[16,25]
:
Ảnh hưởng của yếu tố di truyền lên đái tháo đường type 2 rất mạnh :
- Tỷ lệ hai anh (chò) em sinh đôi cùng trứng bò đái tháo đường type 2 là 90%
- 100%.
- Bệnh nhân đái tháo đường type 2 thường có liên hệ trực hệ cùng bò đái
tháo đường.
- Có sự khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường giữa các chủng tộc,
các sắc dân khác nhau.
- Trong sắc dân tỷ lệ đái tháo đường type 2 cao nhất là kiểu di truyền theo
theo gen. Hiện nay chưa phát hiện dấu ấn di truyền kiểu HLA trên bệnh nhân đái
tháo đường type 2.
Ngoài sự khác biệt do ảnh hưởng di truyền người ta nhận thấy tỷ lệ bệnh
đái tháo đường type 2 thay đổi tuỳ vùng trên thế giới và trong một nước tỷ lệ cũng
khác nhau giữa nông thôn và thành thò. Ngoài ra tỷ lệ đái tháo đường type 2 cũng
gia tăng theo tuổi thọ và béo phì thiếu vận động là hai yếu tố quan trọng trong
ảnh hưởng đến tỷ lệ cao của bệnh đái tháo đường type 2. Mập phì vùng bụng liên
hệ mật thiết với hiện tượng đề kháng insulin.
Như vậy, duy trì hằng đònh về glucose trong máu tùy thuộc ở 3 yếu tố: sự tiết
insulin, kích thích sự thu nạp glucose ở mô ngoại vi (cơ, mỡ) và ở các mô nội tạng
(gan, ruột), và ức chế sự sản xuất glucose từ gan.
Sau khi ăn, glucose sẽ tăng lên trong máu và tụy sẽ tăng tiết insulin, các yếu tố
này sẽ tăng sự thu nạp glucose ở mô ngoại vi (chủ yếu là cơ) và nội tạng (gan,
ruột) và ức chế sự sản xuất glucose từ gan. Nếu có khiếm khuyết tại tế bào beta,
hiện từ acid amin, acid lactic, acid pyruvic, fructose và galactose, còn theo nhiều
tác giả, sự tạo thành glucid từ lipid là rất hạn chế)
12
Nếu người ta ăn quá nhiều glucid đến nỗi kho glycogen gan đã đầy, thì glucose
máu còn thừa sẽ chuyển thành lipid. Lipid này lắng lại ở những kho dự trữ lipid
của cơ thể, chẳng hạn mô mỡ dưới da và sau ổ bụng.
Glucosgen cơ
Với sự hỗ trợ của insulin, glucose máu đã chuyển thành glycogen cơ. Glycogen cơ
cung cấp nguồn nhiệt và năng lượng cho hoạt động cơ, khi cần nó phân giải thành
diocid carbon, nước, nhiệt, và năng lượng. Glycogen cơ không giống glycogen gan,
không thể dùng để duy trì mức glucose máu.
Sự phân giải glycogen cơ để tạo nhiệt và năng lượng diễn ra theo 2 giai đoạn:
Trong giai đoạn đầu, glycogen cơ phân giải thành acid pyruvic (chứa 3 nguyên tử
carbon), nếu oxy được cung cấp đầy đủ thì acid pyruvic được phân giải tiếp trong
giai đoạn thứ 2 thành carbon diocid và nước, nếu không đủ oxy thì acid pyruvic sẽ
được chuyển thay thế cho acid lactic. Điều đó cho phép hình thành nhiều acid
pyruvic hơn. Sự sản sinh ra nhiệt và năng lượng cùng với sự tạo thành acid lactic,
diễn ra khi không có oxy, được gọi là chuyển hóa yếm khí, lúc ấy cơ thể bò “nợ
oxy”, món nợ oxy này phải trả sau khi vận động đã được thực hiện. Vì vậy, có thể
chạy một quãng ngắn (100m) mà không cần thở. Năng lượng được giải phóng ra từ
Glucid thức ăn
Glucose thức ăn
tiêu hóa
Glycogen gan
lại lại chuyển thành glycogen cơ để lại sử dụng trong dòp khác.
Như vậy, ngoài cơ chế bệnh sinh ĐTĐ
2
gây tăng đường trong máu, và việc duy trì
đường trong máu ở mức cao gây ra các biểu hiện lâm sàng như tiểu nhiều, khát
nước, uống nhiều, mờ mắt, dò cảm… thì về việc chuyển hóa đường sẽ tạo và tích
nhiệt trong cơ thể, hiện tượng tích nhiệt này cũng được đề cập đến trong sinh bệnh
học YHCT chứng Tiêu khát và Hư lao .
2.1.4. Quan niệm theo YHHĐ về điều trò đái tháo đường type 2
[6,16,19,21,25]
2.1.4.1. Mục tiêu:
- Giảm bớt các triệu chứng của tăng đường huyết.
- Giữ mức cân nặng lý tưởng.
- Duy trì mức đường huyết gần bình thường trong 24 giờ.
- Làm chậm xuất hiện các biến chứng.
- Nâng cao cuộc sống của người bệnh.
2.1.4.2. Phương pháp để đạt được mục tiêu nêu trên:
- Luyện tập thể lực.
- Chế độ dinh dưỡng
- Thuốc
- Chế độ đánh giá và theo dõi.
- Chương trình giáo dục sức khoẻ bệnh nhân
- Điều trò các yếu tố nguy cơ khác như tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn
lipid máu.
2.2. QUAN NIỆM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN (YHCT)
[1,2,11,23,26,28]
2.2.1. Quan niệm về chẩn đoán
15
Quan niệm bệnh sinh chứng tiêu khát là do âm hư và táo nhiệt, hai cơ chế này tác
động nhân quả với nhau làm tiêu hao tân dòch ở phế, vò và âm tinh ở thận, tùy
thuộc vào cơ đòa, vào nguyên nhân, và các yếu tố thuận lợi khác có thể gây bệnh
ở các tạng nêu trên vào các vùng thượng tiêu trung tiêu hoặc hạ tiêu
Nguyên nhân và bệnh sinh chứng Tiêu khát
Do ăn quá nhiều chất béo ngọt bao gồm cả uống rượu quá độ
n uống quá nhiều chất béo ngọt lại uống nhiều rượu cả thức ăn lẫn rượu đều tích
Nhiệt rồi hóa Hỏa ở trung tiêu. Hỏa nhiệt sẽ thiêu đốt tân dòch làm cho âm hư , âm
càng hư nhiệt càng tích, theo Thiên kỳ bệnh luận sách Tố vấn nói : “ Người bệnh
ăn nhiều chất béo ngọt… chất béo làm nóng bên trong, chất ngọt sinh đầy làm cho
khí tràn lên chuyển thành tiêu khát ở thượng tiêu , người nóng bên trong sinh ra nội
nhiệt làm tân dòch khô kiệt sinh khát, uống nước vào cũng tiêu mất do hỏa thiêu đốt,
càng tiêu càng khát, chất thức ăn cũng không tiêu được gây thành bệnh ở trung
tiêu”
Do thần chí thất điều
Tinh thần căng thẳng, cảm xúc âm tính kéo dài làm cho thần tán hóa hỏa hoặc do
ngũ chí cực uất cũng hóa Hỏa. Hỏa sinh ra thiêu đốt phần âm của phủ tạng. Sách
Nội kinh viết: “2 kinh dương là kinh Thủ dương minh Đại Trường chủ về Tân dòch,
kinh Túc dương minh vò chủ về Tinh huyết. Nay 2 kinh ấy nhiệt kết thì Tân dòch khô,
huyết cạn sinh ra chứng Tiêu khát” và ngoài ra Thận là nguồn gốc của âm dòch và
Thận cũng là nơi tàng trữ tinh ba của ngũ cốc nên khi hỏa nhiệt thiêu đốt cũng sẽ
làm tổn thương thận tạng
Phòng dục quá độ hoặc uống các thuốc đan thạch (thuốc tổng hợp từ hóa
chất như tân dược)
16
hoặc khí huyết hư da cơ không được nuôi dưỡng tốt, hoặc có huyết chết ở trong
mạch, hoặc đờm thấp v v
Về cơ chế sinh bệnh, tê bì có liên quan đến dinh vệ khí huyết. Nội kinh viết: dinh
khí mà hư thì da không có cảm giác, vệ khí hư thì không vận động được, (dinh khí
hư tắc bất nhãn, vệ khí hư tắc bất dụng).
Hư lao
Hư lao là tên gọi chung cả ngũ lao thất thương và lục cực. Sách Nạn Kinh nói về
chứng hư tổn và đònh cách chữa chứng này. Sách Kim quỹ yếu lược đem chứng
này đặt thành một thiên riêng, lại còn bàn rộng đã có một hướng mới thêm, về
cách phân biệt mạch, chứng và xử phương dụng dược, thời đại Kim Nguyên thì Lý
Đông Viên và Chu Đan Khê đều có ý kiến độc đáo về chứng lao quyện nội
thương; Đông Viên sở trường thuốc cam ôn để bổ trung khí, Đan Khê giỏi dùng
thuốc tư âm để giáng hỏa. Sau đó lại xuất hiện rất nhiều sách vở, như đời Nguyên
thì có sách Thập thần thư của Cát khả Cửu, đời Minh thì có sách Lý hư nguyên
giám của Ỷ thạch, đời Thanh thì có Bất cư tập của Ngô Trừng làm cho lý luận và
cách chữa chứng hư lao càng thêm phong phú.
Nguyên nhân bệnh
Bệnh hư lao tuy có nhiều nguyên nhân, nhưng quy lại thì không ngoài 2 loại lớn là:
bẩm sinh không được đầy đủ và lao thương quá độ.
Bẩm sinh không đầy đủ: khi thụ thai do cha mẹ tuổi già sức yếu, tinh huyết kém
hoặc khi có thai không được điều dưỡng giữ gìn, sự dinh dưỡng thai nhi bò kém,
sách hư lao tâm truyền của Hà thò đã nêu câu: “Có trẻ em bò chứng hư lao là vì
bẩm thụ tiên thiên bất túc, nhưng do ở bẩm khí của mẹ nhiều hơn” là nói chứng trẻ
em do tiên thiên bất túc thì thường thường trong quá trình phát dục có xuất hiện ra
18
các hiện tượng xương mềm, liệt yếu, nếu không chữa sớm có thể phát triển thành
chứng hư lao.
Lao thương quá độ: ngũ lao thất thương, tích lũy lâu ngày mà thành ra, như thiên
Tuyên minh ngũ khí sách Nội kinh nói: Nhìn lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi
thường được sử dụng điều trò như sau:
2.2.2.1. Phế âm hư: Thanh nhiệt nhuận phế, sinh tân chỉ khát.
Có nhiều bài thuốc khác nhau dùng để điều trò Phế âm hư, nhưng chúng tôi
chỉ chọn lựa những bài thuốc có tác dụng điều trò chủ yếu các triệu chứng: khát
nhiều thích uống nước, lưỡi táo, miệng khô, đi tiểu nhiều lần, lượng nhiều.
Một số bài thuốc đáp ứng được tinh thần trên như:
(1) Tiêu khát phương : (Sinh đòa, Hoài sơn, Thiên hoa phấn, Thạch hộc, Sa
Sâm, Mạch môn, Trạch tả, Ngũ vò tử, Hoàng liên)
(2) Nhân sâm bạch hổ thang ( Hoàng liên, Thiên hoa phấn, Sinh đòa, Ngẫu tiết,
sữa bò, Thạch cao, Tri mẫu, Cam thảo, Ngạnh mễ, Nhân sâm. ).
(3) Thiên hoa phấn ( Thiên hoa phấn, Sinh đòa, Mạch môn, Cam thảo, Ngũ vò tử,
Gạo nếp sao )
2.2.2.2. Vò âm hư: Thanh vò tả hỏa, dưỡng âm tăng dòch
Có nhiều bài thuốc khác nhau dùng để điều trò chứng Vò âm hư, nhưng chúng tôi
chỉ chọn lựa những bài thuốc có tác dụng điều trò chủ yếu các triệu chứng: ăn
nhiều chóng đói, người gầy ốm, tiêu bón.
Một số bài thuốc được chọn:
(1) Ngọc nữ tiễn gia giảm ( Thạch cao, Tri mẫu, Thục đòa, Mạch môn, Ngưu
tất, Hoàng cầm, Chi tử ).
(2) Tăng dòch thang gia giảm ( Huyền sâm, Sinh đòa, Mạch môn, Thiên hoa
phấn, Hoàng liên, Đại hoàng )
2.2.2.3. Thận âm hư: Tư bổ thận âm, sinh tân thanh nhiệt
20
Có nhiều bài thuốc khác nhau dùng để điều trò chứng Thận âm hư, nhưng
chúng tôi chỉ chọn lựa những bài thuốc có tác dụng điều trò chủ yếu các triệu
chứng: Tiểu nhiều lần, lượng nhiều, nước tiểu đục như mỡ hay ngọt, mồm khô lưỡi
táo hoặc khát uống nước nhiều, lòng bàn tay chân nóng, lưng gối nhức mỏi.
Một số bài thuốc được chọn:
(1) Lục vò đòa hoàng hoàn ( Thục đòa, Hoài sơn, Sơn thù, Đơn bì, Bạch linh,
Thạch cao, Hoàng liên, Agiao, Bạch thược, Thiên hoa phấn, Hoài sơn,
Hoàng tinh, Hà thủ ô, Mạch môn, Đòa cốt bì, Kê tử hoàng )
- Cam thược giáng đường phương: Cam thảo, Bạch thược
- Thu quả tiêu khát phương: Lá ổi hoặc quả ổi
- Thắng cam phương: Sơn thù, Ngũ vò tử, Ô mai, Thương truật,
- Tiêu khát bình phương: Hoàng kỳ, Nhân sâm, Thiên hoa phấn, Tri mẫu, Cát
căn, Thiên đông, Ngũ vò tử, Sa uyển tử, Đơn sâm.
- Tam hoàn tiêu khát phương: Hoàng kỳ, Sinh đòa,Thiên hoa phấn, Hoàng
tinh, Thạch cao.
- Giáng đường phò chính phương: Hoàng kỳ, Hoàng tinh, Thái tử sâm, Sinh
đòa, Thiên hoa phấn.
- Sâm hoàng giáng đường phương: Đại hoàng, Quế chi, Đào nhân, Huyền
minh phấn, Cam thảo, Huyền sâm, Sinh đòa, Mạch môn, Hoàng kỳ.
- Dương thò tiêu khát phương: Sa sâm, Hoài sơn, Huyền sâm, Thục đòa, Kỷ tử,
Thạch hộc, Ngọc trúc, Đơn sâm, Thiên hoa phấn, Mạch môn, Ích trí nhân, Ô
mai, Khiếm thực, Tri mẫu.
22
- Ích khí âm giáng đường phương: Hồng sâm, Phục linh, Bạch truật, Hoàng
kỳ, Cát căn, Hoàng tinh, Đại hoàng, Hoàng liên, Ngũ vò tử, cam thảo.
- Tề liệu phương: Thạch cao, Tri mẫu, Sinh đòa, Đảng sâm, Chích thảo,
Huyền sâm, Thiên hoa phấn, Hoàng liên, Cánh mễ
- Kim sâm tiêu khát phương: Kim tiền thảo, Đảng sâm, Hoàng kỳ, Ngọc trúc,
Kỷ tử căn, Mạch đông, Thục đòa, Thiên hoa phấn
2.2.2.7. Các bài thuốc dân gian đơn giản trò tiêu khát:
Bí đao ( Đông qua, Bí xanh ): 100g mỗi ngày nấu chín vắt lấy nước uống
thường xuyên.
Rau cần tây ( Cần thái ) 100g, nấu sôi, giã nát vắt nước uống ngày 2 lần
Lá rễ Ngưu bàng rửa sạch nấu chín ăn nhiều ít tùy thích
Tô tử, La bạc tử lượng bằng nhau sao qua tán bột mỗi lần uống 9g với nước
Hoài sơn, Tụy heo, can Đòa hoàng.
Râu bắp, Thiên hoa phấn, thòt nạc heo.
Dâm dương hoắc, Ngọc trúc, Hoài sơn, Kỷ tử.
Hoàng kỳ, Sơn thù, Sinh đòa, Hoài sơn.
Thiên ha phấn, Mạch môn, Sinh Thạch cao.
Qua việc phân tích các thể lâm sàng, các bài thuốc cổ phương cùng với các kinh
nghiệm dân gian trong việc điều trò chứng Tiêu khát và một số thể lâm sàng có
biểu hiện các triệu chứng của ĐTĐ
2
chúng tôi nhận thấy thuốc điều trò các triệu
chứng tương ứng ĐTĐ
2
chủ yếu gồm các nhóm sau :
(1) Thuốc bổ âm: Mạch môn, Ngọc trúc, Kỷ tử, Sa sâm, Hồng tinh, Sinh địa …
(2) Thuốc thanh nhiệt: Thạch cao, Tri mẫu, Huyền sâm, Hoàng cầm, Chi tử…
24
(3) Các thuốc kiện Tỳ trừ thấp: Thương truật, Bạch truật, Trạch tả, Bạch linh… (4)
Các thuốc bổ khí: Hoài sơn, Hoàng kỳ, Nhân sâm, Đảng sâm
(5) Các thuốc dùng trong dân gian không rõ tác dụng theo YHCT nhưng đã được
chứng minh bằng các công trình nghiên cứu trong và ngòai nước về tác dụng hạ
đường huyết như :
Dừa cạn, Khổ qua, Dây thìa canh, Chua me lá me, Rau đắng đất, Lá ổi, Vú sửa
đất, Vối rừng, Cam thảo nam …
2.2.3. Các nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của các dược liệu, bài thuốc
nêu trên:
(1). Hoài sơn:
Tên khoa học: Dioscorea persimilis Prain et Burk
Họ : Củ nâu Dioscoreaceae
Thành phần hóa học: muxin, allantoin, acid amin, acginin, cholin
Tên khoa học: Biophytum sensitivum (Lour. ) DC
Họ: Chua me đất Oxalidaceae.
Thành phần hóa học: có chất giống insulin, kali oxalat axit.
Tác dụng dược lý: hạ đường huyết [18]
YHCT: chưa có tài liệu đề cập.
(6). Câu kỷ tử:
Tên khoa học: Lycium sinense Mill
Thành phần hóa học: Betain, lysin, cholin…
Tác dụng dược lý: hạ đường huyết [3,16,18 ]
YHCT: Vò ngọt, tính bình. Tác dụng: bổ can thận, nhuận phế táo, mạnh gân
cốt.
(7). Ngọc trúc:
Tên khoa học: Polygonatum offcinale All
Thành phần hóa học: odoratan, polygonatum-fructan…