nghiên cứu đề xuất giải pháp củng cố và phát triển làng nghề phi nông nghiệp ngoại thành tp.hcm - Pdf 25


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT UỶ BAN NHÂN DÂN TP.HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
*****
Tháng 02 năm 2006
2

PHẦN MỞ ĐẦU

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
LN (LN) ở TP.HCM rất đa dạng, phong phú và chiếm một vị trí quan trọng.
Các cơ sở sản xuất ở LN có vốn đầu tư không lớn, nhưng giá trị làm ra không nhỏ,
thời gian thu hồi vốn nhanh. Cơ sở hạ tầng LN không đòi hỏi cao như các ngành
công nghiệp hiện đại, các khu công nghiệp tập trung. Những nơi không thuận lợi
trong việc phát triển công nghiệp quy mô lớn thì có thể phát triển tiểu thủ công
nghiệp nông thôn.
Việc quản lý cơ sở LN không phức tạp, phù hợp trình độ của chủ hộ, chủ
doanh nghiệp xuất thân là nông dân. Thị trường trong nước rộng lớn với trên 80
triệu người, thị trường du lịch và xuất khẩu ngày càng lớn, nhất là đối với hàng thủ
công mỹ nghệ và hàng chế biến nông sản nhiệt đới. Tiềm năng về lao động tuy hạn
chế về trình độ chuyên môn, kỹ thuật và kiến thức về thị trường, nhưng lực lượng
lao động nông thôn có những mặt mạnh cơ bản, cơ cấu lao động trẻ chiếm đa số,
trình độ văn hoá cấp II trở lên chiếm 70%, cần cù, tiếp thu kỹ thuật nhanh và có
tinh thần cộng đồng. Nguồn nguyên liệu sẵn có trong nông thôn trước hết là sản
phẩm từ nông lâm ngư nghiệp, các nguyên liệu phi nông nghiệp khác.
Có nhiều nghề và LN truyền thống bước đầu đã thích ứng nhanh với cơ chế
thị trường để phát triển. Nếu có những giải pháp thích hợp để phát huy những tiềm
năng này, LN sẽ có bước phát triển mới. Tuy vậy, trong cơ chế thị trường, các LN
đang gặp phải khó khăn như thiếu vốn, trang thiết bị thô sơ, lạc hậu, thị trường tiêu

- Về lý luận, làm rõ thêm một số lý thuyết có liên quan đến LN và LN phi nông
nghiệp, các đặc trưng, tiêu chí đánh giá, vị trí vai trò của LN và kinh nghiệm phát
triển LN một số nước có thể nghiên cứu vận dụng ở TP.HCM.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển LN trên giác độ kết quả đạt được và chưa
đạt được về kinh tế và an sinh xã hội ở ngoại thành TP. Hồ Chí Minh.
4

- Phân tích, dự báo các yếu tố bên ngoài, bên trong tác động đến LN nảy sinh các
cơ hội- thách thức, điểm mạnh - yếu, để đề xuất định hướng và giải pháp phù hợp
để phát triển LN ngoại thành, TP.HCM.
3.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đã được xác định giới hạn trên mấy phạm vi sau:
- Về không gian, đề tài tiến hành trên địa bàn 2 quận ven và 2 huyện huyện ngoại
thành là Thủ Đức, quận 12, Hóc Môn, Củ Chi; với hướng trọng tâm tập trung
nghiên cứu các LN phi nông nghiệp.
- Về thời gian, tập trung nghiên cứu đ ánh giá các LN đang tồn tại. Các định hướng
phát triển phải phù hợp cho trước mắt và tối thiểu đến năm 2010.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp tiếp cận
Phương pháp tiếp cận chung của đề tài là dựa trên quan điểm coi LN là đặc
trưng và chịu sự tác động chi phối thường xuyên, trực tiếp, mạnh mẽ của con người
và môi trường sống, một phần rất lớn tùy thuộc bởi cấu trúc không gian lãnh thổ,
tập quán sinh sống. Xét trên bình diện tổng thể ở ngoại thành TP.HCM là sự kết nối
hài hòa giữa phát triển sinh thái tự nhiên và tập quán sinh sống, sao cho phát huy
hiệu ứng tốt nhất để LN có thể phát triển bền vững.
Theo phương hướng đó và từ thực trạng của TP Hồ Chí Minh là mật độ dân
cư cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật quá tải và xuống cấp; trong khi, khu vực ngoại thành
còn điều kiện mặt bằng để phát triển. Sản xuất LN phi nông nghiệp đang dần dần
tiếp cận theo hướng mới và từng bước gắn với khai thác tiềm năng tại địa bàn để 6

PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LN PHI NÔNG NGHIỆP 1.1. TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ
1.1.1. Khái niệm về LN
Trong lịch sử phát triển phạm trù làng gắn liền với cộng đồng dân cư ở nông
thôn. Thông thường, khi nói đến hoạt động kinh tế của làng, trước hết là nói đến
hoạt động truyền thống là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Quan niệm về LN trước
hết gắn liền với các hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn. Trong quan
niệm LN bao gồm 2 nội dung đáng lưu ý:
- Trước hết, là một làng ở nông thôn gắn liền với cộng đồng dân cư và có các
đặc trưng của một làng xã nông thôn,
- Hai là, gắn liền với một hoạt động kinh tế phi nông nghiệp (NN) nào đó
của cộng đồng (như làm mộc, làm gốm, dệt vải.v.v).
Như vậy, có thể hình dung chung nhất : “làng” + “nghề” phi NN đến một qui
mô nào đó thì gọi là Làng nghề.
Cho đến nay, trong giới nghiên cứu còn có nhiều cách hiểu và quan niệm
khác nhau về Làng nghề. Nhiều vấn đề đặt ra khi tiếp cận quan niệm về Làng nghề.
Ví dụ, nên xem xét các nghề nghiệp đó đã hình thành từ lâu hay là mới được hình
thành; tỷ lệ của các hoạt động liên quan đ ến nghề của làng có vị trí như thế nào
trong hoạt động của làng đó (như tỷ lệ số hộ, số lao động, tỷ lệ về thu nhập so với
toàn bộ số hộ số lao động, số thu nhập của làng đó)…
Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Làng nghề là những làng sống bằng hoặc

cói, làng gốm sứ, vv ;
- Theo tính ổn định, LN được chia thành LN có xu hướng phát triển, LN
đang mai một, v.v.

1
Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa,Hà Nội, 2002.
8

Bên cạnh các cách phân loại trên còn có thể có những cách phân loại khác
tuỳ từng nhu cầu của công tác quản lý trong đó có cách phân loại LN của Phó Giáo
sư - Tiến sĩ Tôn Nữ Quỳnh Trân trong đề tài “LN thủ công truyền thống tại
TP.HCM”, Sở Khoa học- Công nghệ và Môi trường-Trung tâm Khoa học xã hội và
Nhân văn, năm 2000.

1.1.3. Tiêu chí LN được vận dụng trong đề tài:
Trong đề tài này, tiêu chí LN, nghề truyền thống, LN truyền thống, LN mới
và khái niệm ngành nghề nông thôn được thực hiện theo Quyết định 132/2000QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính phủ và công văn số 757/BNN/CBNLS ngày 22/3/2001
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn lập Quy hoạch Phát
triển ngành nghề nông thôn đến 2010. Như sau:
- LN là: Làng (thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát
triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của
người dân trong làng. Về mặt định lượng LN là làng có từ 35-40% số hộ trở lên có
tham gia hoạt động ngành nghề và có thể sinh sống bằng chính nguồn thu nhập từ
ngành nghề (thu nhập từ ngành nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ) và
giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa
phương. (Trong quá trình nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Phát triển ngành nghề
thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam; Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (năm 2003), đã điều chỉnh tiêu chí LN là: làng đáp ứng được
một trong hai tiêu chuẩn: hơn 20% số hộ trong làng tham gia sản xuất hàng thủ

chức chỉ đạo về kinh tế đưa ra những mức độ khác nhau của các tiêu chí định lượng
về LN. Song trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các tiêu chí cơ bản sau đây:
* Những tiêu chí có thể định lượng:
10

• Tỷ lệ số hộ tham gia làm ngành nghề so với số hộ của làng đó;
• Tỷ lệ số lao động tham gia ngành nghề đó (trong tổng số lao động);
• Tỷ lệ thu nhập của ngành nghề đó so với tổng thu nhập của dân cư
trong LN;
• Nhà xưởng, thiết bị và ứng dụng tiến bộ KHKT trong LN;
• Trình độ tay nghề của nghệ nhân và người lao động LN;
• Nguồn gốc vốn của LN;
• Nguyên liệu đảm bảo cho sự phát triển LN;
• Sản phẩm LN tạo ra;
• Thị trường tiêu thụ Sản phẩm LN;
• Khả năng cạnh tranh của Sản phẩm LN;
• Bảo vệ môi trường của LN;
• Hiệu quả SXKD của LN;
• Đóng góp về kinh tế, văn hoá, xã hội của LN;
• Khả năng liên kết với các DN của các LN;
* Những tiêu chí khó định lượng:
• Sản phẩm làm ra có thể hiện được tính mỹ nghệ, mang đậm nét yếu tố
văn hoá và bản sắc của từng địa phương hoặc là dân tộc;
• Sản xuất theo những quy trình tương đối ổn định và được lưu truyền
từ đời này sang đời khác;
Tiêu chí đ ịnh lượng thì nên xem xét là LN khi số lao động tham gia hoạt
động ngành nghề chiếm 50% lao động của làng trở lên; thu nhập từ hoạt động
ngành nghề cũng chiếm trên 50% trở lên so với tổng thu nhập của làng. Ở nhiều địa
phương hiện nay, ở nhiều LN, giá trị thu nhập phi NN đã chiếm 60 – 70% tổng thu
nhập của làng.

12

sửa đổi 2 lần và phối hợp với các luật khác như luật Bảo tồn các giá trị văn hoá (ra
đời năm 1925), luật Khuyến khích phát triển năng lực lao động (ra đời năm
1969)… đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra lối sống và văn hoá
Nhật bản.
- Cơ chế hoạt động của luật phát triển nghề thủ công truyền thống
+ Nguyên tắc xác định sản phẩm thủ công truyền thống: sản phẩm phải có
lịch sử tồn tại trên dưới 100 năm; Quá trình sản xuất phải được thực hiện bằng tay
với những đặc điểm đặc trưng khu vực trong nguyên, vật liệu hoặc kỹ thuật chế tác.
Chính phủ sau khi nhận đơn, tổ chức một ban tư vấn nhằm đ iều tra đối với mặt
hàng được yêu cầu. Dựa trên kết quả thẩm tra, Bộ Công thương (Bộ chủ trì hỗ trợ
cho nghề thủ công truyền thống theo luật) chính thức công nhận đó là sản phẩm thủ
công truyền thống và đề ra các biện pháp hỗ trợ.
+ Sự bảo lãnh của chính quyền địa phương: các sản phẩm thủ công truyền
thống mang đậm nét đặc trưng của địa phương, do đó chính quyền địa phương
(thống đốc hay thị trưởng) cần bảo lãnh cho sản phẩm đó ở giai đoạn xét duyệt. Cơ
chế này được tạo nên để có thể phối hợp tốt giữa sự hỗ trợ của chính quyền Trung
ương và địa phương. Nhìn chung, kinh phí tài trợ cho các sản phẩm được công
nhận sẽ do chính phủ cấp một nửa, phần còn lại do địa phương đảm nhiệm.
1.2.1.2. Các chính sách cụ thể của chính phủ dựa trên luật phát triển nghề
thủ công truyền thống
Tổng mức bao cấp để phát triển nghề thủ công truyền thống của Nhật Bản
vào khoảng một tỷ yên, trong đó mức hỗ trợ trực tiếp vào khu vực sản xuất là
khoảng 200 triệu yên và hỗ trợ phát triển cho cơ sở nghề thủ công truyền thống là
800 triệu yên, tập trung ở các hoạt động sau:
- Đào tạo lực lượng kế tục: sau gần 30 năm vận hành luật, có thể thấy hầu
như mỗi khu vực sản xuất đều đã có một dự án đào tạo thợ thủ công kế tục. Do kỹ
thuật thủ công truyền thống được truyền từ người nọ sang người kia, nên việc kế
13

phẩm của các nhà sản xuất, quản lý.
- Thành lập Hiệp hội nghề thủ công truyền thống: dựa trên luật Phát triển
nghề thủ công truyền thống, Hiệp hội nghề thủ công truyền thống đã được thành
lập từ năm 1975, trên cơ sở các hợp tác xã nhằm khuyến khích phát triển nghề thủ
công truyền thống. Hiệp hội đã có nhiều dự án về các lĩnh vực khác nhau và đã có
được sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương.
- Tổ chức các cuộc thi sản phẩm thủ công: các cuộc thi này được tổ chức
công khai cho cả các sản phẩm thủ công đã được xác nhận và chưa được xác nhận.
Giải thưởng của Thủ tướng và của Bộ trưởng Bộ Công thương được trao cho những
cải tiến về kỹ thuật và phát triển sản phẩm dựa trên công nghệ truyền thống.
- Giáo dục thế hệ trẻ: các thợ thủ công sản xuất hàng thủ công truyền thống
được mời đến các trường tiểu học, trường trung học cơ sở để thuyết trình về kỹ
thuật và kinh nghiệm sản xuất để học sinh từ nhỏ đã có thể làm quen được với các
phương pháp, công nghệ, vật liệu,…, nhằm đào tạo thợ thủ công trong tương lai và
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Thành lập Trung tâm nghề thủ công quốc gia: Trung tâm nghề thủ công
quốc gia được thành lập năm 1979 tại Tokyo, sau chuyển đến Ikebukuro năm 2001,
với chức năng cung cấp thông tin về nghề thủ công truyền thống. Trung tâm cũng
là nơi triển lãm, cung cấp tài liệu, sách báo, phim để trao đổi thông tin giữa người
sản xuất và người sử dụng.
1.2.1.3. Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” (One Village, One Product) ở Nhật
Bản nhằm mục đích đẩy mạnh việc phát triển các sản phẩm đặc trưng của mỗi vùng
trong khu vực. Phong trào này được khai sinh tại quận Oita vào năm 1979 với ý
tưởng mang lại sức sống cho mỗi vùng bằng cách phát huy sức mạnh nguồn nhân
lực tại chỗ để làm sống lại các ngành nghề thủ công truyền thống của nó. Hai khẩu
15

hiệu nổi tiếng là: “Nghĩ về tổng thể, hành động ở địa phương” và “Độc lập và sáng
tạo”. Phong trào cũng đề ra 3 nguyên tắc chủ đạo trong hoạt động đó là:

thị trường các nước khác. Cho đến nay phong trào đã tạo nên bầu không khí độc lập
và sáng tạo ở nhiều địa phương. Số lượng sản phẩm thủ công được làm và bán ra
tăng từ 143 loại sản phẩm và thu nhập 35,9 tỷ yên khi phong trào mới bắt đầu lên
336 loại sản phẩm và cho thu nhập 141 tỷ yên vào năm 2001. Nhiều nghề truyền
thống tưởng như đã bị mai một được khôi phục lại, có khoảng 200 nghề mới được
tạo dựng.
Từ thành công của quận Oita, sau 5 năm phát động đã có 20 quận trong
nước Nhật Bản hưởng ứng với các dự án tương tự như dự án phát triển “sản phẩm
của làng”, “chương trình phát triển thành phố quê hương”, “chương trình làm sống
lại địa phương” Không những thế, tinh thần của phong trào này còn hấp dẫn
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
Để ghi nhận đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế một cách tự tin của các
nước châu á, ông Morihiko Hiramatsu - thị trưởng Oita, người khởi xướng phong
trào “mỗi làng một sản phẩm” ở Nhật Bản đã được trao giải thưởng Ramon
Magsaysay (một giải thưởng có uy tín tương tự như giải Nobel) vào năm 1995.

1.2.2. Thái Lan
Ở Thái Lan, đầu những năm 1990, lao động nông nghiệp vẫn chiếm 82,7%
lao động ở nông thôn. Hàng năm, lao động nông nhàn và thất nghiệp đều cao cùng
với tu nhập và mức sống chênh lệch khá xa giữa nông thôn và thành thị nên hàng
vạn dân cư nông thôn - nhất là thanh niên chuyển dịch vào thành thị kiếm sống
bằng đủ mọi ngành nghề. Trước thực trạng đó, Chính phủ đã có những giải pháp
tạo việc làm tại chỗ ở nông thôn. Riêng về ngành nghề truyền thống, các LN đ ược
17

khuyến khích phát triển. Một số ngành như kim hoàn, chế tác đá quí làm đồ trang
sức đã tạo việc làm cho hàng vạn người. Năm 1990, mức xuất khẩu các sản phẩm
thủ công chế tác từ vàng bạc, đá quí đạt 2 tỷ USD, tạo việc làm cho hàng vạn lao
động.
Sau khi Thủ tướng Thái Lan đi thăm cửa hàng “mỗi làng một sản phẩm

Bộ Thương mại Thái Lan sẽ tổ chức hội chợ ở cả trong nước và quốc tế để
tiếp thị. Lần hội chợ đầu tiên ở Thái Lan tháng 9/2004 đã có 16 quốc gia tham gia.
Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra tới dự, phát biểu bằng tiếng Anh không
cầm giấy và rất thuộc bài, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ nhằm "kết
nối các địa phương Thái Lan với toàn cầu". Năm tới, hội chợ sẽ tổ chức ở Trung
Quốc.
Từ sự phát triển của các LN Thái Lan ta thấy, nếu không có sự tham gia hỗ
trợ của Chính phủ, thì tiềm năng của các LN Thái Lan sẽ mai một. Có sự tham gia
của Chính phủ, thì những tiềm năng đó biến thành tiền đếm được.
Các LN được tổ chức tốt và được đ ưa vào các chương trình tour du lịch của
Thái Lan bằng nhiều hình thức, điển hình như tờ bướm giới thiệu chương trình
OTOP du lịch.
Chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" của chính phủ Thái Lan đã mang lại
nhiều kết quả đang khích lệ và dự kiến sản phẩm của các làng này sẽ tham gia xuất
khẩu từ năm 2004. Năm 2001, doanh thu từ việc bán sản phẩm của các làng này chỉ
đạt 200 triệu baht, nhưng trong 7 tháng đầu năm 2002 con số này đã vọt lên 11,8 tỉ
baht, dự kiến cả năm 2002 đạt 15 tỉ baht. Chương trình Mỗi làng một sản phẩm
đang nhắm đến thị trường đầu ra của các sản phẩm là Nhật, và những thị trường
khác như Italy, Mỹ. Uỷ ban điều hành chương trình này đang hợp tác với tổ chức
xúc tiến ngoại thương Nhật Bản (JETRO) để giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ của Thái Lan.
19 1.2.3. Đài Loan
Là một quốc đảo có ít đất nông nghiệp. Vì thế, bên cạnh những giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Chính phủ Đài Loan đã tích cực tác động ñể
mở rộng các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Những tác động mở rộng
các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn của Chính phủ Đài Loan được thực
hiện theo hai hướng:

thiệu những mặt hàng đặc sắc, xúc tiến xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài.

1.2.5. Indonexia
Mỗi vùng của Indonexia ñều có những sắc thái riêng về tài nguyên,
khoáng sản, tập quán dân tộc. Các ngành nghề thủ công truyền thống gắn liền
với từng vùng kinh tế sinh thái rất đa dạng. Trước hết, các ngành nghề thủ công
gắn với làng nghề nhằm phục vụ cho nhu cầu tại chỗ do đặc điểm bị chia cắt
giữa các hòn đảo, dần dần các hoạt động làng nghề đ ược mở rộng, nâng cấp
phục vụ cho xuất khẩu. Chính phủ Indonexia đã ñề ra chương trình phát triển
ngành tiểu thủ công nghiệp thông qua các chương trình phát triển kinh tế xã hội
5 năm.
+ Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất: Chính phủ khuyến khích việc xây dựng
các cơ sở sản xuất và các Trung tâm bán sản phẩm làng nghề nông thôn.
+ Kế hoạch 5 nă m lần thứ 2: thông qua các dự án hướng dẫn phát triển
công nghiệp nhỏ gắn liền với truyền bá kiến thức về ngành nghề cho dân cư.
+ Kế hoạch 5 năm lần thứ 3: Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan ñể
quản lý, chỉ đạo hoạt động cung ứng về vật tư thiết kế, xúc tiến thương mại và
tiêu thụ sản phẩm. ở cấp toàn quốc hình thành "Hội đồng thủ công nghiệp quốc
gia" nhằm liên kết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và làng nghề nông thôn. Các
hội chuyên ngành và địa phương thuộc hội đồng trên đóng vai trò rất tích cực
21

trong việc liên kết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, hỗ trợ thiết kế mẫu
mã, tổ chức triển lãm ở nông thôn, xuất khẩu hàng tiểu thủ công nghiệp. Nhờ
những hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các LN và cơ sở tiểu thủ công nghiệp nông
thôn ở Indolesia khôi phục và phát triển. Chỉ riêng ở Java, điều tra 10 LN thủ
công đã có 44% lao động nông thôn tham gia. Trong đó, 19% làm việc ở các cơ
sở chuyên tiểu thủ công nghiệp. Nhờ đó, thu nhập của nông dân từ các hoạt động
phi nông nghiệp trong những năm gần đây tăng từ 12% lên 23% tổng thu nhập
của dân cư nông thôn

tế LN vẫn có vai trò, vị trí quan trọng cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, vì vậy cần
phải được duy trì, củng cố, phát triển.
Trong phần 1, đề tài khái quát các bài học kinh nghiệm một số nước về phát
triển LN để làm tài liệu tham khảo cho việc đưa ra các giải pháp để củng cố và phát
triển LN phi nông nghiệp ngoại thành TP.HCM.
23PHẦN 2

HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ PHI NÔNG
NGHIỆP NGOẠI THÀNH TP.HCM NHỮNG NĂM QUA

1.

Giỏ đệm Xã Tân Thạnh Tây, huyện Củ Chi
2.

Nấu rượu Xã Trung Lập Thượng, Củ Chi
3.

Đan đát Xã Thái Mỹ, Củ Chi
4.

Sơn mài Xã Bình Mỹ, Củ Chi
5.

Bánh tráng Xã Phú Hoà Đông, Củ Chi
6.

Sừng mỹ nghệ Xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn
7.

Mây tre đan Xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn
8.

Gỗ gia dụng Phường Đông Hưng Thuận, quận 12
9.

Tinh bột Phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức
10.

Nấu rượu Phường Trường Thọ, quận Thủ Đức


liên kết sản
xuất
Công ty cổ phần, liên
danh (số hộ)
19,0 7,0 12,0
Tổng số hộ sản xuất
3.683 194,0 3.489
(Nguồn: Kết quả điều tra của đề tài)
2.1.2. Chủ hộ sản xuất
Chủ hộ và cơ sở sản xuất được chia thành 3 nhóm với tuổi đời bình quân tính
chung trên địa bàn TP là 49,8 tuổi, trong đó các chủ hộ của quận là 46,6 tuổi và
huyện là 50,9 tuổi.
-Nhóm thứ 1 có thể kể đến là nông dân, là người định cư, sinh sống và gắn bó với
địa bàn nông nghiệp từ lâu qua tích luỹ các yếu tố sản xuất, kinh nghiệm, kỷ năng
mà hình thành nên các LN bao gồm các hộ nông dân và cán bộ cấp xã chiếm phần
lớn các hộ sản xuất tại địa phương; có tỷ lệ chung cho TP là 87,4%.
-Nhóm thứ 2 là cán bộ, công chức và công nhân đang làm việc do có mối quan hệ
trước đây, có vốn, có thị trường, có lao động nhàn rỗ nền đã tạo lập và hình thành
cơ sở sản xuất sản phẩm LN , chiếm 4,8% – 5,24%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status