Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm tối ưu hóa phông lưu trữ Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội - Pdf 25

Đại học quốc gia Hà Nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
-

Lê Thị Thu Hương Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm tối ưu hóa phông lưu
trữ ủy ban nhân dân
thành phố Hà Nội
Luận văn thạc sỹ khoa học lưu trữ học và tư liệu học Người hướng dẫn khoa học: PGS. Vương đình quyền
Học viên: Lê Thị thu hương Hà Nội - 2005

1
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Mục tiêu của đề tài 5
3. Phạm vi nghiên cứu 5
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
7. Nguồn tài liệu sử dụng để thực hiện luận văn 8
6. Bố cục của luận văn 9
1. Phần mở đầu 9
2. Phần nội dung: chia làm 3 chương 9

2
Chương III 86
Các Giải pháp nhằm tối ưu hóa phông lưu trữ 86
ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 86
3.1. Nội dung của tối ưu hóa tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành phố
Hà Nội 86
3.1.1. Khái niệm 86
3.2. Các giải pháp nhằm tối ưu hóa phông lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành
phố Hà Nội 88
3.2.1. Đối với khối tài liệu đã được chỉnh lý (từ 1954 - 1994) 88
Kết luận 101
Phụ lục 103
Tài liệu tham khảo 107
được hình thành (kèm theo Nghị đinh 527-TTg ngày 2/11/1957 của Thủ tướng
Chính phủ), Phòng Lưu trữ Uỷ ban hành chính (nay là Uỷ ban nhân dân thành
phố Hà Nội) đã được thành lập. Khối tài liệu hình thành trong hoạt động của Uỷ
ban nhân dân Thành phố đã được tập trung bảo quản tại kho lưu trữ thuộc Phòng
Lưu trữ Văn phòng Uỷ ban. Các nghiệp vụ về lưu trữ, như: lập hồ sơ, phân loại,
xác định giá trị tài liệu nhằm tổ chức khoa học tài liệu phông lưu trữ đã được
tiến hành. Kết quả là tài liệu của Phông từ 1954 đến 2000 về cơ bản đã được tập
trung bảo quản tại các kho trong trụ sở Uỷ ban nhân dân Thành phố. Trong đó
tài liệu từ năm 1954 đến 1995 đã được chỉnh lý, phục vụ cho công tác lãnh đạo
chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân Thành phố.
Tuy nhiên do công tác thu thập chưa được chú trọng thực hiện đúng chức
năng, do sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước về công tác lưu trữ chưa
cụ thể, việc thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ như lập hồ sơ lưu trữ, hệ thống hóa
hồ sơ còn những hạn chế nhất định nên chất lượng hồ sơ đã chỉnh lý chưa đáp
ứng yêu cầu của khoa học lưu trữ cũng như yêu cầu khai thác sử dụng tài liêu
Phông lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Những hạn chế của hồ sơ tài
liệu trong Phông được thể hiện ở những điểm sau:
+ Nhiều hồ sơ tài liệu chưa được thu thập, bổ sung hoàn chỉnh;
+ Công tác lập hồ sơ, xác định giá trị, hệ thống hoá hồ sơ còn nhiều điểm
chưa khoa học, chưa hợp lý.
Những hạn chế trên ảnh hưởng đến việc phát huy hiệu quả tài liệu lưu trữ.
Vì vậy, tối ưu hoá khối tài liệu này là một việc làm cấp thiết. Mặt khác, tuy đã
có nhiều cố gắng trong tiến hành các nghiệp vụ lưu trữ, Trung tâm Lưu trữ
Thành phố chưa có điều kiện đánh giá một cách hệ thống và toàn diện quá trình
thực hiện chuyên môn nghiệp vụ, chỉ rõ những hạn chế, bất cập để khắc phục,

5
nhằm thực hiện tốt hơn nghiệp vụ lưu trữ đối với khối tài liệu tiếp theo. Do vậy,
nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc chất lượng của khối tài liệu này là việc làm cần
thiết.

nhất, ổn định và tập trung vào hoàn thiện bộ máy, phát triển kinh tế, xã hội. Các
hồ sơ lưu trữ từ đây có điều kiện bảo quản, quản lý tốt hơn, phản ánh đầy đủ hơn
quá trình phát triển của Thủ đô Hà Nội. Các hồ sơ lưu trữ từ năm 1954 đến nay
là chứng tích chân thực về hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn Thủ đô ở tất
cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh.
Đề tài chủ yếu nghiên cứu khối hồ sơ tài liệu từ năm 1954-1994, đặc biệt
tập trung đi sâu nghiên cứu các hồ sơ từ 1975-1994.
Hiện nay, khối tài liệu được bảo quản trong kho gồm tài liệu được hình
thành trong hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành phố Hà
Nội hợp thành tài liệu của chính quyền Thành phố. Trong đề tài này, chúng tôi
xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ các hồ sơ lưu trữ của Uỷ
ban nhân dân Thành phố, cơ quan hành pháp cao nhất của Thủ đô Hà Nội.
Khối tài liệu này hiện nay thuộc lưu trữ cố định. Năm 1998, Trung tâm
lưu trữ thành phố Hà Nội được thành lập với chức năng quản lý nhà nước về
công tác lưu trữ trên địa bàn Thủ đô, vừa làm nhiệm vụ lưu trữ lịch sử vừa làm
nhiệm vụ lưu trữ hiện hành. Công tác lưu trữ có rất nhiều nghiệp vụ khác nhau
và được tiến hành tuân theo một quy trình cụ thể. Quy trình lưu trữ cố định có
những điểm khác với quy trình của lưu trữ hiện hành. Phạm vi của đề tài là
nghiên cứu đánh giá đối với hồ sơ lưu trữ cố định, từ đó tạo cơ sở khoa học để
hoàn thiện Phông, đồng thời làm cơ sở lý luận và thực tiễn giúp cho Lưu trữ
hiện hành của Uỷ ban thực hiện nghiệp vụ ngày càng khoa học và hợp lý hơn.

7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, tác giả tiến hành nghiên cứu những nội
dung sau:
- Quá trình lịch sử hình thành và phát triển của thủ đô Hà Nội.
- Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội
từ ngày thành lập đến nay.
- Lịch sử Phông Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội.

6. Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mac-Lênin về nhận thức khoa học thể hiện ở chủ nghĩa duy vật lịch
sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Để nhận thức cụ thể và đánh giá tổng quát chất lượng hồ sơ lưu trữ
Phông Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, chúng tôi áp dụng phương pháp
nghiên cứu trực tiếp gồm: điều tra, khảo sát; phân tích và tổng hợp; quy nạp và
diễn dịch; phương pháp hệ thống, thống kê; lịch sử và logic; so sánh
7. Nguồn tài liệu sử dụng để thực hiện luận văn
Để thực hiện các yêu cầu đặt ra của luận văn, chúng tôi đã nghiên cứu, sử
dụng nguồn tài liệu cơ bản sau:

9
- Tài liệu kinh điển: Triết học Mac-Lênin; Hồ Chí Minh toàn tập
- Các văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980,
1992; Luật tổ chức UBND năm 1980; Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994;
2003; Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia năm 2001; các văn bản của Cục Lưu trữ Nhà
nước hướng dẫn nghiệp vụ tại các lưu trữ tỉnh, thành phố thuộc TW; các văn bản
của UBNDThành phố chỉ đạo, hướng dẫn công tác lưu trữ trên địa bàn Thủ đô.
- Các sách lý luận: Giáo trình "Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ" do
Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp phát hành, năm 1980; Lý luận và thực
tiễn công tác lưu trữ - Sách của trường Đại học Lưu trữ Matxcơva, 1980 (bản
dịch).
- Hồ sơ tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội có thời
gian hình thành từ 1954 đến 1995 được bảo quản theo năm trên các giá trong
kho lưu trữ đặt tại trụ sở Uỷ ban Thành phố Hà Nội.
- Các quyển mục lục hồ sơ phông lưu trữ UBND Thành phố.
Một nguồn tài liệu khác là khối hồ sơ tài liệu từ 1995 đến 2000 hiện đang
được tiến hành chỉnh lý lập hồ sơ.
6. Bố cục của luận văn

hướng dẫn và những người đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, tháng 12 năm 2004

Tác giả

11
Chương I
Khái quát lịch sử đơn vị hình thành phông và lịch sử
phông lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội

1.1. Lịch sử đơn vị hình thành phông lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội
1.1.1 Giới thiệu chung về Thủ đô Hà Nội
Cách mạng tháng 8 thành công, Hà Nội đã trở thành trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hoá của nước Việt Nam mới. Từ ngày 2/9/1945 (ngày Chủ tịch Hồ
Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập) đến nay, Hà Nội là đầu não chính trị của cả
nước - nơi đặt trụ sở của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương - nay là
Đảng Cộng sản Việt Nam; Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan Trung ương.
Chính điều này đã quy định tính gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh xây dựng.
bảo vệ Thủ đô Hà Nội thời kỳ 1945 - 1975. Thời kỳ này cũng khẳng định tinh
thần quyết chiến, bảo vệ nền độc lập, bảo vệ Thủ đô của nhân dân Hà Nội.
Sau Cách mạng Tháng 8 , thành phố Hà Nội là nơi phải chịu hậu quả nặng
nề do chế độ thực dân, phong kiến để lại. Vượt lên mọi khó khăn, thử thách, Hà
Nội đã sục sôi khí thế cách mạng. Sức mạnh của Hà Nội đã được tổng hợp, được
nhân lên từ sự ra đời của chế độ mới, một chế độ mà ở đó thiết chế quyền lực
thực sự thuộc về nhân dân lao động, bao gồm: công nhân, nông dân, trí thức,
tiểu tư sản yêu nước, tư sản dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Đảng Cộng
sản Đông Dương và của chính quyền cách mạng mới được lập ở Hà Nội.
Trong quá trình tiến tới tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch

Tháng 5/1946, Uỷ ban hành chính thành phố đã ra quyết định chia Hà Nội
thành 17 khu phố nội thành (Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành,

13
Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bảy Mẫu,
Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Bạch Mai, Vạn Thái, Đồng Nhân), 5
khu hành chính ngoại thành, gồm: Đại La, Đề Thám, Mê Linh, Lãng Bạc, Đống
Đa.
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến, “bắt đầu từ 20h30 ngày 19/12/1946, cả Hà Nội đứng lên kháng chiến”
[26, 33]. Với tinh thần quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, quân và dân Hà Nội đã
anh dũng chiến đấu, bao vây, giam chân địch 60 ngày trong thành phố (vượt
mức kế hoạch), bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước rút
khỏi thành phố, lên Việt Bắc tiếp tục lãnh đạo kháng chiến. Tháng 10 năm 1947,
Uỷ ban hành chính hợp nhất với Uỷ ban kháng chiến thành Uỷ ban kháng chiến
hành chính Hà Nội.
Trong suốt thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, Hà Nội tiếp tục xây dựng và giữ gìn lực lượng cách mạng. Uỷ ban
hành chính kháng chiến đã không ngừng hoạt động, lúc bí mật, lúc công khai, tổ
chức, chỉ đạo các hoạt động chiến tranh du kích trên khắp các địa bàn thành phố;
tiến hành các cuộc đấu tranh chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần phá tan âm mưu
của địch tại sào huyệt của chúng ở Hà Nội; phối hợp với các chiến trường chống
thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Với tư thế của người dân một nước giành
độc lập, nhân dân Thủ đô đã đem hết sức mình, góp phần đưa kháng chiến đến
thắng lợi. Ngày 10/10/1954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng, lịch sử Thủ đô mở
sang một trang mới.
Ngày 17/9/1954, Hội đồng Chính phủ đã quyết nghị thành lập và quy định
nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Quân chính Hà Nội - cơ quan cao nhất của Hà
Nội làm nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Ngày 30/9/1954, các hiệp nghị về chuyển
giao Hà Nội dược hoàn tất. Ngay sau ngày tiếp quản Thủ đô, Hà Nội đã nhanh

hành cải tạo theo hình thức công tư hợp doanh 496 xí nghiệp, 421 cửa hàng, 134
hộ vận tải cơ giới [26, 70]. Thành phố đã tổ chức được 1.718 cơ sở hợp tác tiểu
thủ công. Nhiều ngành nghề sản xuất đã hoàn thành hợp tác toàn thể (HTX),
như: kim khí, dệt vải, may, thủy tinh Trên 10.000 hộ tiểu thương đã được tổ
chức vào các tổ và cửa hàng, hợp tác. ở khu vực ngoại thành đã có 277 hợp tác
xã được xây dựng[1, 70]. Cùng với những thắng lợi trong công tác cải tạo xã hội
chủ nghĩa, các phong trào thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn
đấu vượt mức kế hoạch Nhà nước ở tất cả các đơn vị sản xuất, đơn vị hành chính
sự nghiệp được đẩy mạnh.
Thắng lợi của kế hoạch 3 năm 1958 - 1960 đã tạo nền tảng vững chắc để
Hà Nội cùng miền Bắc bước vào thời kỳ phát triển mới, tạo đà và thế để Hà Nội
tiếp tục vươn lên trở thành một thành phố gương mẫu, một trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hoá của cả nước.
Do vị trí quan trọng của Thủ đô trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
và đấu tranh thống nhất nước nhà, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết về quy hoạch
cải tạo và mở rộng thành phố Hà Nội. Theo yêu cầu mở rộng Thủ đô, các tỉnh
Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Đông và Hưng Yên chuyển giao về Hà Nội 65 xã, 6
thôn và hai thị trấn. Hà Nội sau khi mở rộng (lần thứ nhất) về phía bắc giáp
huyện Kim Anh (Vĩnh Phúc); nam giáp thị xã Hà Đông và những xã còn lại của
huyện Thanh Trì cũ (Hà Đông); đông giáp các xã còn lại của huyện Từ Sơn,
huyên Tiên Du, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh); tây giáp huyện Yên Lãng
(Vĩnh Phúc) và các xã còn lại của huyện Đan Phượng, Hoài Đức (Hà Đông).
Với địa thế trên, Hà Nội có 40 km dòng sông Hồng chảy từ tây bắc xuống đông
nam, chia thành phố làm hai phần, tả và hữu sông Hồng.
Từ năm 1964, đế quốc Mỹ tăng cường các hoạt động chuẩn bị mở rộng
chiến tranh ra miền Bắc. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
nhân dân Thủ đô Hà Nội đẩy mạnh phong trào thi đua “Mỗi người làm việc

16
bằng hai, ra sức xây dựng, bảo vệ miền Bắc, ủng hộ nhân dân miền Nam chống

Năm 1972 đế quốc Mỹ lại gây chiến tranh phá hoại bằng không quân đối
vối miền Bắc, chúng đã mở cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội và một số tỉnh
thành. Từ năm 1973, sau khi Hiệp định Pari về kết thúc chiến tranh, lập lại hoà
bình ở Việt Nam được ký kết, hoà bình được lập lại ở miền Bắc. Uỷ ban hành
chính Thành phố đã có nhiều biện pháp tăng cường công tác trật tự trị an, phát
động quần chúng kiên quyết đấu tranh chống bọn tội phạm.
Năm 1979, Lãnh đạo UBND Thành phố Hà Nội nhấn mạnh nhiệm vụ
trước mắt cần thực hiện: “bên cạnh nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu
tốt bảo vệ Tổ quốc, Thành phố cần đẩy mạnh sản xuất và ổn định đời sống nhân
dân, đặc biệt cần tập trung giải quyết tốt vấn đề chế biến lương thực, cung cấp
rau và nước chấm; cấp nước về mùa hè; chăm lo phát triển sự nghiệp văn hoá, y
tế, giáo dục, thể dục, thể thao; chú ý công tác nhà trẻ, mẫu giáo, tổ chức vui
chơi, giải trí cho thanh thiếu niên [12, 190].
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, khó
khăn còn rất nhiều đối với Hà Nội. Vận dụng và cụ thể hoá đường lối đổi mới
của Đảng, của Thành uỷ, UBND Thành phố đã có những quyết định chuyển
hướng mạnh mọi hoạt động sản kinh tế xã hội của Thủ đô. Năm 1987 giá trị sản
lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng đều tăng trên
10%, xây dựng cơ bản cũng đạt được nhiều thành quả, như: hoàn thành
36.900m
2
nhà ở và công trình dịch vụ, xây xong 05 công trình thuỷ lợi; văn hoá,
giáo dục, y tế, thể dụng thể thao được phát huy; an ninh chính trị được giữ vững;
trật tự vệ sinh công cộng có những bước tiến bộ rõ rệt.
Từ 1995 đến nay, Thủ đô Hà Nội đã có những bước chuyển mình rõ rệt.
Tình hình chính trị, an ninh quốc phòng luôn ổn định và được giữ vững; kinh tế,

18
văn hoá, giáo dục, hạ tầng đô thị luôn phát triển; đời sống của nhân dân được cải
thiện. Hà Nội được UNESCO công nhận là “thành phố vì hòa bình”, được Đảng,

Ngày31/12/1959 Hiến pháp mới (thay cho hiến pháp 1946) của nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội thông qua. Theo quy định ở các điều
87, 89, 90, 91, UBHC các cấp (trong đó có UBHC thành phố Hà Nội) có những
nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- UBHC là cơ quan chấp hành của HĐND; là cơ quan hành chính của Nhà
nước ở địa phương;
- Quản lý công tác hành chính (trên địa bàn Thủ đô); chấp hành nghị quyết
của HĐND (thành phố Hà Nội) và nghị quyết, mệnh lệnh của cơ quan hành
chính Nhà nước cấp trên;
- Ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những quyết định, chỉ thị
đó.
- Lãnh đạo công tác của các ngành thuộc quyền mình và của các UBHC
cấp dưới;
- Sửa đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định, chỉ thị không thích đáng của cơ
quan chuyên môn cùng cấp hoặc cấp dưới;
- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của HĐND
cấp dưới trực tiếp và đề nghị HĐND cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị
quyết ấy;
- Chịu trách nhiệm báo cáo trước HĐND (tỉnh, thành phố), Hội đồng
Chính phủ. [6. 58,59,60]
Sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước đã ban hành hiến pháp mới - Hiến
pháp 1980. ở hiến pháp này nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp đã được

20
quy định cụ thể hơn. Ngày 15 tháng 4 năm 1992, Quốc hội khoá VIII đã thông
qua Hiến pháp mới nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Về
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân các cấp quy định trong Hiến pháp 1992 được Luật và Pháp lệnh cụ thể
hoá. Cụ thể ngày 5/7/1994 Luật số 35/LCTN về tổ chức Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được ban hành. Điều 43 của luật này quy định cụ thể

thời các loại thuế và các khoản thu khác.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện việc quản lý địa giới đơn vị
hành chính, xây dựng đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính ở
phạm vi quản lý đưa ra Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố thông qua để trình
cấp trên xét (theo điều 44).
Uỷ ban nhân dân Thành phố thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các
vấn đề sau:
- Chương trình làm việc của Uỷ ban nhân dân;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân
sách hàng năm và quỹ dự trữ của Thành phố trình Hội đồng nhân dân;
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về kinh tế -
xã hội, thông qua báo cáo của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân;
- Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân và việc phân vạch, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính ở
phạm vi Hà Nội.
Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của Thành
phố cho Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

22
Uỷ ban nhân dân và các thành viên Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội có
trách nhiệm giải quyết và trả lời các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân.
1) Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân Thành phố
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội là người lãnh đạo và điều
hành công việc của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, chịu trách nhiệm cá
nhân về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình, cùng với tập thể Uỷ
ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội
đồng nhân dân Thành phố và Chính phủ.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố phân công công tác cho Phó Chủ
tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội; người được

nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp
bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, viên
chức Nhà nước theo sự phân cấp quản lý.
- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của cơ quan
chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân Thành phố và những văn bản sai trái của
Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp quận, huyện.
- Đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp
quận, huyện và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp Thành phố bãi bỏ.
Ngày 7 tháng 4 năm 1988, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã
ban hành Quyết định số 1521QĐ/UB về chế độ làm việc của thường trực Uỷ ban
nhân dân thành phố. Quyết định này đã cụ thể hoá Luật Tổ chức HĐND và
UBND tỉnh thành phố đối với nhiệm vụ của Thường trực UBND thành phố,
chức trách và nhiệm vụ của phó chủ tịch như sau[71,2]:

Trích đoạn phương án phân loại và hệ thống hoá hồ sơ Nội dung của tối ưu hóa tài liệuPhông lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành phố Đối với khối tài liệu đã được chỉnh lý (từ 1954 1994)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status