TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Viện Đào Tạo Sau Đại Học
TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
Đề tài:
MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ
QUAN TRỌNG TRONG VIỆC CHẤP NHẬN QUẢN LÝ TRI
THỨC Ở KHU VỰC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
Nhóm học viên thực hiện:
Vũ Phi Long (7701220644)
Võ Lý Thị Nhị Nương (7701220854)
Lớp: QTKD_Đêm 5_K22
TP.HCM, tháng 11 năm 2013
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
MỤC LỤC
Lời nói đầu
1. Tóm tắt đề tài 3
2. Giới thiệu chung 4
3. Cơ sở lý thuyết 5
4. Phương pháp nghiên cứu 8
4.1. Quy trình nghiên cứu 8
4.2. Phương pháp và công cụ thu thập dữ liệu 10
4.3. Phương pháp phân tích dữ liệu 12
5. Kết quả nghiên cứu 13
5.1. Các đặc tính và thông tin về các mẫu hồi đáp 13
5.2. Đánh giá các nhân tố thành công then chốt 17
5.3. Phân tích các nhân tố thành công then chốt 21
6. Đóng góp và hàm ý quản trị 25
7. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tương lai 28
8. Kết luận 29
1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Mục tiêu – Kiểm định các nhân tố thành công then chốt (hay “nhân tố thành
công”) đối với việc chấp nhận quản lý tri thức trong các doanh nghiệp quy mô
nhỏ và vừa (DNNVV) – một lĩnh vực mà cho đến hiện tại vẫn còn nhận được ít
sự chú ý trong nghiên cứu.
Thiết kế/ phương pháp/ cách tiếp cận - Bảng khảo sát gồm 11 nhân tố và 66
thành phần đã được xây dựng. Thông qua khảo sát bằng thư tín, dữ liệu được thu
thập từ các DNNVV ở vương quốc Anh. Một khảo sát song song khác cũng được
tiến hành đối với một nhóm các nhà nghiên cứu, nhà tư vấn và những người thực
hành trong lĩnh vực quản lý tri thức để cung cấp một cái nhìn tổng quát hơn về
các nhân tố thành công.
Khám phá – Bảng khảo sát cho thấy độ tin cậy và giá trị đều đạt được. Các phân
tích thống kê thích hợp đã được sử dụng. Việc kết hợp kết quả từ cả hai nghiên
cứu tiến hành song song tạo ra một danh mục các nhân tố thành công được sắp
xếp theo mức độ quan trọng đối với việc ứng dụng quản lý tri thức.
Giới hạn nghiên cứu – Số lượng bảng khảo nhận về tương đối ít bởi vì quản lý
tri thức còn tương đối mới mẻ, do đó chưa có nhiều DNNVV chính thức áp dụng.
Gợi ý thực tiễn – Kết quả của nghiên cứu này giúp các DNNVV hiểu rõ hơn về
lĩnh vực quản lý tri thức, tạo tiền đề cho việc ứng dụng và lựa chọn các hành
động ưu tiên. Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng
các mô hình phục vụ cho các nghiên cứu khác về quản lý tri thức sau này.
Đóng góp mới/ Giá trị - Nghiên cứu này có lẽ là nghiên cứu đầu tiên nỗ lực xác
định các nhân tố thành công đối với việc ứng dụng quản lý tri thức trong các
DNNVV một cách có hệ thống. Nó cung cấp nguồn thông tin tham khảo hữu ích
cho các DNNVV, vốn còn chưa bắt nhịp kịp trong lĩnh vực quản lý tri thức.
Từ khóa – Nhân tố thành công then chốt, Quản lý tri thức, Khảo sát, Doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Loại báo cáo – Báo cáo nghiên cứu
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 4
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
nghi ngờ gì, có hàng tá những nghiên cứu mô tả việc các công ty lớn thành công
trong việc thực hành quản lý tri thức. Đến hiện tại, có rất ít các nghiên cứu một
cách có hệ thống chỉ ra được các nhân tố thành công đối với việc ứng dụng quản
lý tri thức trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Thêm vào đó, các
nghiên cứu cũng bị giới hạn bởi sự khan hiếm các nghiên cứu thực nghiệm kiểm
định các nhân tố này trong khu vực doanh nghiệp cụ thể trên.
[Điểm khác biệt]
Báo cáo này trình bày kết quả khảo sát các nhân tố thành công đối với việc ứng
dụng quản lý tri thức, được tiến hành trong khu vực các DNNVV ở Anh. Nghiên
cứu này khác so với các nghiên cứu về nhân tố thành công điển hình là nó không
chỉ xuất phát từ nhận thức của các công ty đang ứng dụng quản lý tri thức, nhưng
cũng bao gồm ý kiến của nhóm các nhà nghiên cứu, nhà tư vấn và những người
thực hành trong lĩnh vực này (nhóm sau sẽ được gọi là “cộng tác viên” xuyên
suốt bài báo này). Lí do cho việc này là để tạo ra sự so sánh chéo về mức độ quan
trọng của các nhân tố được cảm nhận bởi cả hai nhóm. Điều này sẽ giúp củng cố
kết quả đạt được về các nhân tố thành công trong việc ứng dụng quản lý tri thức
trong DNNVV. Một lí do khác, thông qua việc khảo sát cả “người thi hành” và
“nhà lý thuyết”, khả năng đạt được một cái nhìn chính xác và tổng quan hơn sẽ
tăng lên.
[Giới thiệu cấu trúc báo cáo]
Báo cáo bắt đầu với phần tổng quan về các nhân tố quan trọng đối với việc ứng
dụng quản lý tri thức, tiếp đó là phác thảo phương pháp nghiên cứu được sử
dụng. Phần tiếp theo trình bày kết quả nghiên cứu cũng như các phân tích thống
kê và kiểm định được áp dụng. Diễn giải kết quả và thảo luận được trình bày sau
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 6
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
đó. Báo cáo khép lại với kết luận được rút ra cùng với việc chỉ ra một số giới hạn
nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai.
3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
[Tổng quan về các nhân tố thành công trong việc ứng dụng quản lý tri thức]
thức. Việc tổng kết sâu sắc lý thuyết đã chỉ ra rằng nhiều nhân tố đã được nhận
diện là có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng quản lý tri thức. Mặc dù các
nhà nghiên cứu khác nhau sử dụng các thuật ngữ khác nhau để chỉ ra các nhân tố
này, chúng có thể được trình bày trong một đề tài chung. Thêm vào đó, chúng
cũng được đề cập trong lý thuyết với mức độ nhấn mạnh vào bao phủ khác nhau.
Dựa trên tổng quan lý thuyết, các tác giả đề xuất giả thuyết và 11 nhân tố thành
công để tạo ra nền tảng cho việc ứng dụng quản lý tri thức trong DNNVV: sự
lãnh đạo và hỗ trợ; văn hóa; công nghệ thông tin; chiến lược và mục đích; sự đo
lường; cơ sở hạ tầng tổ chức; quy trình và các hoạt động; phương thức động viên;
các nguồn lực; giáo dục và đào tạo; và quản trị nguồn nhân lực.
Danh mục dưới đây chỉ ra các nhân tố cùng với nguồn tham khảo:
1. Sự lãnh đạo và hỗ trợ: (Skyrme và Amidon, 1997; Holsapple và Joshi,
2000; Davenport và đồng sự, 1998; Liebowitz, 1999; Hasanali, 2002;
American Productivity & Quality Center (APQC), 1999; Ribiere và Sitar,
2003).
2. Văn hóa (Skyrme và Amidon, 1997; Davenport và đồng sự, 1998;
Liebowitz, 1999; Hasanali, 2002; APQC, 1999; McDermott và O’Dell,
2001).
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 8
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
3. Công nghệ thông tin (Skyrme và Amidon, 1997; Davenport và đồng sự,
1998; Liebowitz, 1999; Hasanali, 2002; APQC, 1999; Alavi và Leidner,
2001).
4. Chiến lược và mục đích (Skyrme và Amidon, 1997; Davenport và đồng
sự, 1998; Liebowitz, 1999; APQC, 1999; Zack, 1999).
5. Sự đo lường (Holsapple và Joshi, 2000; Davenport và đồng sự, 1998;
Hasanali, 2002; APQC, 1999; Ahmed và đồng sự, 1999).
6. Cơ sở hạ tầng tổ chức (Davenport và đồng sự, 1998; Liebowitz, 1999;
Hasanali, 2002; Herschel và Nemati, 2000).
7. Các quy trình và các hoạt động (Skyrme và Amidon, 1997; Holsapple và
với việc áp dụng quản lý tri thức
và thiết lập hệ thống 66 biến đo
lường cho 11 nhân tố
Xây dựng, điều chỉnh thang đo và bảng câu hỏi
Xác định điều kiện, phạm vi và cách thức chọn mẫu
Kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach Alpha
Kiểm định giá trị thang đo với phân tích nhân tố
So sánh sự giống nhau và khác nhau trong đánh giá của 2 nhóm về 11 nhân tố
thành công then chốt
Xếp hạng các nhân tố thành công then chốt
Trình bày các khá phá và hàm ý quản trị
Chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tương lai
Gửi bảng câu hỏi đến các DNNVV
Thu thập dữ liệu và phân tích thông tin người trả lời
Gửi bảng câu hỏi đến các “cộng tác viên”
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
4.2. Phương pháp và công cụ thu thập dữ liệu
Loại dữ liệu thu thập: dữ liệu thực nghiệm
Công cụ thu thập dữ liệu: bảng câu hỏi định lượng
Phương pháp: khảo sát qua thư tín. Phương pháp này được lựa chọn vì các lý do
sau (Chauvel và Despres, 2002):
Một bảng khảo sát tập trung vào một vấn đề thông qua việc xác định và
cụ thể hóa các thành phần đa dạng của nó
Kết quả của bảng khảo sát nhìn chung là có thể định lượng, và vì thế thích
hợp đối với phân tích thống kê
Xử lý thống kê cho phép các kết quả từ mẫu có thể được mở rộng sang
tổng thể lớn hơn, vì thế có thể xử lí các phát biểu phổ quát hơn; và
Nhanh hơn, trực tiếp hơn so với các phương pháp nghiên cứu khác
[Bảng câu hỏi và thang đo]
Bởi vì mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng các kinh nghiệm và nhận thức của
[Đối tượng khảo sát]
Đơn vị phân tích hay đối tượng của khảo sát là các công ty hoặc các “cộng tác
viên”. Đối với các DNNVV, chỉ một bảng câu hỏi được gửi cho mỗi công ty
được lựa chọn, vì thế cách tiếp cận là đồng nhất, thay vì nhiều bản cho một công
ty. Cách tiếp cận thứ hai thường dẫn đến số lượng các phản hồi không đồng đều
từ các tổ chức khác nhau, trong khi cách tiếp cận thứ nhất giúp loại trừ thiên lệch
này, cũng như giúp cho việc phân tích nhân khẩu tác động đến biến (Thiagarajan
và Zairi, 1998). Tiếp theo là định nghĩa của Liên Minh Châu Âu, DNNVV được
lựa chọn để tham gia cuộc khảo sát là những doanh nghiệp với tổng số lao động
ít hơn 250 (Ủy Ban Cộng Đồng Châu Âu, 2003; Deakins, 1999). Không có giới
hạn nào trong sự lựa chọn liên quan đến lĩnh vực kinh doanh. Nguồn dữ liệu mẫu
các doanh nghiệp được lấy từ cơ sở dữ liệu của FAME, trong khi danh sách các
“cộng tác viên” được lấy từ các tạp chí liên quan đến quản lý tri thức.Các mẫu
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 13
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
được lựa chọn ngẫu nhiên, từ những công ty có thông tin liên hệ đầy đủ. Thông
tin được kiểm tra cẩn thận và xác định lại để đảm bảo độ chính xác và cập nhật.
Người trả lời được chỉ định trong các DNNVV là Giám Đốc Quản Lý hoặc Giám
Đốc Điều Hành. Những người này được xem là những nguồn thông tin tốt nhất
vì họ giám sát tổng quan hoạt động doanh nghiệp và khả năng là người lãnh đạo
tư duy về quản lý tri thức. Có thể tranh luận rằng các bảng câu hỏi nên được gửi
đến các Giám Đốc Quản Lý Tri Thức (CKO) hoặc tương tự, nhưng thực tế thì các
vị trí trên vẫn chưa phổ biến (Jarrar, 2002). Cuối cùng, các bảng câu hỏi cùng với
thư ngỏ giải thích mục đích của cuộc khảo sát được chuyển đến 300 DNNVV và
100 “cộng tác viên”. Số lượng doanh nghiệp nhiều hơn đã được lựa chọn nhằm
mục đích đánh giá các biến đo lường của các nhân tố thành công then chốt. Các
công ty được chọn trong Anh quốc, nhưng những “cộng tác viên” thì không giới
hạn như thế. Hai tuần sau khi gửi đi bảng câu hỏi, các lá thư nhắc nhở được gửi
tiếp để gia tăng tỷ lệ hồi âm.
4.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
đáp có dưới 50 lao động. Các lĩnh vực kinh doanh là đa dạng, trong đó lĩnh vực
tư vấn chiếm đa số. Điều này đã được dự đoán vì nó gồm các công ty thâm dụng
tri thức định hướng dịch vụ, phát triển và bán “bí quyết” (know-how), và vì thế
sự thành công của họ phụ thuộc lớn vào hiệu quả của quản lý tri thức. Nhiều
công ty tư vấn lớn như McKinsey, Ernst & Young, và Accenture, chắc chắn là
những tiên phong trong việc ứng dụng quản lý tri thức. Các công ty công nghệ
thông tin, xây dựng, và hóa chất là những công ty hồi đáp khác.
Bảng I Thông tin về các công ty hồi đáp (có ứng
dụng quản lý tri thức): tổng số lao động
Dãy dữ liệu Số lượng công ty Phần trăm
Ít hơn 10 (doanh nghiệp siêu nhỏ) 2 7.7
10-49 (doanh nghiệp cỡ nhỏ) 9 34.6
50-249 (doanh nghiệp cỡ vừa) 15 57.7
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 15
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
Tổng cộng 26 100.0
Bảng II Thông tin về các công ty hồi đáp (có ứng dụng quản lý tri
thức): Loại hình kinh doanh
Các ngành kinh
doanh
Ngành cụ thể Số lượng công ty Phần trăm
Sản xuất Hóa chất 4 15.4
Điện tử 2 7.7
Ô tô 1 3.8
Máy móc/thiết bị 1 3.8
Giấy / bảng 1 3.8
Dịch vụ Tư vấn 5 19.2
Xây dựng 3 11.5
Công nghệ thông
tin
tri thức kết hợp với các chức năng kinh doanh tích hợp vào trong tổ chức.
Sự tham gia vào quản lý tri thức của các công ty hồi đáp cũng được làm rõ. Họ
được hỏi về hoạt động nào trong số 10 hoạt động bắt đầu quản lý tri thức mà họ
đã thực hiện (rõ ràng là họ có thể chọn nhiều hơn một hoạt động). Bảng IV mô tả
kết quả. Không có DNNVV hồi đáp nào đã ứng dụng tất cả 10 hoạt động. Ba
hoạt động hàng đầu là lưu trữ dữ liệu điện tử (100%), sử dụng công nghệ thông
tin dể chia sẻ và chuyển giao tri thức (96.2%), và sử dụng mạng nội bộ để công
khai và truy cập thông tin (80.8%). Các hoạt động như phát triển các chiến lược
quản lý tri thức, chỉ định nhóm và lãnh đạo chịu trách nhiệm quản lý tri thức, và
Khen thưởng cho người lao động đóng góp và chia sẻ tri thức đã không được
đánh giá cao trong các tổ chức này. Điều này hàm ý rằng vẫn còn nhiều cơ hội
cho việc phát triển và cải thiện thực tế quản lý tri thức của họ. Hoạt động được
thực hiện ít nhất là đo lường giá trị nguồn vốn tri thức. Điều này có thể hiểu được
bởi vì lĩnh vực hoạt động này vẫn chưa phát triển và chưa được ứng dụng rộng
rãi trong quản lý tri thức (Okunoye và Karsten, 2002). Các kết quả được thảo
luận ở trên cũng tương tự như kết quả của uit Beijerse (2000), kết luận rằng các
công cụ quản lý tri thức khác nhau được ứng dụng trong các DNNVV, chiến
lược, cấu trúc và văn hóa vẫn chưa được chuẩn hóa để hỗ trợ quản lý tri thức.
Bảng IV Các hoạt động quản lý tri thức
bước đầu được ứng dụng
Các hoạt động bước đầu Tần suất Phần trăm
- Lưu trữ dữ liệu điện tử 26 100.0
- Sử dụng công nghệ thông tin dể chia sẻ và chuyển
giao tri thức
25 96.2
- Sử dụng mạng nội bộ để công khai và truy cập
thông tin
21 80.8
- Xây dựng và duy trì kỹ năng và chuyên môn của
người lao động
quản lý tri thức
Lí do Tần suất Phần trăm
- Không chắc chắn về lợi ích của nó 21 45.7
- Chưa từng nghe về nó 21 45.7
- Thiếu nguồn nhân lực 10 21.7
- Không có thời gian 9 19.6
- Không hiểu nó 8 17.4
- Thiếu nguồn tài chính 7 15.2
- Không hứng thú / không cần 7 15.2
- Lãnh đạo cấp cao không hỗ trợ 3 6.5
- Khác 1 2.2
Về trường hợp những “cộng tác viên” đã hồi đáp, các đặc tính của họ được tóm
tắt trong bảng VI và VII. Như có thể thấy, phần lớn họ là những nhà nghiên cứu.
Sự đóng góp của họ đối với kĩnh lực quản lý tri thức chỉ ra kinh nghiệm và sự
chuyên nghiệp. Bên cạnh các bài báo xuất bản trên các tạp chí khoa học, họ cũng
năng động trong các lĩnh vực khác như là trình bày báo cáo tại các hội thảo,
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 18
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
giảng về quản lý tri thức, cung cấp dịch vụ tư vấn, tiến hành nghiên cứu…Thời
gian họ tham gia lĩnh vực quản lý tri thức từ 6 đến 27 năm, trong đó hơn 66%
tham gia trên 10 năm. Vì thế, nhóm này có nền tảng vững chắc và kinh nghiệm
trong quản lý tri thức, và vì thế có đủ khả năng đánh giá về các yếu tố thành công
then chốt đối với hoạt động quản lý tri thức.
Bảng VI Thông tin về người cộng tác:
Phân bổ nhóm
Nhóm Số người cộng tác Phần trăm
- Nghiên cứu (học thuật) 10 55.6
- Tư vấn 6 33.3
- Người thực hành 5 27.8
Ghi chú:
(Saraph và đồng sự, 1989, Barid và đồng sự, 1995). Nó cũng phản ánh độ nhất
quán giữa các biến đo lường trong một thang đo, trong việc đo lường cùng một
đặc tính. Nhìn chung, giá trị alpha lớn hơn 0.7 được xem là có thể sử dụng
(Nunnally, 1994; Cuieford, 1965), mặc dù giá trị 0.6 đã được sử dụng bởi các nhà
nghiên cứu như Black và Porter (1996), Rungasamy và đồng sự (2002).
Bảng VIII Kết quả phân tích độ tin cậy
Nhân tố
Số biến
quan sát
Giá trị alpha
ban đầu
Biến
loại bỏ
Giá trị alpha
cuối cùng
Sự lãnh đạo và hỗ trợ 7 0.7113 0.7113
Văn hóa 8 0.8424 2.5 0.8687
Công nghệ thông tin 6 0.8825 0.8825
Chiến lược và mục đích 6 0.8623 0.8623
Sự đo lường 5 0.8739 5.5 0.9047
Cơ sở hạ tầng tổ chức 4 0.8507 0.8507
Các quy trình và hoạt động 10 0.7411 7.5 0.7533
Công cụ động viên 5 0.7437 0.7437
Nguồn lực 5 0.8474 0.8474
Giáo dục và đào tạo 5 0.8889 0.8889
Quản trị nguồn nhân lực 5 0.8344 11.3 0.8506
Bảng VIII ở trên đã tóm tắt kết quả phân tích độ tin cậy cho từng nhân tố. Có thể
thấy, giá trị alpha ban đầu cho từng nhân tố dao động từ 0.7113 đến .08889.
Nhưng vẫn có một vài biến đo lường đã được xóa khỏi các nhân tố để cải thiện
độ nhất quán nội tại. Ví dụ, việc xóa bỏ biến đo lường mã 2.5, “khuyến khích làm
lập) với điểm phản ánh mức độ thành công trong nỗ lực quản lý tri thức (biến
phụ thuộc). Các giả định đối với phân tích đa hồi quy – tính chuẩn tắc, phương
sai không đổi, tuyến tính và tính độc lập (Norusis, 1995) – đã được kiểm định và
kết quả cho thấy không có sự vi phạm các giả định. Giá trị R bình phương hiệu
chỉnh từ mô hình hồi quy là 0.420. Mặc dù không cao, nhưng có thể suy luận
rằng khi tất cả các nhân tố đi cùng nhau sẽ đạt một mức độ dự báo chấp nhận
được.
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 21
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
[Về giá trị thang đo]
Cuối cùng, mỗi nhân tố sẽ được kiểm định giá trị đo lường (construct validity).
Cách tiếp cận thông thường là phân tích nhân tố nhóm các biến đo lường cho
từng nhân tố thành công riêng lẻ để kiểm tra tính “đơn nhất” hoặc “đa hướng”.
Một nhân tố là “đơn nhất” khi tất cả các biến đo lường của nó chỉ đo lường cho
một nhân tố. Số trường hợp trong nghiên cứu này khá nhỏ để có một phân tích
nhân tố hiệu quả. Về khía cạnh này, nhiều quy tắc được đưa ra để xác định số
quan sát cần thiết, nhưng chưa có câu trả lời khoa học nào (Edari, 2004). Dù sao
đi nữa, các tác giả cho rằng tiến hành phân tích nhân tố vẫn tốt hơn trong việc chi
ra giá trị đo lường của các nhân tố thành công then chốt. Giá trị KMO được dùng
để đánh giá độ phù hợp của bộ dữ liệu cho phân tích nhân tố; giá trị này lớn hơn
0.5 cho thấy điều kiện được chấp nhận (Field, 2000; Black và Porter, 1996). Như
có thể thấy trong kết quả ở cột thứ hai bảng IX, yêu cầu này được đáp ứng đối
với tất cả nhân tố.
Bảng IX Kết quả cuối cùng của phân tích nhân tố
Nhân tố
KM
O
Biến
loại bỏ
Tải nhân tố
Độ quan trọng
trung bình
T-test (giả định phương sai đồng đều)
Nhân tố
DNNV
V
Cộng
tác viên
t p
Kết quả
Sự lãnh đạo và hỗ trợ 4.840 5.056 - 1.078 0.287 Không khác biệt
Văn hóa 4.885 4.857 0.139 0.890 Không khác biệt
Công nghệ thông tin 3.801 4.148 - 1.377 0.176 Không khác biệt
Chiến lược và mục đích 4.276 4.759 - 1.971 0.055 Không khác biệt
Sự đo lường 3.269 3.833 - 1.674 0.102 Không khác biệt
Cơ sở hạ tầng tổ chức 3.683 3.861 - 0.472 0.639 Không khác biệt
Các quy trình và hoạt động 4.418 4.270 0.675 0.504 Không khác biệt
Công cụ động viên 3.750 3.931 - 0.576 0.567 Không khác biệt
Nguồn lực 4.400 4.322 0.273 0.786 Không khác biệt
Giáo dục và đào tạo 4.062 4.100 - 0.131 0.896 Không khác biệt
Quản trị nguồn nhân lực 4.183 4.208 - 0.088 0.930 Không khác biệt
Điểm trung bình được tính toán cho từng nhân tố để đánh giá mức độ quan trọng
được cảm nhận. Kết quả cho các DNNVV và các “cộng tác viên” được tóm tắt
trong 2 cột đầu tiên của bảng X. Có thể thấy, các giá trị đối với các DNNVV nằm
trong khoảng 3.269 (sự đo lường) đến 4.885 (văn hóa), trong khi đối với các
“cộng tác viên” thì dao động từ 3.833 (sự đo lường) đến 5.056 (sự lãnh đạo và hỗ
trợ). Vì tất cả các giá trị đều nằm trong khoảng “khá quan trọng” đến “rất quan
trọng”, có thể nói rằng tất cả các nhân tố đều được cảm nhận rằng có vai trò quan
trọng trong việc chấp nhận quản lý tri thức.
Độ quan trọng trung bình từ nhóm DNNVV đối với 3 nhân tố, văn hóa, quy trình
Kết quả cho thấy mức độ quan trọng của các nhân tố được cảm nhận bởi nhóm
những “nhà tư duy” là tương đối thống nhất với nhóm “người thi hành”. Nói
cách khác, những khẳng định từ lý thuyết cũng gần giống với những gì trong
thực tế. Điều này được xem là một khám phá quan trọng bởi vì một sự khẳng
định phổ quát hơn có thể được đưa ra về các nhân tố quan trọng đối với việc ứng
dụng quản lý tri thức. Dữ liệu từ hai nhóm được kết hợp để cho ra giá trị chung
của từng nhân tố (xem bảng XI). Dựa trên đây, tất cả các nhân tố được xác định
Học viên: Vũ Phi Long - Võ Lý Thị Nhị Nương Trang 24
Quản lý tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa GVHD: TS. Bùi Thị Thanh
mức độ quan trọng toàn bộ. Việc phân loại này sẽ giúp các DNNVV tùy chọn sự
nhấn mạnh và tập trung đối với các nhân tố thành công then chốt.
Xếp hạng các nhân tố thành công then chốt
Cuối cùng, những người tham gia được yêu cầu xếp hạng 11 phát biểu, đại diện
11 nhân tố thành công (nhưng được diễn đạt hơi khác đi), theo thứ tự từ 1 đến 11.
Hạng trung bình của mỗi phát biểu đối với hai nhóm phản hồi được trình bày
trong bảng XII và XIII. Nhóm 3 nhân tố trên cùng theo các DNNVV là “Quản lý
cấp cao hỗ trợ và lãnh đạo”, “Nền văn hóa thân thiện với tri thức”, và “Chiến
lược rõ ràng trong quản lý tri thức, trong khi ba nhân tố chót bảng là “Phát triển
cơ sở hạ tầng công nghệ”, “Các động cơ khuyến khích quản lý tri thức”, và “Đo
lường hiệu quả của quản lý tri thức”. Liên quan đến nhóm “cộng tác viên”,
“Quản lý cấp cao hỗ trợ và lãnh đạo”, “Chiến lược rõ ràng trong quản lý tri
thức”, và “Nền văn hóa thân thiện với tri thức” xếp cao nhất, trong khi “Vai trò &
trách nhiệm với quản lý tri thức”, “Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ”, và “Đo
lường hiệu quả của quản lý tri thức” là kém quan trọng nhất.
Một khía cạnh thú vị ở đây là liệu có sự thống nhất hoặc tương tự giữa các hạng
trung bình giữa hai nhóm hay không. Hệ số tương quan hạng Spearman đã được
sử dụng vì cỡ mẫu khá nhỏ (11 nhân tố), và dữ liệu đã phân nhóm, với thứ tự có
ý nghĩa. Giá trị là 0.909, vì thế là bằng chứng tốt chứng minh rằng cả hai nhóm
thống nhất với việc xếp hạng 11 nhân tố.
Bảng XII Xếp hạng mức độ quan trọng