CÂU HỎI ÔN THI NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT (THAM KHẢO)
Câu 1: Đ/c hãy phân biệt chức năng của NN XHCN và nhiệm vụ NN XHCN?
Trả lời:
Nhiệm vụ của NN là mục tiêu mà NN cần đạt tới, là những vấn đề đặt ra mà NN cần giải quyết.
Chức năng là NN là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của NN nhằm thực hiện nhiệm vụ đặt ra trước NN.
Chức năng NN là phương tiện, công cụ để thực hiện nhiệm vụ, được quy định trực tiếp bởi nhiệm vụ.
Câu 2: Hãy cho biết sự khác biệt nhà nước và Hội LHPN Việt Nam
Nhà nước
- Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đ8ạc biệt, có bộ
máy thực hiện quyền lực đặc biệt này. Quyền lực của nhà
nước rộng vì quyền lực nhà nước tách khỏi dân cư và có cơ
quan thực hiện quyền lực, người dân giao quyền cho nhà
nước và chịu sự tác động ngược lại
- Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ và quản lý dân
cư theo các đơn vị hành chính
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia
- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và ban hành
pháp luật
- Nhà nước đặt ra thuế và thu các laọi thuế
Các tổ chức khác
- Quyền lực hẹp vì quyền lực hòa nhập vào tổ chức, trong
phạm vị hoạt động của tổ chức
- Các tổ chức khác quản lý theo giới tính
- Các tổ chức khác quản lý bằng điều lệ
Câu 3: Nói Nhà nước XHCN là nửa nhà nước? Tại sao?
1/ Nhà nước là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến
một giai đoạn nhất định.
2/ Sự ra đời của nhà nước: xã hội cộng sản nguyên thủy không có giai cấp, không có nhà nước. Trải qua 3 lần phân
công lao động: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, thương mại ra đời – dẫn đến tư hữu
– ra đời giai cấp – mâu thuẫn giai cấp – mâu thuẫn không thể đìêu hòa được – Nhà nước ra đời. Nhà nước ra đời để giữ xã
hội ổn định trật tự và để điều hòa mâu thuẫn giai cấp
+ Nguyên tắc khách quan: Pháp luật là phạm trù chủ quan phản ánh hiện thực khách quan. Pháp luật có phản ánh
đúng đắn hiện thực khách quan thì mới điều chỉnh được các quan hệ xã hội, mới được xã hội chấp nhận
+ Nguyên tắc dân chủ XHCN Pháp luật XHCN về bản chất thể hiện ý chí của GCCN và người LĐ. Nguyên tắc
này thể hiện ở sự tham gia của nhân dân lao động và tổ chức chính trị xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật nhằm mục
2
QUỐC HỘI CHÍNH PHỦ VKSND TỐI
CAO
TAND TỐI
CAO
CT
NƯỚC
HĐND CẤP
TỈNH
HĐND CẤP
HUYỆN
HĐND CẤP
XÃ
UBND CẤP
TỈNH
UBND CẤP
HUYỆN
UBND CẤP
XÃ
VKSND CẤP
TỈNH
VKSND CẤP
HUYỆN
TAND CẤP
TỈNH
TAND CẤP
1/ Những đặc trưng của NN pháp quyền XHCN:
- Sự thống trị của PL trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Sự ràng buộc của NN và ơ quan NN bởi PL
- NN pháp quyền xác định rõ trách nhiệm 3 chiều giữa NN và công dân trên cơ sở PL
- NN pháp quyền có những hình thức kiểm tra, giám sát có hiệu quả việc tuân thủ PL
Tùy theo điều kiện cụ thể người ta có thể nhấn mạnh đặc trưng này hay đặc trưng khác, nhưng những giá trị chung
của NNPQ vẫn được kế thừa và phát triển, làm phong phú thêm nội hàm của nó
2/ Phân tích làm sáng tỏ:
Trước hết ta thấy rằng Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, đây chính là điều kiện đầu tiên phải có để đảm bảo
cho việc thực hiện nhà nước “do nhân dân và vì nhân dân”. Nhân dân đã và đang là chủ vừa bằng hình thức trực tiếp, vừa
bằng hình thức gián tiếp thông qua những đại diện do mình bầu ra.
Tuy nhiên, khi xác định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, điều đó không có nghĩa là mỗi người dân đều tự
hành xử theo ý chí riêng của mình mà quyền lực đó phải được tổ chức để nhân dân thông qua tổ chức mà sử dụng quyền
lực nhà nước. Tổ chức quyền lực nhà nước đó là cơ quan đại biểu nhân dân.
* Nhà nước do nhân dân:
Nhà nước do nhân dân thể hiện ở việc khi đưa đường lối, chính sách, pháp luật… nhà nước phải đảm bảo phải do
nhân dân quyết định, nhân dân thực hiện và dân kiểm tra, tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân kiểm
tra”. Tính nhân dân, tính dân chủ trong quá trình hoạt động xây dựng pháp luật, vừa ủy quyền cho quốc hội lập pháp, vừa
tham gia góp ý kiến và các dự án Luật, đồng thời nhân dân là chủ thể lớn nhất thực hiện pháp luật, phát hiện những điểm
yếu của hệ thống pháp luật khi đưa vào cuộc sống.
* Nhà nước vì dân:
Bản chất của nhà nước ta là nhà nước vì dân thể hiện trước hết mọi chính sách và giải pháp kinh tế - xã hội… của
nhà nước đều phục vụ nhân dân, đảm bảo quyền lợi cho nhân dân, thể hiện nguyên tắc” “dưới chế độ dân chủ, không phải
con người tồn tại vì pháp luật, mà pháp luật tồn tại vì con người”. Điều này ở nhiệm vụ của nhà nước ta trong hoạt động
lập pháp, lập quy phải không những đảm bảo dân chủ mà còn phát huy dân chủ ngày càng cao đối với nhân dân lao động.
Tính chất nhà nước “do nhân dân và vì nhân dân” phải thể hiện rõ trong nội dung pháp luật phải xuất phát từ lợi ích của
giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nhân dân lao động chứ không phải bảo vệ quyền lợi, lợi ích của một giai cấp
riêng lẽ như nhà nước của giai cấp tư sản. Mặc khác, phải bảo đảm các quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Các cơ quan
nhà nước có trách nhiệm giải quyết những ý kiến của nhân dân kiếu nại, kiến nghị, tố cáo. Đây đang còn là vấn đề bức xúc
ở xã hội hiện nay “tình trạng khiếu nại, khiếu nại của nhân dân ở nhiều nơi kéo dài và phức tạp, chưa được các cấp, các
+ Về giá trị xã hội của pháp luật: nhân đạo, cơng lý, cơng bằng.
Như vậy, tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật có mâu thuẫn khơng? Khơng vì nó kìm chế mâu thuẫn, tính xã
hội có giá trị thơng tin: pháp luật phản ánh điều kiện kinh tế, xã hội.
3/ Có thể nói, kiểu pháp luật nào cũng đều manng bản chất giai cấp. Vì vậy trong tun ngơn của Đảng Cộng sản
C.Mác và Ăng ghen đã gạt bỏ quan điểm của các nhà lý luận tư sản cố sức che đậy bản chất của pháp luật, bóc trần bản
chất của pháp luật tư sản bằng tun bố PL của các ơng chỉ là ý chí của giai cấp các ơng để lên thành luật, cái ý chí mà
nội dung là do các điều kiện sinh hoạt vật chất các ơng quyết định.
Câu 8. Điều 12 HP 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,
khơng ngừng tăng cường pháp chế XHCN”. Đồng chí hãy phân tích làm rõ nhận định trên.
Pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghóa:
a) Khái niệm:
- Theo chủ nghóa duy vật lòch sử thì Pháp luật XHCN là kiểu Pháp luật cuối cùng có bản chất khác các
kiểu Pháp luật trước đó, với nội dung phủ nhận chế độ bóc lột, hạn chế và đi đến dần xóa bỏ, chế độ tư hữu, xác lập
và phát triển các quan hệ xã hội bình đẳng, dân chủ và bác ái thật sự trong một xã hội phát triển cả về vật chất lẫn
văn hóa.
Từ thực tiển lòch sử thì chưa có kiểu Pháp luật XHCN đích thực nào tồn tại mà chỉ có các mô hình Pháp
luật XHCN đang dần dần được xây dựng.
Pháp luật nước ta là Pháp luật Việt Nam kiểu mới được hình thành từng bước từ sau cách mạng tháng
8/1945 và ngày càng hoàn thiện cùng với sự hoàn thiện của Nhà nước.
Pháp luật Việt Nam XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận thể
hiện ý chí của đa số nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản được quy đònh bởi cơ sở kinh tế của chủ
nghóa xã hội trong thời kỳ quá độ, là công cụ cơ bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
b) Bản chất:
4
Bản chất Pháp luật Việt Nam thông qua các đặc trưng cơ bản sau:
- Mang tính nhân dân sâu sắc vì Pháp luật nước ta thể hiện ý chí của đa số nhân dân lao động
- Khẳng đònh đường lối của Đảng và tạo lập hành lang pháp lý cho sự phát triển của nền kinh tế thò
trường đònh hướng xã hội chủ nghóa.
- Tính cưởng chế mang nội dung hoàn toàn khác với các kiểu Pháp luật củ, nó được áp dụng vì lợi ích
của đa số và kết hợp chặc chẽ với việc giáo dục thuyết phục.
điều hòa được – Nhà nước ra đời – Pháp luật ra đời
Trước đó là nìêm tin, tập qn, đạo đức. Khi quy phạm mới ra đời thay thế quy phạm lỗi thời khơng thể điều hòa
được thì pháp luật ra đời vì vậy khơng được nói pháp luật ra đời là do nhà nước. nhà nước và pháp luật có cùng nguồn gốc
là chế độ tư hữu và mâu thuẫn giai cấp.
- Đặc trưng Quy phạm xã hội: thể hiện ý chí chung của cộng đồng và mang tính bình đẳng, hợp tác. Mang tính
manh mún, được thực hiện một cách tự nguyện dựa trên thói quen và niềm tin tự nhiên của con người.
Câu 10: Đồng chí hãy trình bày nhận thức của mình về thực trạng hệ thống pháp luật nước ta hiện nay,
từ đó đưa ra các giải pháp về xây dựng và hệ thống pháp luật.
5
1/- Khái niệm hệ thống pháp luật: Là tổng thể cá quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, được quy đònh thành các chế đònh pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong văn bản quy phạm pháp luật
do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành theo một trình tự, thủ tục và hình thức nhất định.
2/- Thực trạng hệ thống pháp luật nước ta hiện nay:
Trong thời gian qua, do u cầu của cơng cuộc đổi mới đất nước, vai trò của pháp luật ngày càng coi trọng
trong đời sống xã hội Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hồn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cơ sở pháp lý
cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng pháp luật nước ta đã trở thành hình thức hoạt động cơ bản của Nhà nước, được đẩy mạnh ở ba cấp
độ: lập pháp, lập quy của cơ quan Nhà nước Trung ương và cấp độ lập quy của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành ngày
càng được nâng cao, những cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động xây dựng pháp luật ngày càng được hồn thiện và sự lãnh
đạo của Đảng, mối quan tâm của tồn xã hội đối với xây dựng pháp luật ngày càng được tăng cường, coi trọng. Nhờ đó,
đã tạo ra cơ sở pháp lý thúc đẩy q trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy q
trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, hồn thiện nhà nước, mở rộng quan hệ đối ngoại. Pháp luật đã trở thành
cơng cụ chủ yếu để quản lý nhà nước và xã hội. Ngun tắc pháp quyền từng bước được đề cao và phát huy hiệu quả trên
thực tế.
Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đáp ứng các đòi hỏi của cơng cuộc xây dựng và
phát triển đất nước, còn bộc lộ nhiều yếu kém như:
- Hệ thống Pháp luật nước ta còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu tồn diện…
- Hơn nữa các Luật đã ban hành còn thiếu độ minh bạch, thiếu ổn định, nhiều quy định khơng trực tiếp điều
chỉnh được các quan hệ xã hội mà phải chờ đợi văn bản hướng dẫn mới đi vào cuộc sống nên kém hiệu lực, hiệu quả.
- Nội dung của Pháp luật nhiều lúc chưa theo kịp với sự phát triển của thực tiễn, với tồn tại kinh tế xã hội,
chồng chéo khơng một ngành luật và chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật với nhau
Tính phù hợp: thể hiện sự tương quan giữa trình độ của hệ thống pháp luật với trình độ phát triển KT-XH,
nó khơng thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế,
chính trị, đạo đức, tập qn, truyền thống và các quy phạm XH khác.
6
Một hệ thống pháp luật hồn thiện phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Kỹ thuật pháp lý thể
hiện ở những ngun tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng trong q trình xây dựng và hồn thiện pháp luật. Trình độ kỹ
thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật. cách diễn đạt bằng ngơn ngữ pháp lý phải bảo đảm
tính cơ đọng, chính xác và một nghĩa.
* Các ngun tắc xây dựng pháp luật
Câu 11: Mác viết: Trong thời đại nào cũng thế, chính là vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tê,
chứ khơng bao giờ vua chúa ra lệnh cho những điều kiện KT được. Chẳng qua chế độ PL về chính trị, cũng như về
dân sự chỉ là các việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ KT”. Đ/c hãy phân tíach làm sáng tỏ nhận
định trên.
- Điều kiện kinh tế là một nền tảng của chế độ XH, nó quyết định các yếu tố khác trong một chế độ XH.
- PL là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nền quan hệ giữa PL và KT là một quan hệ biện chứng. Thể
hiện:
+ PL phụ thuộc vào KT
+ PL có sự tác động trở lại đối với KT
(tham khảo)
- Trong thực tế, CT tác động rất mạng vào KT, nếu vận dụng tốt CT thì nó sẽ mở đường cho phát triển kinh
tế, là động lực của KT. Ngược lại, nó sẽ kiềm hãm phát KT phát triển.
- Chính trị hồn tồn có khả năng nhận thức được các quy luật khách quan của KT, các thực trạng KT.
- Sự tác động thể hiện:
+ Chính trị định hướng cho KT phát triển: Định hướng dựa trên quy luật, dựa vào thực trạng KT để định
hướng đúng. Thơng qua định hướng đó thì lợi ích giai cấp mới được đảm bảo.
+ Mơ hình phát triển kinh tế: Mơ hình kinh tế đúng sẽ thúc đẩy KT phát triển.
+ Chính trị điều tiết tốc độ phát triển KT. Tác động của giai cấp đó.
+ Chính trị tác động lên chủ thể kinh tế: để các chủ thể kinh tế có điều kiện phát triển tốt nhất thì chủ thể
đó góp phần vào thực hiện lợi ích chung kể cả KT thương mại tư nhân, bất cứ chủ thể KT nào cũng điều chịu.
- Theo chủ nghóa duy vật lòch sử thì Pháp luật XHCN là kiểu Pháp luật cuối cùng có bản chất khác các
kiểu Pháp luật trước đó, với nội dung phủ nhận chế độ bóc lột, hạn chế và đi đến dần xóa bỏ, chế độ tư hữu, xác lập
và phát triển các quan hệ xã hội bình đẳng, dân chủ và bác ái thật sự trong một xã hội phát triển cả về vật chất lẫn
văn hóa.
Từ thực tiển lòch sử thì chưa có kiểu Pháp luật XHCN đích thực nào tồn tại mà chỉ có các mô hình Pháp
luật XHCN đang dần dần được xây dựng.
Pháp luật nước ta là Pháp luật Việt Nam kiểu mới được hình thành từng bước từ sau cách mạng tháng
8/1945 và ngày càng hoàn thiện cùng với sự hoàn thiện của Nhà nước.
Pháp luật Việt Nam XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận thể
hiện ý chí của đa số nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản được quy đònh bởi cơ sở kinh tế của chủ
nghóa xã hội trong thời kỳ quá độ, là công cụ cơ bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, pháp luật nước ta vẫn có một số điểm quy đònh giống nhau là vì mục đích: Bảo đảm các
quyền tự do dân chủ của công dân và Nhà nước có nghóa vụ phải bảo đảm cho công dân thực hiện được các quyền
đó. Quy đònh các nghóa vụ mà công dân phải thực hiện để bảo đảm trật tự xã hội. Dù bất cứ là pháp luật của chế độ
chính trò nào thì cũng phải là cơ sở giữ vững an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, trong thời kỳ gia
nhập kinh tế quốc tế, Pháp luật Việt Nam cũng phải điều chỉnh để phù hợp với xu thế chung của thế giới trên lónh
vực kinh tế thò trường.
Câu 13: Phân biệt Pháp luật với các hiện tượng xã hội khác? Hình thức của pháp luật?
* Giống nhau: đều dùng để đánh giá các chuẩn mực
* Khác nhau:
Pháp luật
- Do nhà nước ban hành
- Đảm bảo thực hiện bởi nhà nước
- Tồn tại các cơ quan nhà nước
- Phạm vị rơng trong 1 quốc gia
Tập qn, đạo đức
- Do thời gian
- Khơng mang ép buộc
- Khơng có nhà nước vẫn tồn tại
- Trong phạm vi hẹp tại 1 địa phương
+ Quan hệ pháp luật: ngoài các đặc điểm của quan hệ xã hội quan hệ pháp luật còn có năng lực chủ thể (năng lực
PL và năng lực hành vi), ý chí của các bên tham gia quan hệ PL, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên chủ thể, lợi ích
của các bên chủ thể được PL bảo vệ.
* Phân biệt:
- Khách thể VPPL: là những quan hệ xã hội được PL bảo vệ nhưng bị hành vi VPPL đe dọa, xâm hại như tính
mạng, trật tự xã hội…
- Khách thể QHPL: là lợi ích (vật chất, tinh thần) mà các bên chủ thể hướng tới như nhà cửa, đất đai, tài sản, quyền
tác giả….
Câu 18: Có người cho rằng pháp luật và pháp chế là một hay là hai? Có pháp chế riêng của địa phương hay
của ngành không?
PL và PC là hai k/n pháp lý khác nhau. PL là hệ thống quy tắc xử sự ……còn PC là sự chấp hành PL nghiêm minh
Nhưng có quan hệ mật thiết với nhau vì PL là cơ sở, tiền đề của PC. pC chỉ được thực hiện trên nền tảng PL,
không có PL thì không có PC. PL có trước PC; PC là biện pháp đưa PL vào cuộc sống làm cho PL có hiệu lực. Muốn nâng
cao hiệu lực của PL phải tăng cưởng PC, muốn tăng cường PC phải đưa PL vào cuộc sống.
* KHông có PC riêng của địa phương hay của ngành vì cả nước có hệ thống PL, có hiến pháp duy nhất.
Câu 19: Tại sao phải tăng cường pháp chế? Có ý kiến cho rằng tăng cường pháp chế cần phải xử lý thật
nặng đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Đúng hay sai?Tại sao?
Vì xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của tăng cường PC, từ thực trạng tình hình PC chậm tăng cường…………
* Thiếu chưa đủ vì còn nhiều biện pháp khác, xử lý thật năng không đúng mà phải xử lý nghiêm minh.
Câu 20: Nhà nước pháp quyền có phải là hình thức nàh nước hay kiểu nhà nước của nước ta hiện nay hay
không? Vì sao?
Hiện nay chưa có nàh nước pháp quyền hàon thiện
9
- K/n Nhà nước, hình thức nhà nước
- Nhà nứoc pháp quyền không phải là hình thức nhà nước vì nhà nước pháp quyền là bản chất của nhà nước
Câu 21 Anh chị hãy bình luận ý kiến sau: Một vi phạm pháp luật chỉ phải chịu 1 loại vi phạm pháp lý; và
mọi loại vi phạm pháp luật đều phải chịu mọi vi phạm pháp lý?
Sai, vd: 1 đ/c công chức VPHS bị hình phạt tù còn sẽ chịu thêm hình thức kỷ luật
Sai, vd: A lấy cắp xe B là hành vi VPPL nhưng không chịu trách nhiệm pháp lý vì không biết A bao nhiêu tuổi, đủ
tuổi để truy cứu chưa.
+ Trách nhiệm kỉ luật
+ Trách nhiệm vật chất.
Ví dụ minh họa.
Trách nhiệm hình sự nghiêm khắc nhất vì?
+ Áp dụng những biện pháp mang tính đặc trưng ảnh hưởng đến quyền lợi thiết thân của con người.
+ Duy nhất tòa án áp dụng.
+ Áp dụng trình tự tố tụng qui định chặt chẽ trong Bộ luật hình sự.
Câu 25: Để tăng cường pháp chế XHCN cần phải quy định các biện pháp chế tài thật sự nghiêm khắc. Quan
điểm của các đồng chí về vấn đề trên như thế nào?
10
1/ Khái niệm pháp chế XHCN: là sự thực hiện pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội một cách nghiêm
chính và thống nhất.
Pháp chế = PL (hoàn thiện ) + sự thực hiện PL 01 cách nghiêm chỉnh, thống nhất.
2/ Một số yêu cầu của pháp chế:
- Sự thực hiện PL phải nghiêm chỉnh, mọi hành vi vi phạm PL phải được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh
những trường hợp vi phạm, đảm bảo công bằng của mọi công dân trước PL.
- Sự thực hiện PL một cách thống nhất:
+ Thống nhất trong toàn quốc, không phân biệt địa phương nhưng vẫn tính các yếu tố đặc thù ( các huyện đảo,
vùng sâu, xa )
+ Đảm bảo tính thống nhất của các VB QPPL, VB ở địa phương phải phù hợp, không mâu thuẫn với các VB PL do
các cơ quan nhà nước TW ban hành.
3/ Tăng cường pháp chế XHCN thì phải đảm bảo được các yêu cầu trên, từ đó nhận thấy nếu thực hiện các biện
pháp chế tài thật nghiêm khắc thì chưa đủ nếu như hệ thống PL chưa hoàn thiện, việc thực hiện PL không được nghiêm
minh, PL bị xâm phạm, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với pháp chế còn lỏng lẻo… Vì vậy, để tăng cường pháp
chế XHCN cần thực hiện nhiều biện pháp, trong đó phải thực hiện đồng bộ 4 biện pháp cơ bản sau:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống PL
- Tăng cường công tác tổ chức thực hiện PL
- Tăng cường công tác bảo vệ PL
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế vì PL thể chế hóa đường lối chủ trương chính sách
của Đảng mà pháp chế là PL hoàn thiện nên mọi người đều thực hiện nghiêm chỉnh, vui vẻ, đồng lòng với chủ trương
Quan hệ PL:
- Chủ thể (các bên tham gia vào quan hệ) ai – ai -> Năng lực PL: NLPL + NLHV
- Nội dung của quan hệ: quyền và nghĩa vụ pháp lý.
- Khách thể: Nhằm đạt, hưởng cái gì (vật chất, tinh thần)
* Các căn cứ làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ PL
- Quy phạm PL
- Năng lực chủ thể PL
- Sự kiện pháp lý:
+ Sự biến: động đất, lũ lụt, chết
+ Hành vi: hành động, không hành động
3/ Cho VD minh họa về 01 quan hệ pháp luật và phân tích các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật đó.
Câu 29: Nhận thức của Đ/c về bộ máy NN XHCNVN theo hiến pháp 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Trả lời:
1/ Khái niệm bộ máy NN XHCN: là hệ thống cơ quan NN từ TW xuống địa cơ sở, được tổ chức theo nguyên tắc
chúng thống nhất, tạo thành 01 cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN XHCN
2/ Các nguyên tắc tổ chức và hành động của bộ máy NN ta theo hiến pháp 1992
Nguyên tắc và tổ chức hoạt động của bộ máy NN XHCN là những tư tởng chỉ đạo chi phối tổ chức và hoạt động
của bộ máy NN
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật phải đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản sau:
+ Nguyên tắc bảo đảm và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng: Trong xây dựng pháp luật bảo đảm bảo
sự lãnh đạo của Đảng nhằm làm cho pháp luật được thể chế hóa kịp thời và chính xác đường lối, chính sách của Đảng.
Đồng thời sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng pháp luật thực hiện thông qua tổ chức các Đảng và đảng viên trong các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật.
+ Nguyên tắc khách quan: Pháp luật là phạm trù chủ quan phản ánh hiện thực khách quan. Pháp luật có phản ánh
đúng đắn hiện thực khách quan thì mới điều chỉnh được các quan hệ xã hội, mới được xã hội chấp nhận
+ Nguyên tắc dân chủ XHCN Pháp luật XHCN về bản chất thể hiện ý chí của GCCN và người LĐ. Nguyên tắc
này thể hiện ở sự tham gia của nhân dân lao động và tổ chức chính trị xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật nhằm mục
đích tránh chủ quan duy ý chí, đồng thời tác dụng tuyên truyền phổ biến pháp luật trong nhân dân, thực hiện khẩu hiệu
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
+ Nguyên tác pháp chế XHCN: Các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải thực hiện
- Do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục
- Có chứa đựng quy tắc xử sự chung
- Được áp ụng nhiều lần đối với nọi đối tượng
- Được áp dụng trong thực tiễn và được thi hành bằng các biện pháp: Tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục
Hiệu lực của VBQPPL
- Thời gian: thời điểm phát sinh, thời điểm chấm dứt
- Không gian: TW: toàn quốc; địa phương
- Đối tượng áp dụng.
3/ Thực trạng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong cả nước, trong ngành hoặc địa phương.
* Thành tựu:
Trong những năm qua, Nhà nước đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; tạo điều kiện cơ
sở pháp lý cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển văn hóa, xã hội, tăng cường quốc
phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đồng thời không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế. Pháp luật đã trở thành công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước và xã hội. Nguyên tắc pháp quyền từng bước
được đề cao và phát huy hiệu quả trên thực tế. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã góp phần tích cực vào
phát triển đất nước. Nếu chỉ tính riêng luật và pháp lệnh do quốc hội, UBTV Quốc hội ban hành, chúng ta có thể thấy
rằng, chất lượng và số lượng các văn bản quy phạm pháp luật này ngày càng được nâng cao.
Xây dựng pháp luật ở nước ta đã trở thành hình thức hoạt động cơ bản của NNN, được đẩy mạnh ở cả ba
cấp độ: lập pháp, lập quy của cơ quan nhà nước ở TƯ và cấp độ lập quy của chính quyền địa phương tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương. Nhờ đó, đã tạo ra sơ sở pháp lý thúc đẩy quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
thúc đẩy quá trình pháp triển nền dân chủ XHCN, hoàn hiện nhà nước, mở rộng quan hệ đối ngoại.
* Hạn chế - nguyên nhân:
Tuy nhiên, thực trạng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn những yếu kém, bất cập, chưa
theo kịp và chưa đáp ứng đầy đủ cho quá trình đổi mơis của đất nước. Thể hiện ở một số điểm cụ thể:
- Về thẩm quyền: Thực tế vẫn còn một số trường hợp khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chưa
đúng với chức năng, thẩm quyền. Các quy phạm pháp luật được ban hành trong các văn bản dưới Luật chiếm tỷ lệ lớn hơn
so với văn bản Luật. Điều này cho thấy vai trò của Quốc hội đối với công tác lập pháp còn hạn chế. Thêm nữa công tác
xây dựng pháp luật của chúng ta chưa tiền hành đồng bộ với kỹ thuật lập pháp cao. Do vậy, văn bản lạc hậu, thậm chí có
những văn bản sai cả về quy định xây dựng và trái với văn bản cấp trên về nội dung.
13
thực.
4/ Công bố văn bản quy phạm pháp luật: Đó là hành vi làm cho đối tượng ghi hành pháp luật (cá nhân, tổ
chức) biết để thi hành. Điều này cũng thể hiện trách nhiệm to lớn của các cơ quan và nhân viên nhà nước trong công tác
phổ biến, giáo dục và tuyên truyền pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho các tầng lớp nhân dân.
c. Về nội dung và hình thức, phong cách:
- Nội dung văn bản: phải bảo đảm tính chính trị (tính Đảng), tính pháp lý (hợp pháp), tính khoa học (hợp lý),
tính thực tiễn và tính khả thi. Song, xét về yếu tố thực tiễn trong đó đã hàm chứa tính khả thi; xét về tính khoa học thì nó
cũng hàm chứa yếu tố thực tiễn. Nhưng muốn nhấn mạnh nó nên người ta tách rời nó ra thành những yếu tố độc lập.
+ Tính chính trị: Tính chính trị của nó thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng trong các văn
bản quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa.
+ Tính pháp lý và tính khoa học: Văn bản quy phạm pháp luật phải có tính pháp lý và tính khoa học cao
nhằm đảm bảo tính đúng đắn của văn bản trên cơ sở quy định những nội dung pháp lý mang tính khoa học để thực thi các
văn bản của pháp luật.
+ Tính thực tiễn và tính khả thi: các văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo khả năng thực hiện được
trong thực tế để đảm bảo điều kiện khả thi của pháp luật.
-Về hình thức văn bản: là nội dung yêu cầu về kết cấu của bố cục, diễn đạt và lập luận, hành văn và đặt câu,
ngôn ngữ và văn phong văn bản của nhà nước phải đảm bảo đúng đặc điểm của phong cách hành chính trong văn bản quy
phạm pháp luật, có những đặc điểm là: chính xác, dễ hiểu, khách quan, lịch sự và khuôn mẫu.
+ Tính chính xác và tính dễ hiểu: còn được gọi chung là tính ngắn gọn là tính nổi bật của phong cách hành
chính. Nó được hiểu là được hiểu từ người soạn thảo, ký, phát hành, đọc và thi hành văn bản điều hiểu một nghĩa duy
nhất và nó không cho phép suy diễn. Trường hợp trong văn bản có sử dụng thuật ngữ thì phải có nghĩa thuật ngữ đó. Yêu
cầu của tính chính xác và tính dễ hiểu là ngắn gọn nhưng không cứng nhắc.
+ Tính khách quan: của văn bản nào ban hành cũng đều nhân danh Nhà nước chứ không phải cá nhân. Do
vậy, nó phải mang tính khách quan không được bộc lộ thái độ nghiên lệch, không có tính trung tính (ẩn dụ, hoán dụ, nhân
cách hóa), phải bảo đảm tính nghiêm minh nhưng đồng thời phải thực sự khách quan.
14
+ Tính lịch sự: thể hiện trong văn bản và kể cả trong tiếp xúc dân đêu phải thể hiện phong cách hành chính.
+ Tính khn mẫu: Các văn bản thường hình thành các mẫu văn bản để tiện lợi cho việc làm việc và giao
tiếp tùy theo hồn cảnh mà diễn đạt cho phù hợp. Đồng thời chú ý trong văn bản thành ngữ khơng được dùng (vì thành
ngữ được hiểu thưo nghĩa bóng), khơng được dùng tiến lóng, tiếng địa phương, tiếp tục điệp ngữ mà phải dùng ngơn ngữ
Pháp chế:
Pháp chế là sự đòi hỏi mọi chủ thể pháp luật phải thực hiện Pháp luật một cách nghiêm minh, bình đẳng
và thống nhất.
Pháp chế còn được hiểu dưới các góc độ khác như:
- Là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, của các tổ chức chính trò xã hội, là
nguyên tắc xử sự của các cán bộ công chức và mọi công dân.
- Các nguyên tắc của pháp chế:
. Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế, tính tối cao của hiến pháp và các đạo luật.
Pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia.
Mọi văn bản của cơ quan Nhà nước cấp dưới, của chính quyền đòa phương phải căn cứ vào hiến pháp và
luật và các văn bản của cơ quan cấp trên.
15
. Mọi chủ thể đều có nghóa vụ chấp hành Pháp luật, đều bình đẳng trước Pháp luật. Các hành vi vi phạm
Pháp luật phải được xử lý ngang nhau, không phân biệt đòa vò xã hội.
. Phát hiện kòp thời, xử lý nhanh chóng, công minh và chính xác mọi vi phạm pháp luật theo 3 yêu cầu:
đúng người, đúng tội và đúng Pháp luật.
. Thiết lập cơ chế để công dân thực hiện các quyền tự do đã được Pháp luật ghi nhận và bảo vệ các
quyền đó trước các hành vi xâm hại.
. Tính thống nhất của pháp chế phải hài hòa với tính hợp lý.
+ Pháp chế là sự thực hiện các quy đònh Pháp luật trong đời sống của tất cả các chủ thể Pháp luật. Tuy
nhiên trong thực tế thì khó xảy ra tình hình tất cả các chủ thể Pháp luật cùng thi hành Pháp luật. Vì vậy vấn đề tăng
cường pháp chế là vấn đề thường xuyên liên tục được đặt ra với các cơ quan Nhà nước và mọi công dân.
Để tăng cường pháp chế thì người ta cần có những biện pháp sau đây:
- Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế. Thực hiện Hiến pháp thì Đảng lãnh
đạo toàn diện, trong đó có công tác pháp chế, thể hiện ở các mặt cụ thể như là chiến lược xây dựng Pháp luật, nâng
cao ý thức Pháp luật cho công chức và nhân dân.
- Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống Pháp luật.
. Hệ thống Pháp luật hoàn thiện là cơ sở tốt nhất để mọi chủ thể Pháp luật có thể thực hiện Pháp luật
một cách bình thường trong đời sống và từ đó góp phần tạo ra pháp chế.
Nâng cao chất lượng của những người có trách nhiệm xây dựng Pháp luật.
ngược lại lợi ích nhân dân.
4/ Chế độ chính trị: dân chủ thật sự.
(tham khảo)
Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỹ luật. Phát huy dân chủ là phát huy nguồn sức mạnh to lớn của toàn
dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung, củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà
nước nói riêng, cần tập trung vào một số việc như: dân chủ trong bầu cử, ứng cử trong các cơ quan dân cử; thực hiện tốt
quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp; khắc phục dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan; phát huy dân chủ đi đối với
kỷ luật, kỷ cương.
Câu 34: Khi nói về ý nghĩa của pháp chế có ý kiến cho rằng:
1/ Pháp chế chỉ có lợi cho NN vì PL do NN đặt ra mà pháp chế lại yêu cầu phải có sự tuân thủ PP một cách
triệt để.
2/ Người dân cung có lợi vì họ có thể sử dụng PL để bảo vệ quyền lợi của mình, buộc NN và các chủ thể
khác phải thực hiện đúng những gì mà PL đã định.
3/ Đồng ý với 2 quan điểm tại mục 2 nhưng còn phải xem xét đến mức độ của pháp luật trong việc bảo vệ
lợi ích của XH
4/ NN có lợi, nhân dân cũng có lợi, vì chủ thể nào cũng phải tuân thủ pháp luật
Quan điểm của đồng chí về vấn đề này?
Câu 35: Đ/c hãy phân tích mối hệ giữa vi phạm PL và trách nhiệm pháp lý
- Pháp luật là tiền đề, là cơ sở khách quan cho việc truy cứu trách nhiệm pháp lý.
- Trách nhiệm pháp lý bao giờ cũng được điều chỉnh trong phạm vi các quan hệ PL nhất định và được thực
hiện bởi 2 chủ thể: Cơ quan NN có thẩm quyền và người vi phạm PL.
- Để khẳng định 01 công nhân có lỗi trong việc thực hiện hành vi VPPL và phải chịu trách nhiệm pháp lý thì
phải tuân thủ một trình tự đặc biệt do PL quy định.
- Đối với người thực hiện hành vi VPPL, thì trách nhiệm pháp lý bao giờ cũng được thực hiện trong văn bản
đã có hiệu lực pháp luật mà trong đó quy định chế tài cụ thể.
- Chủ thể có thẩm quyền giải quyết vấn đề trách nhiệm pháp lý của người có hành vi VPPL là cơ quan NN
và người có thẩm quyền.
Câu 36: Điều 2 HP 1992 ghi: “…quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ
quan NN trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đồng chí hãy phân tích làm sáng tỏ nhận định
trên
Do tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, vì thế quyền lực nhà nước là ln ln thống nhất, khơng
“tam quyền phân lập” vì nếu chia quyền lực thì sẽ dẫn đến kiềm chế và triệt tiêu lẫn nhau, làm cho quyền lực của nhân dân
bị phân tán, khơng bảo đảm được tính thống nhất. Vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước phải tập trung
vào cơ quan đại diện quyền lực nhà nước duy nhất và cao nhất do nhân dân bầu ra đó là Quốc hội.
Tuy quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân cơng rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó sự thống nhất là nền tảng, sự phân
cơng và phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực.
Sự phân cơng quyền lực giữa các cơ quan nhà nước thể hiện ở sự phân định chức năng, nhiệm vụ của mỗi
loại hình cơ quan nhà nước. Sự phân định này ngày càng rõ ràng, cụ thể thì hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan
nhà nước nước càng được nâng cao, khơng một cơ quan nhà nước nào có thể thâu tóm tồn bộ quyền lực nhà nước vào tay
mình và cũng khơng cho phép lấn át chức năng giữa chúng. Tuy vậy, sự phân cơng quyền lưucj là cơ sở để thực hiện tốt
quyền lực nhà nước thống nhất.
Sự phân cơng quyền lực nhà nước còn bao hàm cả sự phối hợp quyền lực. Sự phân cơng 3 loại quyền lực:
lập pháp. Hành pháp và tư pháp trong nhà nước pháp quyền thể hiện ở chỗ: quyền lực nhà nước là thống nhất, là sự thể
hiện ý chí của nhân dân lao động và dựa trên hoạt động độc lập là: quyền lập pháp – hoạt động là làm luật, quyền hành
pháp, hoạt động là thi hành luật, quyền tư pháp – hoạt động xét xử nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền tự do của
cơng dân, các lợi ích của nhà nước và xã hội.
Các tổ chức này nhằm vừa bảo đảm tính độc lập chủ động, tính trách nhiệm cao của từng cơ quan nhà nước
trong việc thực thi quyền lực nhân dân giao cho, vừa đảm bảo tính thống nhất, khách quan hiệu quả, tránh tình trạng lạm
quyền, chun quyền của hệ thống cơ quan nhà nước, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân
Câu 37: Lê nin viết: “NN là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp khơng thể điều hòa
được, NN xất hiện ở đâu, và khi nào mà những mâu thuẫn giai cấp, xét một cách khách quan khơng thể điều hòa
được”. Đ/v hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Trả lời: Khái niệm về Nhà nước: Nhà nước là một hiện tượng đặc biệt của quyền lực chính trò có bộ máy
chuyên làm chức năng quản lý và cưởng chế nhằm để bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và duy trì trật tự xã hội.
1) Các Mác và Ăngghen nghiên cứu về nhà nước Từ những căn cứ lòch sử hiện thực của loài người
thông qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, các ông đã đưa ra nhận đònh hay là kết luận sau đây:
- Xã hội loài người từng tồn tại những giai đoạn không có Nhà nước, Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội
đã phát triển đến một trình độ nhất đònh và trong tương lai khi xã hội phát triển đến chủ nghóa cộng sản thì Nhà nước
sẽ dần dần tiêu vong.
công cụ lao động được cải biến đáng kể và làm cho năng suất lao động cao đến mức tăng vọt và có những thời điểm
đã xuất hiện sản phẩm thừa.
- Sự phân công lao động ở cuối chế độ nguyên thủy đã diễn ra 3 cuộc cách mạng phân công lao động
lớn. Thứ nhất là thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp. Thứ hai là chăn nuôi tách khỏi trồng trọt. Thứ ba là buôn
bán xuất hiện và làm ra đời ngành thương mại.
- Khi xuất hiện sản phẩm thừa ngày ngày càng nhiều thì nảy sinh cái tâm lý muốn chiếm đoạt các sản
phẩm thừa của chung đó làm của riêng và một số cá nhân có điều kiện đã chiếm đoạt được một lượng sản phẩm thừa
thành tài sản riêng, hình thành nên tầng lớp tư hữu đầu tiên.
- Xuất hiện chế độ hôn nhân một vợ, một chồng từ sự tan rả của chế độ quần hôn nguyên thủy đã làm
cho gia đình trở thành một đơn vò kinh tế độc lập.
- Khi xuất hiện đơn vò gia đình làm cho phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy biến dạng đáng kể.
Xã hội nguyên thủy đã phân hóa một cách sâu sắc thành 2 bộ phận:
+ Thiểu số những người có nhiều tài sản thường có đòa vò và có điều kiện để chiếm đoạt của chung.
Hình thành nên tầng lớp chiếm đoạt của chung. Và người ta gọi bộ phận đó là giai cấp bóc lột.
+ Đa số những người còn lại là những người có ít tài sản hơn và người ta gọi đó là những người nghèo.
Những người nghèo bò chiếm đoạt sức lao động nên được gọi là giai cấp bò bóc lột.
Hai bộ phận xã hội mới hình thành này có lượng tài sản và nhu cầu đối nghòch nhau. Giai cấp giàu mong
muốn bóc lột được nhiều hơn để ngày càng giàu hơn, giai cấp nghèo mong muốn khôi phục lại trạng thái bình đẳng
ban đầu, hai tình trạng này không còn nằm dưới sự điều chỉnh và kiểm soát của thò tộc nguyên thủy, thò tộc nguyên
thủy trở nên bất lực, hai bộ phận xã hội này mâu thuẩn với nhau từ lợi ích và biến thành xung đột bạo lực nhiều lúc là
công khai gây nhiều hậu quả song thò tộc trở nên hoàn toàn bất lực. Trước thực trạng đó, xã hội nguyên thủy đã nảy
sinh nhu cầu hình thành một thiết chế xã hội mới có đủ sức mạnh để dập tắt các xung đột bạo lực đang diễn ra, duy trì
xã hội ở trong một vòng trật tự, trong bối cảnh đã có sự khác biệt về giai cấp, tổ chức đó chính là Nhà nước.
Sự xuất hiện Nhà nước xuất hiện ở các dân tộc khác nhau phụ thuộc vào nhiều đặc thù về đòa lý, về văn
hóa dân tộc.
2) Bản chất của hiện tượng Nhà nước:
Theo học thuyết Mác thì Nhà nước là hiện tượng lòch sử chỉ sinh ra khi xã hội đã hình thành các giai cấp
và mâu thuẩn giữa các giai cấp trở nên vô cùng sâu sắc và không thể điều hòa được. Nhà nước ra đời nhằm duy trì sự
khác biệt về giai cấp và nhằm để đáp ứng nhu cầu điều hòa trật tự xã hội.
a) Tính giai cấp:
các vấn đề xã hội to lớn như hiện tượng thiếu việc làm, người không có nơi nương tựa, trẻ em lang thang, nhiều loại
tệ nạn xã hội
Chính từ những lý luận trên, nên Lê nin đã viết: “NN là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai
cấp khơng thể điều hòa được, NN xất hiện ở đâu, và khi nào mà những mâu thuẫn giai cấp, xét một cách khách quan
khơng thể điều hòa được”. Đ/v hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Câu 38: Hãy dựa trên những kiến thức về ý thức PL, hãy nhận định tư tưởng “Phép vua thu lệ làng”
vẫn còn được tồn tại trong xã hội ta.
Thơng thường ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại XH. Mặc dù XH cũ đã bị XH mới thay thế
nhưng ý thức PL của XH cũ vẫn còn tồn tại ở XH mới trong một gai đoạn nhất định. Đó là tàn dư của XH cũ, nhất là trong
lĩnh vực tâm lý PL vì lợi ích của giai cấp hoặc do thối quen của con người vẫn có thể mang ý thức pháp luật của xã hội
cũ. Cụ thể như trong lịch sử XH trải qua một thời kỳ q dài người dân sống dưới chế độ NN phong kiến, trong đó NN đó,
pháp luật chỉ bảo vệ đặc quyền đặc lợi của giai cấp phong kiến nên đã hình thành thói quen, thái độ phản kháng, xem
thường pháp luật “phép vua thua lệ làng”. Điều này cản trở đến việc củng cố pháp chế ở nước ta. Đây cũng là yếu tố quan
trọng cần phải chú ý để có phương hướng giáo dục pháp luật phù hợp.
(Phép vua là PL phong kiến do tính lạc hậu của ý thức PL so với tồn tại Xh – đặc đểim của ý thức PL)
Câu 39. Theo nhận định của đ/c 01 giảng viên của học viên CTHC KV II có qun bán xơi trước cổng
học viện khơng?
Trả lời: Theo Luật kinh doanh thì đối với cá nhân tham gia kinh doanh phải có năng lực hành vi dân sự
hồn tồn, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình để xác lập, thực
hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Điều đó có nghĩa là cá nhân có khả năng nhận thức được hành vi của mình và tự chịu
20
trách nhiệm về hành vi đó. Pháp luật nước ta quy định, người đủ 18 tuổi trở lên không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh lý
khác làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức hành vi của mình là có đủ hành vi năng lực dân sự.
Có giấy phép hoạt động và đã đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; cá nhân có
năng lực hành vi dân sự chỉ mới là điều kiện cần. Để trở thành chủ thể kinh doanh, phần lớn các cá nhân còn phải xin phép
hoặc đăng ký kinh doanh (tùy theo ngành nghề kinh doanh) ở các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chỉ sau khi được cấp
giấy phép kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh, cá nhân mới có năng lực pháp luật trong quan hệ Luật kinh doanh, có
quyền hoạt động kinh doanh và khi đó mới trở thành chủ thể của Luật kinh doanh.
Căn cứ vào nội dung này thì một giảng viên cũng có thể trở thành một chủ thể kinh doanh, có nghĩa là được
quyền kinh doanh bán xôi khi đã thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật mà cụ thể là Luật kinh doanh. Tuy nhiên,
PL không phù hợp. Qua đó cho thấy, YTPL càng đầy đủ, chính xác, đúng đắn thì sẽ đảm bảo cho việc ban hành các đạo
luật có chất lượng tốt.
* Đối với việc tuân thủ, tôn trọng và áp dụng pháp luật: Khi PL được ban hành, không phải mọi người đều
có thái độ, tình cảm đúng đắn đối với nó. Thái độ, tình cảm đúng đắn đối với PL chỉ có thể thể hình thành, phát triển trên
cơ sở nhận thức đúng đắn về pháp luật. Vì thế, chỉ khi con người có nhận thức đúng và ở họ có thái độ, tình cảm đúng đắn,
khi đó sẽ tôn trọng và tuân thủ PL.
Câu 42: Hãy cho biết trong tình huống sau có các hình thức thực hiện pháp luật nào:
“A có một căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình, tháng 1/2008 A tiến hành sửa chữa căn nhà đó. Tháng
7/2008, A thỏa thuận bán căn nhà đó cho B. Ngày 01/8/2008, A và B lập hợp đồng mua bán nhà ở tại phòng công chứng
số 2, công chức viên đã làm thủ tục chứng nhận hợp đồng này và B đã giao tiền cho A”
Câu 43: Do nhận thấy tình hình VP QPPL trong lĩnh vực đất đai có nhiều mâu thuẫn, chồng chéo
giữa văn bản do cơ quan NN ở TW ban hành với vB do địa phương ban hành, đ/c CT.UBND tỉnh đã tiến hành
pháp điểm hóa các văn bản này. Cho biết nhận định của đ/c.
21
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định 135 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản
quy phạm pháp luật đã được triển khai. Thế nhưng, ở các bộ, ngành, địa phương đang tồn tại nhiều văn bản quy phạm
pháp luật - trái luật và có những biểu hiện né tránh, chậm trễ trong việc xử lý các văn bản trái luật này.
Về nguyên tắc, hệ thống pháp luật luôn phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất. Nhưng vì
nhiều nguyên nhân, các bộ, ngành, địa phương chưa thường xuyên tổ chức kiểm tra, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật
do mình ban hành. Các địa phương ban hành một số văn bản về xử lý vi phạm hành chính, về ưu đãi, khuyến khích đầu tư,
về thưởng thuế nhập khẩu trái pháp luật vì lợi ích cục bộ địa phương. Một số công văn hành chính lại có chứa quy phạm
pháp luật trong đó nhiều nhất là trên lĩnh vực đất đai.
Thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế, phát huy dân
chủ, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu về xây dựng hệ
thống pháp luật bảo đảm tính thống nhất, công khai, minh bạch phải được quan tâm hơn bao giờ hết. Vì vậy tình trạng văn
bản pháp luật - trái luật là điều không thể chấp nhận.
Nguyên nhân của tình trạng trên được chỉ ra là: một số bộ, ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm
quan trọng của công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL; việc gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chưa được kịp
thời và chưa đúng pháp luật; đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra văn bản chậm được kiện toàn, thiếu về số lượng và
hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ