Tài liệu ôn thi môn học : Quan hệ quốc tế
Vấn đề 1 : THỜI ĐẠI NGÀY NAY.
Bài làm
Tổng kết thực tiễn hơn 60 năm phát triển của cách mạng nước ta (1930-1991), Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta đã rút ra những bài học lớn, trong đó bài học đầu tiên là:
nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự chọn lựa con đường phát triển đất nước
theo chủ nghĩa xã hội chính là sự chọn lựa phù hợp với thời đại, cho dù những biến động chính trị
diễn ra trong vài thập kỷ gần đây, những thất bại của chủ nghĩa xã hội hiện nay không thể là căn cứ
để chúng ta đi đến những kết luận vội vàng mà phải căn cứ vào giá trị tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối
với vận mệnh của toàn nhân loại cả trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai để xem xét. Trong văn
kiện Đại hội VIII, Đảng ta đã khẳng định “thời đại ngày nay và mối quan hệ giữa các quốc gia dân
tộc là vấn đề cơ bản, cần thiết đối với một Đảng cách mạng. Việc nhận thức đúng đắn về thời đại có
ý nghĩa quyết định tới việc xác định đường lối chiến lược của cách mạng. Do vậy, việc xem xét thời
đại một cách khoa học, khẳng định thời đại một cách đúng đắn là sự cần thiết và là đòi hỏi bức xúc
hiện nay. Mỗi một thời đại đều mang trong mình những nội dung, tính chất và đặc điểm khác nhau,
bên cạnh đó nó còn chứa đựng những mâu thuẩn với những hình thức và mức độ biểu hiện cũng
khác nhau. Khi nghiên cứu, đánh giá về thời đại ngày nay để đưa ra một đường lối cách mạng đúng
đắn, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhận định “ ”
1. Dự báo tình hình thế giới và trong nước những năm sắp tới
Đánh giá tình hình thế giới, Đại hội XI của Đảng đã nhận định “Nước ta bước vào thời kỳ
chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường” (VKĐH XI,
trang 27) tác động đến nhận thức về thời đại. Cụ thể như sau :
Trên thế giới : Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn
biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc
tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố
vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong
các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường còn tiếp tục gia tăng.
Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế tiếp tục
phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế. Toàn cầu hoá và cách mạng
khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế
Thời đại là một khái niệm dùng để chỉ sự phân kỳ lịch sử XH để phổ biến những nấc thang
trong quá trình phát triển của lịch sử XH loài người theo những tiêu chuẩn nhất định do những đặc
trưng khách quan của thời đại đó qui định. Nói cách khác, thời đại là thời kỳ lịch sử tương đối dài
có nét riêng biệt về chất, được tách ra trên cơ sở những đặc trưng khách quan nhất định. Khái niệm
thời đại còn được thay thế bởi các từ: giai đoạn, thời kỳ, nền văn minh.
Thời đại ngày nay là thời đại chúng ta đang sống, là thời đại mới, bắt đầu bằng sự thắng lợi
của cách mạnh XHCN tháng 10 Nga 1917 ở Nga. Theo Lênin: nội dung của thời đại mới là xóa bỏ
CNTB đồng thời phải thiết lập những cơ sở của XH mới XH XHCN và CSCN
Mác khẳng định loài người đã trãi qua 4 hình thái KT – XH: Cộng sản nguyên thủy, Chiếm
hữu nô lệ, phong kiến, TBCN. Mỗi hình thái KT - XH là một thời đại lịch sử nhất định có phát sinh,
phát triển và diệt vong. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng từ hình thái KT - XH này lên hình thái
KT - XH khác phải có thời kỳ tích lũy dần về lượng để biến đổi về chất. Do vậy thời kỳ quá độ có
thời gian dài chia thành nhiều bước đi, giai đoạn. Nó chứa đựng sự đan xen giữa các nhân tố của
các hình thái KT - XH, giữa cái cuộc và cái mới, giữa các quốc gia có các chế độ chính trị khác
nhau.
Chính thắng lợi của cuộc CM tháng 10 Nga mở ra một thời đại mới trong lịch sử thế giới :
đó chính là thời đại quá độ lên chủ nghĩa XH, nó tạo ra hai xu thế chính trị XH đối lập với CNTB;
mở đầu một hình thái KT - XH mới mà về chất nó khác hẳn hình thái KT - XH trước đó (nó xóa bỏ
mọi hình thức áp bức bóc lột, nó đưa lại sự bình đẳng cho các dân tộc). Lê nin nhấn mạnh ”chúng
ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu xây dựng nhà
nước Xô viết và do đó mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai
cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở các nơi đang tiến tới một cuộc đổi mới,
tới chổ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chổ giải phóng khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh
đế quốc chủ nghĩa. ”
Như vậy, rõ ràng nội dung cơ bản của thời đại ngày nay là thời đại quá độ mà loài người
đang loại bỏ CNTB, tiến lên chế độ tốt đẹp hơn, giải phóng lao động, tránh khỏi những cuộc chiến
tranh đế quốc, mọi người đều sống trong hòa bình. Lênin cũng chỉ rõ thời đại ngày nay, giai cấp vô
sản trở thành giai cấp thống trị đứng ở vị trí trung tâm của thời đại quyết định sự vận động của lịch
sử.
Hội nghị của Đảng Cộng sản và công nhân 1957-1960 họp ở Mátxcơva nhận định : thời đại
khủng hoảng kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó là sự chống phá điên cuồng, tinh vi, thâm độc và toàn
diện của các thế lực đế quốc chủ nghĩa. CNXH hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào, song chủ
nghĩa xã hội vẫn tỏ rõ sức sống của nó như ở Việt Nam, Trung Quốc và ở giá trị đích thực của
CN Mác – Lênin.
Văn kiện Đại hội XI (trang 69) của Đảng đã nhận định thời đại ngày nay có những đặc
điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay là :
“Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa
đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách
thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ
tiến tới chủ nghĩa xã hội”.
3. Làm rõ những nội dung và biểu hiện mới của những mâu thuẩn thời đại: Thời đại ngày
nay có những đặc điểm chủ yếu bao gồm:
Thời đại ngày nay là thời đại chúng ta đang sống, là thời đại mới, bắt đầu bằng sự thắng lợi
của cách mạnh XHCN tháng 10 Nga 1917 ở Nga, mà nội dung cơ bản của nó là xóa bỏ CNTB
đồng thời phải thiết lập những cơ sở của XH mới XH XHCN và CSCN.
Như vậy, nôi dung cơ bản của thời đạị ngày nay là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, là
thời đại loài người đang loại bỏ CNTB tiến lên chế độ tốt đẹp hơn, giải phóng lao động, mọi người
đều có quyền sống trong hoà bình. Lên nin nhấn mạnh: thời đại ngày nay là thời đại mà giai cấp vô
sản đứng ở vị trí trung tâm của thời đại, quyết định sự vận động của lịch sử xã hội loài người.
Tại hội nghị Đảng Cộng sản và công nhân 1957 và 1960 tại Mátxcơva đã nhận định: Thời
đại ngày nay là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, là thời đại đấu tranh
giữa hai hệ thống xã hội đối lập, là thời đại giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN, là thời đại
CNĐQ bị sụp đổ, hệ thuộc địa bị thủ tiêu, là thời đại có nhiều dân tộc đi lên CNXH, là thời đại
thắng lợi của CNXH, CNCS trên phạm vi toàn thế giới
Một là sự phát triển mạnh của cuộc CM khoa học công nghệ hiện đại nó tác động mạnh mẽ
và trực tiếp đến đời sống nhân dân các nước, nó đẩy mạnh xu thế toàn cầu hóa nó đưa đến những
thuận lợi đồng thời đặt ra những thách thức nhiều nước,nhất là các nước chậm phát triển và đang
phát triển. Hai là CNXH, phong trào cộng sản và công nhân lâm vào khủng hoảng thoái trào làm
thay đổi so sánh lực lượng trên trường quốc tế, có tác động đến sự vận động của thời đại, nhưng
này.
Thứ hai: Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân;
Đây vẫn là mâu thuẫn vốn có trong lòng các nước CNTB. Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn
còn tồn tại thì mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội này vẫn là khách quan, giai cấp công
nhân vẫn là những người lao động làm thuê cho giai cấp tư sản. Hiện nay do cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân và những lực lượng tiến bộ trên thế giới, cùng với năng suất lao động cao do cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra, chủ nghĩa tư bản có những điều chỉnh trong chính sách xã
hội, thực hiện tăng phúc lợi xã hội. Nó có biểu hiện mới, nội dung, tính chất và hình thức tinh vi
hơn, xảo nguyệt hơn, nhưng có vẻ êm dịu hơn. Do giai cấp tư sản tìm mọi cách để xoa dịu cuộc
đấu tranh của giai cấp công nhân như: chăm lo chính sách xã hội hơn; mua chuộc một bộ phận công
nhân, trí thức; gắn lợi ích công nhân với lợi ích của các công ty thông qua việc bán cổ phần hoặc sử
dụng mọi hình thức tuyên truyền tính ưu việt của xã hội tư bản nhưng về căn bản giai cấp tư sản
không thể giải quyết được mâu thuẫn vốn có của nó giữa tư bản và lao động, giữa tính chất xã hội
hóa rất cao của LLSX và chế độ sở hữu tư nhân TBCN. Song sự phân hoá giàu nghèo vẫn diễn ra
quyết liệt, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng trong các nước tư bản chủ nghĩa. Nếu như
trước đây trong các nước tư bản chủ nghĩamâu thuẫn cơ bản nổi lên giữa giai cấp công nhân và giai
cấp tư sản thì nay mâu thuẫn này đã phát triển thành mâu thuẫn rộng lớn hơn là mâu thuẫn giữa tư
bản và lao động. Trong xã hội, không chỉ có giai cấp công nhân bị áp bức, bóc lột mà cả những
người lao động khác cũng bị bóc lột; mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng mang tính xã
hội hoá cao với tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt. Cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ, một mặt giúp nâng cao mức sống cho xã hội, mặt khác làm cho tình
trạng thất nghiệp của những người lao động trong xã hội tư bản chủ nghĩa ngày càng gia tăng. Cùng
với nó là tình trạng tội phạm xã hội, ma tuý, sự suy thoái vềđạo đức, lối sống làm cho những mâu
thuẫn vốn có trong xã hội tư bản ngày càng trở nên gay gắt. Những mâu thuẫn đó chỉđược giải
quyết bằng một cuộc cách mạng xã hội xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, thiết lập chếđộ xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, với những âm mưu "diễn biến hoà bình" chống phá quyết liệt của kẻ thù, những
4
thủ đoạn nham hiểm của giai cấp tư sản, cùng với sự thiếu thống nhất, sự chia rẽ của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay, cách mạng xã hội chủ nghĩa còn gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ ba: Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc và kém phát triển với chủ
chấp nhận phải đứng sau Mỹ”. Trong khi Mỹ lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để can thiệp vào các
quốc gia độc lập thì ông Hubert Vedrin lại nói “nhiều nơi khát vọng dân chủ nhưng không nhất thiết
là dân chủ giống hệt chúng ta” và “đừng quên là trong quá khứ, những nhà truyền giáo, quan chức
và lính tráng của CN thực dân đã rao giảng rất nhiều về dân chủ, nhân quyền, những điều mà chính
họ ít khi áp dụng.
Đây là 4 mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay hiện đang tồn tại, có mặt phát triển sâu sắc
hơn, nội dung và hình thức biểu hiện đã có nhiều nét mới. Chính sự vận động của các mâu thuẫn đó
cùng với sự đấu tranh không mệt mỏi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế
giới sẽ quyết định số phận của CNTB, của giai cấp tư sản.
Vì thế, trong hoàn cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, việc nhận thức đúng đắn về
vấn đề thời đại là rất quan trọng và cần thiết, nó giúp thoát ra khỏi tình trạng hoang mang dao
động, mất phương hướng và phát hiện kịp thời và đấu tranh kiên quyết với mọi hình thức và biểu
hiện của chủ nghĩa cơ hội và xét lại. Nhận diện những biểu hiện của nguy cơ chệnh hướng XHCN
là vấn đề không phải đơn giản bởi tính phức tạp của sự nhận diện này bắt nguồn từ tính chất phức
tạp của thời kỳ quá độ. Thời gian qua ở Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều những biểu hiện cơ hội,
xét lại, cụ thể như :
- Xu hướng đòi “đa nguyên chính trị” : trong quá trình đổi mới, đặc biệt vào những thời
điểm có tính bước ngoặt, Đảng ta có những quyết sách rất quan trọng, trong đó có sự bác bỏ kiên
quyết những mầm mống đầu tiên về đa nguyên chính trị chớm xuất hiện trong Đảng. Đây là một
5
quan điểm đúng đắn bởi xuất phát từ bài học kinh nghiệm ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự
thực hiện “đa nguyên” “đa đảng”, dân chủ theo kiểu tư sản ở Liên Xô và Đông âu vừa qua, là một
bài học đắt giá đối với các nước XHCN, đã làm cho CNXH bị khủng hoảng và lâm vào thoái trào.
Đồng thời, thực tế cũng chứng minh rằng, các nước thực hiện sự cải cách hay đổi mới thu được
những thắng lợi căn bản và vững bước đi theo con đường CNXH đều đã kiên trì nguyên tắc: nhất
nguyên chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo duy nhất, đúng đắn của Đảng CS đối với hệ
thống chính trị và toàn XH
- Tìm mọi cách hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản : Hạ viện Mỹ thông qua Nghị
quyết đòi Việt Nam phải xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp năm 1992 (tức bỏ điều Đảng Cộng sản
lãnh đạo toàn XH) ngay trong giai đoạn Việt - Mỹ đang chuẩn bị Hiệp định thương mại, tư tưởng
Hồ Chí Minh. Việc nhận thức và xác định đúng đắn vấn đề thời đại hiện nay cùng với xác định
đúng hướng đi của đất nước, trong đó có đường lối chính sách đối ngoại. Đảng và nhân dân ta đã
góp phần tích cực vào việc làm rõ xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người. Cho dù khúc
quanh hiện nay của lịch sử đang là sự quá độ từ CNTB lên CNXH trên thế giới kép dài thêm nhưng
nó không thể làm đảo ngược được tính chất và xu thế của thời đại. CNXH vẫn đang tồn tại thoát
khỏi những khó khăn, đang tiếp tục phát triển và khẳng định vị thế của mình. Loài người vẫn đang
trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất
định sẽ tiến tới CNXH.
Vấn đề 2: CNXH HIỆN THỰC - CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI XHCN LÀ CON ĐƯỜNG
PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA CÁCH MẠNG VN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
6
Bài làm:
Quá trình phát triển của lịch sử XH loài người mang bản chất luôn luôn vận động và biến đổi
không ngừng theo khuynh hướng tiến lên cải tổ. Do đó, công cuộc đổi mới hoàn thiện CNXH dưới
sự lãnh đạo của chính đảng CS là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển lịch sử. Và hơn thế nữa còn
là sự đòi hỏi tất yếu của bản thân CNXH trên thế giới nói chung và CNXH ở nước ta nói riêng.
Bằng lý luận quan hệ quốc tế, chúng ta phân tích làm rõ luận điểm trên.
1. Thành tựu và vai trò, vị trí của CNXH
a. Vị trí, vai trò của CNXH :
CNXH hiện thực ra đời là một tất yếu trong quá trình phát triển của lịch sử XH loài người. Đây
là biểu hiện sự vận động không ngừng tiến lên của lịch sử. CN Mác-Lênin chỉ ra rằng: CNXH là sản
phẩm trực tiếp của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, bởi CNXH là mục đích, là lý tưởng
của giai cấp vô sản cần đạt tới, do vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản qui định; CNXH cũng
là ước mơ, nguyện vọng của đông đảo nhân dân lao động. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản, C.Mác đã chỉ rõ: “Sự diệt vong của CNTB và sự thắng lợi của CNCS đều là tất yếu như
nhau”. Các nhà kinh điển CN Mác-Lênin còn dự đoán thiên tài về một XH tương lai, XH CSCN.
Đó là một XH mà trong đó mọi sự áp bức, bóc lột, bất công đều bị xóa bỏ, con người được hoàn
toàn tự do và bình đẳng, có cuộc sống văn minh và hạnh phúc. Và chỉ có CNXH, CNCS mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới. Thắng lợi cách mạng tháng
Mười Nga năm 1917 đã đưa đến việc thiết lập một nhà nước XHCN đầu tiên trong lịch sử XH loài
7
thể là Liên Xô) đã giành được thế cân bằng chắc chắn về vũ khí chiến lược, buộc CN đế quốc phải
chấp nhận cùng tồn tại hòa bình, nhờ đó mà nhân loại bước vào giai đoạn mới, giai đoạn của hòa
bình, hợp tác và phát triển.
Thành tựu tại VN (ĐHXI): Kiểm điểm 5 năm thực hiện NQ ĐHX, nhìn lại 10 năm thực hiện
chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010, 20 năm thực hiện cương lĩnh năm 1991
- Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc
độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát
triển, bước vào nhóm nước đang có thu nhập trung bình.
- Nhiều mục tiêu chủ yếu của chiến lược 2001-2010 đã được thực hiện, đạt bước phát triển mới
cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.
- Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Năm 2010, tổng sản phẩm trong
nước bình quân đầu người đạt 1.168USD.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện.
- Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và các lĩnh vực xã hội có
tiến bộ; bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng hơn; đời sống các tầng lớp nhân dân được
cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng.
- Chính trị - xã hội ổn định; Quốc phòng, an ninh, đối ngoại đượctăng cường; độc lập, chủ
quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững.
- Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tạo môi
trường hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước.
- Phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố; Việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả hoạt động được
nâng lên.
- Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, đạt một số kết quả tích cực.
- Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; Vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra tiền đề quan trọng để đẩy nhanh CNH-
HĐH và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
c. Những sai lầm của CNXH :
không cần quan hệ với các nước TBCN tức là CNXH đã ngủ quên trên những biến động của xã hội,
say sưa với chiến thắng, thoả mãn với chế độ XHCN. CNXH đã mắc sai lầm biệt lập, đóng cửa với
nền kinh tế thế giới. Do vậy, không tiếp thu được những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng
khoa học công nghiệp hiện đại. Mặt khác, sự đóng khung các quan hệ kinh tế giữa các nước XHCN
với nhau, đi ngược lại xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới, làm cho nền kinh tế
của các nước XHCN không thể phát triển được.
CNXH, trong thời gian dài đã không chú trọng đúng mức tới các ngành khoa học ứng dụng, chưa
sử dụng đúng mức đội ngũ trí thức. Từ đó dẫn đến hậu quả chưa sử dụng hết tài năng, dẫn đến tình
trạng chảy máu chất xám từ các quốc gia XHCN sang các nước TBCN. Những sai lầm đó tích tụ
lâu ngày, chậm được phát hiện, chậm được sửa chữa đã đưa đến hậu quả nghiêm trọng chưa từng có
trong lịch sử phát triển của CNXH, dẫn đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng cộng sản, đối với Nhà
nước và chế độ XHCN bị giảm sút; nạn chuyên quyền độc đoán, tham nhũng đã làm tổn thương nghiêm
trọng đối với hình ảnh của CNXH. Mặt khác, CN đế quốc lợi dụng sai lầm đó để phản công lại
CNXH, chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người dẫn đến
sự tam rã của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu.
Tuy nhiên, chúng ta nhận thức rõ rằng sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu cũng
như những hậu quả suy giảm KT-XH ở nước ta không phải là từ bản chất chế độ, cũng hoàn toàn
không phải là cách lựa chọn sai lầm một sự “đẻ non”, Cách mạng tháng 10 Nga như những kẻ thù
tư tưởng của CNXH, những kẻ cơ hội rêu rao, mà thực chất - như Đảng ta đã chỉ rõ - là do sai lầm
về đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức của Ban lãnh đạo Đảng cộng sản các nước đó, duy trì quá
lâu cơ chế cũ đã tỏ ra bất cập trước thực tiễn mới, đưa đến khủng hoảng kinh tế, xã hội, bên cạnh đó
là sự chống phá điên cuồng, tinh vi, thâm độc và toàn diện của các thế lực đế quốc chủ nghĩa.
CNXH hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào, song chủ nghĩa xã hội vẫn tỏ rõ sức sống của nó như
ở Việt Nam, Trung Quốc, Cu ba và ở giá trị đích thực của CN Mác – Lênin
Việt Nam - nằm trong hệ thống các nước XHCN - cũng vấp phải những sai lầm trong việc đề ra
đường lối chính sách kinh tế xã hội trong giai đoạn từ trước năm 1986. Chúng ta một thời gian khá
dài đã duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã dẫn đến sự kiềm hãm sự phát triển kinh
tế và dẫn đến khủng hoảng trầm trọng, hành động trái với các quy luật khách quan, đẩy mạnh cải
tạo quan hệ sản xuất trong khi lực lượng SX chưa phù hợp từ đó nảy sinh ra mâu thuẩn chủ yếu
giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, nhiệm vụ công nghiệp hóa được đẩy lên một cách duy
cuộc xây dựng CNXH. Muốn vậy, phải cương quyết khắc phục những quan hệ chính trị đã kiềm
hãm sự phát triển KT-XH, xây dựng mối quan hệ mới trong hệ thống chính trị; tăng cường giáo dục
lối sống theo phương châm: Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, giữ gìn kỷ cương và trật
tự xã hội.
Về kinh tế: Vấn đề hàng đầu của công cuộc đổi mới là sự thay đổi cơ chế quản lý bằng mệnh
lệnh, tập trung, hành chánh bao cấp sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhiệm vụ này phải tiến hành ở tất cả các khâu của nền
kinh tế, đa dạng hoá hình thức sở hữu. Trong đó sở hữu nhà nước và tập thể giữ vai trò nền tảng.
Đổi mới quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, giữ vững độc lập, tự
chủ.v.v
Về vấn đề xã hội, phải thật sự quan tâm đến vấn đề con người, con người vừa là mục đích, vừa là
động lực thực hiện công cuộc đổi mới đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội.
Tuy nhiên, sau nhiều năm tiến hành cải tổ, đổi mới ở các nước XHCN đưa đến kết quả không
giống nhau. Một số nước càng lún sâu vào khủng hoảng và đi đến tan rã CNXH như Liên Xô và các
nước Đông Âu, do nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân xa rời các nguyên tắc mácxít Lêninnít
về định hướng, mục tiêu và bước đi. Một số nước khác đã tiến hành công cuộc cải tổ, đổi mới giành
được những thành tựu bước đầu quan trọng như: Trung Quốc, Việt Nam.
c. Đổi mới ở Việt Nam:
Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm
nhận thức đúng hơn và thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng CNXH. Đại hội đã đưa ra
những nhận thức mới về cơ cấu kinh tế, về công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên,
thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp, coi trọng lợi ích
cá nhân, tập thể và xã hội, chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về
10
chính sách xã hội. Đường lối đối ngoại mở rộng với chủ trương thêm bạn bớt thù, sau đó phát triển
từ “muốn là bạn với tất cả các nước” chuyển sang “sẳn sàng muốn là bạn với tất cả các nước”
Đại hội X: Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công
cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách
mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua
thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo
vệ tài nguyên, môi trường.
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời
sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển;
chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
11
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường
và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và
giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực
lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng
trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí.
4. Những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam (ĐHXI)
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, có thể rút ra một số kinh nghiệm
sau đây:
Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu
đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước
sống xã hội, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các Đảng CS và công nhân ở các nước XHCN đã đổ vỡ. Ở
các nước này hiện nay đang có sự chuyển biến tích cực trên con đường phục hồi về tổ chức và hoạt
động của các Đảng CS, điều này càng chứng tỏ rằng CNXH có sức thu hút mạnh các lực lượng tiến
bộ của thời đại với tư cách là một chế độ xã hội văn minh nhất trong lịch sử, đại diện cho lực lượng
sản xuất phát triển trong tương lai của xã hội loài người
Ở nước ta, con đường đi lên CNXH và những thành quả của quá trình đổi mới, xây dựng CNXH
ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN đã có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự
nghiệp cách mạng VN và phong trào cách mạng thế giới ngày nay. Đã khẳng định Cương lĩnh,
đường lối, quan điểm của Đảng ta về đổi mới và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
là đúng đắn. Văn kiện Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu
được qua 15 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội
VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn con đường đi lên CNXH ở nước
ta” và “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước VN theo con đường XHCN trên nền tảng
CN Mác-Lênin và tư tưởng HCM”. Sự khẳng định ngày là rất cần thiết, nhất là vào thời điểm hiện
nay, khi đất nước ta cùng nhân loại đang trong thời đại mới, thời đại tiến lên hòa bình, công bằng,
dân chủ, văn minh. Vì thế thế giới có những diễn biến rất nhanh và phức tạp, trong nước cũng đứng
trước nhiều nguy cơ và thách thức mới. Sự nghiệp đổi mới ở nước ta thành công, đã chứng tỏ khả
năng đứng vững trước những biến động chính trị rất lớn của thế giới, chứng tỏ sức sống mãnh liệt
của CNXH. Đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của phong trào cộng sản và
nhân dân thế giới. Mà đồng chí Giôdecadanêva, Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha,
tại diễn đàn Đại hội IX của Đảng ta đã nói: “Những thành tựu trong việc cụ thể hóa một con đường
thích hợp quá độ lên CNXH – không chỉ là tài sản vô giá của những người cộng sản VN, mà còn là
nguồn cảm hứng và tin tưởng đối với những người cộng sản và cách mạng trên toàn thế giới.
Vấn đề 3: Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng
Bài làm
Sự nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới trong đối ngoại nói riêng của Đảng và nhà nước ta
được chính thức đánh dấu từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI (1986) và Nghị quyết 13 của Bộ
Chính trị năm 1988. Trải qua 25 năm đổi mới toàn diện đất nước, đối ngoại Việt Nam đã giành
được những thành tựu quan trọng, thể hiện sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo, kịp thời, phù hợp xu thế
phát triển của thời đại của Đảng và Nhà nước ta. Trong khu vực, Việt Nam chủ động và tích cực
Xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích mới. ASEAN tiếp tục đẩy mạnh liên
kết khu vực, xây dựng cộng đồng, có vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực, song còn nhiều
khó khăn, thách thức.
Thành tựu 25 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn
nhiều so với trước. Nền kinh tế tiếp tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau khi sụt giảm; Tuy nhiên,
nước ta cũng đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến
phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng,
đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là
nghiêm trọng làm sút giảm lòng tin của nhân dân và đảng, nhà nước Các thế lực thù địch vẫn tiếp
tục thực hiện âm mưu “diễn tiến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”,
“nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ có những biểu hiện xa rời
mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp …
+ 5 xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế hiện nay đó là : - VK Đại hội VIII
Hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Đây là xu thế lớn nhất, chủ đạo nhất trong quan hệ quốc tế của nước ta hiện nay, chi phối toàn bộ
các xu thế khác vì: hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc,
nhu cầu cấp bách của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới; Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày
càng nhiều vào quá trình hợp tác liên kết khu vực và quốc tế. Hợp tác, liên kết ngày càng tăng
nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt; Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường,
đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp từ bên ngoài (cả về chính trị, kinh tế), bảo vệ độc lập chủ
quyền và nền văn hóa dân tộc; Các nước XHCN, các ĐCS và công nhân, các lực lượng cách mạng
tiến bộ trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội;
Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa
bình. Đây là xu thế mới, thể hiện rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp không
phân tuyến trong giai đoạn hiện nay.
2. Đường lối, chính sách đối ngoại hiện nay của ĐCS VN
* Việc hình thành đường lối, chính sách đổi mới là một quá trình bắt đầu từ khi Đảng ta ra đời
nhưng rõ nhất là bắt đầu từ ĐH Đảng lần thứ VI năm 1986. Trước tình hình quốc tế và trong nước
có nhiều khó khăn: CNXH hiện thực thế giới đã bộc lộ sự trì trệ cả về kinh tế và chính trị xã hội,
thuộc về kinh tế sẽ dẫn đến lệ thuộc về chính trị; đấu tranh một chiều sẽ dẫn đến mất bạn bè quốc
tế; Tham gia hợp tác khu vực và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới. VN đã và đang
rất coi trọng và không thể thiếu trong hợp tác khu vực, đồng thời chú trọng quan hệ với các nước
lớn trên thế giới; Có thể nói HN TW 3 khóa VII, đường lối đối ngoại của Đảng ta đã ngày càng
được bổ sung, phát triển hoàn thiện hơn, Nghị quyết Hội nghị là văn kiện đánh dấu sự hình thành
đường lối đối ngoại của Đảng ta cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.
3. Đường lối chính sách đối ngoại hiện nay
Từ khi có những thay đổi trong đường lối chính sách đối ngoại, có thể khẳng định đường lối
đối ngoại đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Điều đó đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn:
đất nước ta phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào
đời sống cộng đồng quốc tế; bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc 11/1991 và Mỹ 11/7/1995,
gia nhập khối ASEAN 28/7/1995, khai thông với ĐNA, Tây Âu, Bắc Âu; tiếp tục duy trì quan hệ
với các nước Đông Âu; xác lập mối quan hệ mới với các nước CH của LX cũ và mở rộng qh với
nhiều nước trên thế giới.
* Trên cơ sở những thành tựu của công cuộc đổi mới và những thắng lợi của công tác đối
ngoại, Đại hội VIII của Đảng đã nêu rõ một số nội dung của đường lối chính sách đối ngoại trong
giai đoạn hiện nay:
-Về mục tiêu của công tác đối ngoại đến năm 2020 và 2000: “Mở rộng quan hệ đối ngoại,
chủ động tham gia tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường
quốc tế”.
- Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong thời gian tới là: “Củng cố môi trường hòa bình và
tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển KT - XH, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Góp phần tích cực vào cuộc đấu
tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ XH”.
- Về phương hướng của công tác đối ngoại: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập
tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam
muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát
triển”. Theo hướng đó, công tác đối ngoại có 4 trọng tâm là: Ra sức tăng cường quan hệ với các
nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN. Không ngừng củng cố quan hệ với các nước
bạn bè truyền thống. Coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các tập trung kinh tế chính trị trên
chúng ta có điều kiện học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển, giúp nước ta đi
tắt đón đầu trong quá trình phát triển, tiếp nhận ngay những thành tựu KHKT của các nước tiên
tiến. Việt Nam là một nước nghèo, lại bị hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại nên việc đi tắt đón
đầu có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp chúng ta vượt nhanh để theo kịp quá trình tốc độ phát triển
kinh tế thế giới.
Quán triệt chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng xác định rõ : hội nhập kinh tế quốc tế
là sự nghiệp của toàn dân, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình hợp tác vừa đấu tranh và cạnh
tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức; do đó cần phải linh hoạt, khôn khéo, tỉnh táo
trong xử lý tính 2 mặt của hội nhập, không nên nóng vội. )
* ĐH lần thứ X, đường lối của công tác đối ngoại giai đoạn này là: “Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng
mở đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy
của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu
vực”. Có thể thấy rõ rằng việc thay từ “muốn làm bạn” của Nghị quyết Đại hội VII thành từ “sẳn
sàng là bạn” của Nghị quyết Đại hội IX rồi đến “là bạn” của Nghị quyết Đại hội X đã thể hiện sự
nhận thức sâu sắc hơn của Đảng ta về bối cảnh và thực chất quan hệ quốc tế hiện nay cũng như xác
định rõ hơn thái độ của chúng ta trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta biểu thị thái độ trách
nhiệm cao trong quan hệ với các nước sẳn sàng là đối tác tin cậy của các nước, nghiêm chỉnh thực
hiện mọi luật lệ và cam kết chung khi thiết lập quan hệ đối tác, điều đó cũng có nghĩa là chúng ta
yêu cầu các đối tác phải nghiêm chỉnh thực hiện các hiệp định, cam kết đã thỏa thuận với chúng ta.
Chỉ có như vậy mới quan hệ lâu dài.
Về mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” để tạo điều kiện
phát triển đất nước đi lên trên con đường CNH-HĐH. Thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thỗ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng bằng thương lượng hòa bình.
Việc mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân còn cho phép công dân Việt Nam hợp pháp có quyền đối
ngoại nếu đảm bảo 3 điều kiện : một là đối tác mà ta quan hệ không có những hoạt động chống đối
nhà nước và nhân dân Việt Nam, hai là đối tác được Nhà nước sở tại cho phép và ba là phải
16
vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và và CNXH, có đạo đức trong sáng, tinh
thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp và tinh thần kỷ luật cao. Phải gắn kết hội
nhập kinh tế quốc tế với củng cố an ninh quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng
lộ trình cũng như trong quá trình thực hiện. Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh
tế đối ngoại. Tận dụng thành viên của tổ chức thương mại thế giới trong việc gắn quá trình đàm
phán với quà trình đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở trong nước. Kiện toàn ủy ban quốc gia và
hợp tác kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm quyền, giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo các
hoạt động về hội nhập kinh tế quốc tế.
* ĐH XI vừa được tiến hành vào đầu năm 2011, đã xác định rõ tiếp tục thực hiện tốt chủ
trương: “Mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Thực hiện nhất
quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng
hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc
gia, dân tộc, vì một nước VN XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội trên thế giới. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là: giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Theo đường lối này, VN vẫn tiếp tục mở rộng
quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế thể hiện qua việc: thực
hiện có trách nhiệm các công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là LHQ. Tích cực hợp tác cùng
các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi
truyền thống và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu. ĐH XI của Đảng cũng chỉ rõ: trong đối ngoại
17
chúng ta không còn chỉ “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” mà “chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế”, như vậy chúng ta không chỉ chủ động và tích cực hội nhập trong lĩnh vực kinh
tế mà chủ động và tích cực tham gia ngày càng sâu, rộng vào đời sống mọi mặt của quan hệ quốc tế.
Thực tiến chứng tỏ, Hội nhập không giới hạn trong một lĩnh vực của đời sống quốc tế mà thể hiện ở
mọi mặt trên cả cấp độ khu vực và toàn cầu. Tham gia mọi mặt vào đời sống quan hệ quốc tế có
nghĩa là phải tham gia vào kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội,… Ớ mức trừu tượng hơn, hội nhập
còn mang ý nghĩa là một nước trong mối quan hệ quốc tế của mình dám chịu chơi, chấp nhận cuộc
kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất
cả các nước lớn, các trung tâm kinh tế chính trị lớn trên thế giới. Quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
láng giềng khu vực, các nước bạn bè truyền thống, các nước, các đối tác ở khắp năm châu ngày càng được
củng cố và phát triển. Nước ta tham gia 70 tổ chức quốc tế và khu vực, trong đó có những tổ chức quan
trọng như Liên Hiệp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), Cộng đồng Pháp ngữ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và ngày
càng đóng vai trò tích cực và có trách nhiệm đối với các vấn đề quốc tế khu vực, đóng góp nhiều sáng kiến
tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế… Đảm nhiệm thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng
Bảo an Liên Hiệp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và Chủ tịch của ASEAN năm 2010. Hội nhập kinh tế quốc tế
và các lĩnh vực khác cũng đã tranh thủ nguồn lực bên ngoài rất quan trọng cho công cuộc xây dựng đất
nước, điển hình như: ngoại giao kinh tế được triển khai năng động và hiệu quả, góp phần tranh thủ các
nguồn lực cho đất nước trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục gặp khó khăn, năm 2010 chúng ta vẫn đạt
được các con số về kinh tế đối ngoại đầy ấn tượng như tốc độ tăng trưởng đạt 6,7%, kim ngạch xuất nhập
khẩu trong năm 2010 là 171,38 tỷ USD, cam kết viện trợ ODA cho Việt Nam năm 2011 đạt mức 7,88 tỷ
USD; Ngoại giao văn hóa năm 2010 đã tích cực quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam trong các sự kiện lớn
18
của đất nước…Những thành tựu từ đường lối đối ngoại đúng đắn, cũng đã góp phần củng cố được niềm tin
của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước đi lên CNXH do Đảng ta khởi xướng và tổ chức
thực hiện. Khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, bản lĩnh chính trị vững vàng của ĐCSVN trong
lãnh đạo nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước. Các hoạt động đối ngoại của Đảng, của các đoàn thể và tổ chức nhân dân ta đã góp phần làm cho
dư luận thế giới hiểu đúng về VN, đồng tình và ủng hộ công cuộc đổi mới, tăng cường hậu thuẫn chính trị
quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đường lối chính trị của Đảng ta và
những thành tựu đổi mới của VN được bạn bè QT đánh giá cao. Nhiều ĐCS và công nhân trên TG
cho rằng, đổi mới của VN là sự phát triển sáng tạo và đóng góp về lý luận và thực tiễn xây dựng
CNXH. Bên cạnh đó, việc xác định và thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại của đất nước ta thời
gian qua cũng đã cũng đã đóng góp đáng kể vào quá trình xây dựng luật lệ và các chuẩn mực quốc
tế thông qua việc chúng ta tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc
tế. Qua các hoạt động đối ngoại, VN đã tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác với các đảng
cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả, các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới; góp phần tích
tham gia giải quyết những vấn đề có tính chất toàn cầu, đồng thời phải tiếp tục mở rộng quan hệ với
tất cả các nước, các khu vực và các vùng đất còn lại mà ta chưa quan hệ trên thế giới
Phát huy những thế mạnh và thành quả đã đạt được, khắc phục những điểm yếu còn tồn tại trong
đường lối đối ngoại, chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, với sự hợp
tác chặt chẽ của các Bộ, ban Ngành và Tỉnh thành, với sự tham gia toàn Đảng, toàn dân và toàn
19
quân lại được soi sáng bằng Nghị quyết ĐH IX, trang bị bằng CN Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối đối ngoại của ta đúng đắn của ta sẽ hoàn thành tốt hai nhiệm vụ vừa bảo vệ toàn
vẹn độc lập tự chủ cả về chính trị lẫn kinh tế - văn hóa vừa xây dựng được một đất nước giàu mạnh,
văn minh, dân chủ và công bằng.
20