Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn bắc sông hương tỉnh thừa thiên huế - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Để thực hiện đề án cơ cấu lại hệ thống NHTM QD và hệ thống NHTM CP
theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 2001. Cùng với việc trở thành
thành viên thứ 150 của Việt Nam trong ngôi nhà chung WTO ngày 07/11/2006
đến nay các NHTM Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp để hoàn thành tốt đề
án của Thủ tướng Chính phủ, các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình như: tăng vốn điều lệ, cơ cấu lại nợ, đổi mới công tác quản trị, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư công nghệ….Bên cạnh đó, sự xâm nhập ngày
càng sâu rộng của ngân hàng nước ngòai vào thị trường Việt Nam, cũng như
những cam kết về mở cửa khu vực ngân hàng trong tiến trình hội nhập ngày một
gần kề đã làm làm cho cuộc cạnh tranh giữa các NHTM tại Việt Nam ngày càng
trở nên gây gắt và khóc liệt hơn.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cũng không
nằm ngoài chủ trương và xu thế đó. NHNo&PTNT Việt Nam dù đã có những
lợi thế trong cạnh tranh so với các NHTM khác. Thế nhưng, NHNo&PTNT VN
cũng còn tồn tại không ít những yếu kém, cũng như đang phải đối mặt với những
khó khăn và thách thức phía trước. Để tận dụng tốt những lợi thế của mình trên
cơ sở xác định những điểm yếu, lợi dụng cơ hội mà WTO mang lại để vượt qua
những thách thức. Đây là một vấn đề hấp dẫn lôi cuốn em, mặc dù kiến thức còn
hạn chế nhưng được sự động viên, hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy cô, em
mạnh dạn chọn đề tài: “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại chi nhánh
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Sông Hương tỉnh Thừa
Thiên Huế” để làm đề tài thực tập tốt nghiệp của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
1
Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
của NHTM, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh
giá năng lực cạnh tranh của một NHTM.
Phân tích và đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
của chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Sông Hương từ đó đánh giá năng lực cạnh

ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại chi nhánh
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Sông Hương.
Chương 3: Giải pháp đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong chi nhánh
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Sông Hương.
Và cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy TS Nguyễn Duy Thục và
thầy Đào Quyết Thắng đã hướng dẫn em tận tình trong quá trình làm chuyên đề
này. Xin cảm ơn tấm lòng nhiệt thành của các bác, các cô, các chú cùng các anh
chị trong phòng kinh doanh NHNo & PTNT chi nhánh Bắc Sông Hương đã giúp
em có đầy đủ điều kiện hoàn thành công việc của mình.
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1 Cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Trong Thế kỷ XX, nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại ra đời như lý thuyết
của Micheal Porter, J.B.Barney, P.Krugman…v.v Trong đó, phải kể đến lý
thuyết “lợi thế cạnh tranh” của Micheal Porter, ông giải thích hiện tượng khi
doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thương mại quốc tế cần phải có “lợi thế cạnh
tranh” và “ lợi thế so sánh”. Ông phân tích lợi thế cạnh tranh tức là sức mạnh nội
sinh của doanh nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh là điều kiện tài nguyên
thiên nhiên, sức lao động, môi trường tạo cho doanh nghiệp, quốc gia thuận lợi
trong sản xuất cũng nhưng trong thương mại. Ông cho rằng lợi thế cạnh tranh và
lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, lợi thế cạnh tranh phát
triển dựa trên lợi thế so sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh.
Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh
tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh
là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến
bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết qúy trọng hơn

của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh
tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp
5
luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các
định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng
thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích
hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội.
1.1.2 Năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế
của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi
hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng
thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ
hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng
cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường .
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh
nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh
không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức
quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với
ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng
nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh
doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi
tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ
hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
1.1.2.2 Các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
 Nhân tố bên trong (nội sinh)
6

bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường. Khả năng cạnh
tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào
chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản
phẩm dịch vụ đó.
1.2.1.2 Đặc điểm của đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngân hàng
thương mại
Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và
là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng
là lợi nhuận. Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản
phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá
và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác, độ tin cậy và
sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần để đạt được lợi
nhuận cao nhất cho ngân hàng. Do vậy, cạnh tranh trong NHTM là cũng là sự
tranh đua, giành dựt khách hàng dựa trên tất cả những khả năng mà ngân hàng
có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp những sản phẩm
dịch vụ có chất lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình so với các NHTM
khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo
được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường.
Với những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự đầu tư cạnh tranh trong lĩnh
vực ngân hàng cũng có những đặc thù nhất định:
- Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan trực tiếp đến
tất cả các ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Do đó:
8
NHTM cần có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộng và
liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vị trí địa lý
nào.
NHTM phải xây dựng được uy tín, tạo được sự tin tưởng đối với khách
hàng vì bất kỳ một sự khó khăn nào của NHTM cũng có thể dẫn đến sự suy sụp
của nhiều chủ thể có liên quan.
- Thứ hai, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là dịch

chính gồm: Khối NHTMQD, NHTMCP và NHNNg và NHLD. Việc đánh giá
năng lực cạnh tranh của các khối ngân hàng thể hiện qua các yếu tố sau: Năng
lực của đội ngũ quản lý; Cơ cấu tổ chức và quản trị; Cơ sở hạ tầng và công nghệ
thông tin; Hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ; Các qui trình, chính sách và cơ
cấu quản lý rủi ro; Các qui trình chính sách và cơ cấu hoạt động tín dụng; Các
qui trình, chính sách và cơ cấu hoạt động quản lý tài sản Nợ_Có; Các qui trình,
chính sách quản lý nguồn nhân lực, các tiêu chí trên được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Đánh giá năng lực cạnh tranh của các khối ngân hàng
Các yếu tố NHTMQD NHTMCP
NHNNg
và NHLD
Năng lực quản lý của đội ngũ quản lý 2,1 1,9 1,7
Tổ chức quản trị và cơ cấu tổ chức 2 2,2 1,6
Cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin 2,4 2 1,6
Các quy trình, chính sách và cơ cấu quản
lý rủi ro
2,8 2,1 1,7
Các quy trình, chính sách và cơ cấu hoạt
động tín dụng
2,2 1,9 1,7
10
Các quy trình, chính sách và cơ cấu hoạt
động tín dụng quản lý tài sản NỢ - CÓ
3 2 1,5
Các quy trình, chính sách quản lý nguồn
nhân lực
2,4 1,5 1,2
Hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ 2,6 2,1 1,6
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Trong đó:

06/201
0
Tăng
Agribank 602 802 200 203 203
VCB 1.890 2.090 200 5.500 5.930 430
BIDV 682 815 133 425 780 355
ICB 492 742 250 1.305 1.597 292
EAB 667 794 127 753 822 69
Sacombank 212 350 138 1.773 1.752 -21
ACB 134 174 40 7.050 7.060 10
Techcombank 165 230 65 1.804 1.839 35
VIB 157 225 68
Các NHTM khác 433 555 122 3.190 4.744 1.554
Tổng cộng 5.434 6.777 1.343 22.003 24.727 2.724
(Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 15 tháng 08/2010)
1.2.2.2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Nguồn lực về con người là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới
hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của NHTM. Việc quan tâm đến lao
động trong ngân hàng không chỉ là số lượng mà cả chất lượng của đội ngũ nhân
lực. Đầu tư nâng cao nguồn nhân lực gồm 3 lĩnh vực chính:
- Tuyển dụng
- Đào tạo
- Chính sách đãi ngộ
Công tác tuyển dụng là công việc đầu tiên, nền móng trong quá trình thực
hiện đầu tư nâng cao nguồn nhân lực. Do vậy công tác tuyển dụng luôn được đặc
biệt ưu tiên đầu tư. Bên cạnh việc đăng tải thông tin tuyển dụng rộng rãi trên các
phương tiện báo chí, website, các NHTM còn có sự hợp tác chặt chẽ với các
12
trường Đại học trong nước cũng như Hội sinh viên Việt Nam ở nước ngoài. Sau
khi đầu tư lượng vốn khá lớn vào IT, NHTM cũng cần nhiều chuyên gia giỏi

lược marketing đúng đắn. Do vậy việc đầu tư cho hoạt động marketing là hoạt
động rất cần thiết trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các NHTM. Xác
định được tầm quan trọng của thương hiệu đối với sự tồn tại và phát triển thì
ngân hàng phải giành phần vốn đầu tư cho hoạt động Marketing luôn gia tăng
qua các năm.
Các hoạt động xúc tiến nhằm mục đích quảng bá, nâng cao thương hiệu
của ngân hàng. Các hoạt động xúc tiến bao gồm: quảng cáo, quan hệ công
chúng.
Về lĩnh vực quan hệ công chúng: Là một thương hiệu được nhiều nhà đầu
tư tổ chức và cá nhân biết đến, các NHTM luôn chú trọng đến việc giữ vững và
nâng cao uy tín của thương hiệu tại thị trường trong nước và nước ngoài. Các
ngân hàng này hỗ trợ các sự kiện xã hội và kinh tế lớn mang tính quốc gia và khu
vực, có mặt trong các cuộc tọa đàm tại các diễn đàn kinh tế, tài chính, đóng góp
thiết thực vào các hoạt đông xã hội và khuyến khích tài năng trẻ.
1.2.3 Nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong NHTM
1.2.3.1 Khái niệm vốn đầu tư
Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư. Như
vậy theo quan điểm kinh tế vĩ mô vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung
chính là: Vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; Vốn đầu tư tài sản lưu động và
Vốn đầu tư vào nhà ở.
14
Chỉ tiêu “Vốn đầu tư” với nội dung như trên là rất cần thiết cho việc tính
toán các chỉ tiêu liên quan như: tích luỹ tài sản, vốn hiện có, và dùng trong
phân tích về hiệu quả của đầu tư và các phân tích khác có liên quan đến vốn đầu
tư, đồng thời khái niệm này cũng bảo đảm phạm vi của chỉ tiêu trong so sánh
quốc tế.
1.2.3.2 Nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong NHTM
1.2.3.2.1 Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được
thuộc về sở hữu của ngân hàng. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài

Nếu phát hành cổ phiếu ưu đãi thì không chia sẻ quyền lực và lợi tức là cố
định
Nếu phát hành trái phiếu chuyển đổi thì không mất quyền sở hữu và lợi
nhuận có thể chuyển đổi ra tiền tiết kiệm nhưng trái phiếu vẫn là một khoản nợ
và ngân hàng phải để một khoản quỹ để trả nợ.
Đặc điểm của hình thức huy động này là không thuờng xuyên song giúp
ngân hàng có được lượng vốn sở hữu vào lúc cần thiết.
Các quỹ:
▪ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Là quỹ được dùng với mục đích tăng
cường vốn tự có ban đầu. Lợi nhuận hàng năm bổ sung vào quỹ này cho đến khi
đạt 50% vốn tự có thì sẽ chuyển thành vốn tự có.
▪ Quỹ dự trữ đặc biệt: Là quỹ dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá
trình kinh doanh nhằm bảo toàn vốn.
16
▪ Các quỹ khác: Gồm có lợi nhuận chưa phân phối, quỹ phúc lợi, quỹ
khen thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định.
Các quỹ trên thuộc sở hữu của ngân hàng. Nguồn hình thành là từ thu
nhập của ngân hàng thương mại mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần
có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ xung) do
nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa,
đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
1.2.3.2.2 Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các
tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ
tín dụng, thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh
doanh.
Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn
trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút. Vốn huy
động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.

phần dư thừa nếu đảm bảo được khả năng chi trả.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận giữa khách
hàng và Ngân hàng về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc khách hàng không được
rút tiền trước thời hạn. Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi
thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, Ngân hàng
có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Chính vì vậy các NHTM
luôn tìm cách đa dạng hóa loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với
18
mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các khoản tiền
gửi có kỳ hạn không được dùng để thanh toán, thường có lãi xuất cao và thời hạn
dài hơn.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Là một phần thu nhập của người lao động chưa sử
dụng đến, tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi vào Ngân hàng với mục đích tích lũy tiền
một cách an toàn và hưởng lãi. Tiền gửi tiết kiệm có hai loại: tiết kiệm không kỳ
hạn và tiết kiệm có kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền có thể rút ra bất kỳ lúc
nào nhưng không được dùng các phương tiện thanh toán để chi trả cho khách
hàng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận của
khách hàng và Ngân hàng về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn
tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi của các ngân hàng khác là nguồn tiền của các ngân hàng thường
mài gửi vào nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ hay một số mục đích khác.
Đây là nguồn vốn chính để ngân hàng kinh doanh tiền tệ, nó là một trong
những nguồn vốn ổn định nhất của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên tiền gửi có
kỳ hạn của doanh nghiệp chủ yếu là ngắn hạn vì doanh nghiệp hoạt động có chu
kỳ, khi nào tạm thời thừa vốn thì mới gửi ngân hàng.
1.2.3.2.3 Vốn đi vay
Vốn đi vay: là khoản tiền vay muợn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi
khả năng huy động vốn bị hạn chế. Đây là nguồn chủ yếu để chống rủi ro thanh

tư. Bao gồm nguồn ủy thác, nguồn thanh toán và các nguồn khác.
20
Nguồn ủy thác là nguồn vốn mà ngân hàng có được nhờ thực hiện tốt các dịch
vụ của khách hàng đặc biẹt là dịch vụ cho vay và dịch vụ thanh toán.
- Nguồn vốn này thường có chi phí rất thấp
- Tỷ trọng nguồn vốn này cao hay thấp phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ
và uy tín của khách hàng.
Nguồn trong thanh toán: Nguồn này được hình thành từ các hoạt động
thanh toán không dùng tiền mặt như: Séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để
mở L/C.
Những ngân hàng này là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số
dư từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
Nguồn khác: Là các khoản nợ như thuế chưa nộp, lưong chưa trả…
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM tạo được một khoản
vốn gọi là vốn trong thanh toán, gồm: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài
khoản tiền gửi séc bảo chi… Các khoản tiền mặt tạm thời được trích khỏi tài
khoản này để nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên được gọi là tiền nhàn
rỗi.
Qua nghiệp vụ đại lý, các NHTM thu hút được một lương vốn trong quá
trình thu - chi hộ khách hàng, làm đại lý cho tổ chức tín dụng, nhận và chuyển
vốn cho khách hàng hay một dự án đầu tư…
1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư nâng cao năng lực
cạnh tranh trong ngân hàng thương mại
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả của đầu tư năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng thương mại
1.3.1.1 Chỉ tiêu về năng lực tài chính
Năng lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời
điểm nhất định, thể hiện qua các chỉ tiêu:
21
 Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn:

đề ra của ngân hàng đảm bảo phù hợp với thay đổi của môi trường kinh doanh.
Tóm lại, năng lực kinh doanh là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh toàn bộ
doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng. Cần phải tập trung vào năng lực này từ đó
phát huy thê mạnh của ngân hàng trong mọi lĩnh vực để tạo ra được những kết
quả mong đợi.
1.3.1.3 Chỉ tiêu về năng lực công nghệ
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là
một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi
ngân hàng. Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang
tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy
rút tiền tự động ATM, mà còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ
thống báo cáo rủi ro trong nội bộ ngân hàng. Khả năng nâng cấp và đổi mới
công nghệ của các ngân hàng thương mại cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực
công nghệ của một ngân hàng. Vì thế, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở
số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng mở (khả
năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế.
1.3.1.4 Chỉ tiêu về nguồn nhân lực, quản trị và điều hành
Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung
thể hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ,
động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp Nếu một ngân
hàng có tốc độ lưu chuyển nhân viên cao hay yếu kém trong nghiệp vụ thì ngân
hàng đó sẽ không có khả năng cạnh tranh.
23
Ngân hàng có một Ban giám đốc hay Hội đồng quản trị yếu kém, không
có khả năng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những
thay đổi của thị trường sẽ làm lãng phí các nguồn lực và làm yếu đi năng lực
cạnh tranh của ngân hàng đó.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư năng lực cạnh tranh của NHTM
1.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế tài chính đối với hoạt động đầu tư
phát triển

trên tổng thu nhập = x 100%
tổng thu nhập
Thông qua chỉ tiêu này có thể biết được 1 đồng thu được trong kỳ sẽ tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng
làm ăn càng có hiệu quả, chi phí được đơn vị kiểm soát ở mức hợp lý.
+ Chỉ tiêu phản ánh tình hình tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập trong hiện tại và
tương lai của ngân hàng, là chỉ tiêu quan trọng và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong Tổng tài sản.
Dư nợ cho vay kì này
Tốc độ tăng trưởng TD = - 1 x 100
Dư nợ cho vay kì trước
1.3.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư phát
triển
 Thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng
Nhân viên là đối tượng mà khách hàng gặp và trực tiếp giao dịch. Chính
đội ngũ nhân viên nhiệt tình, chu đáo luôn xem khách hàng là người bạn thân
thiết của mình là một yếu tố góp phần không nhỏ cho thành công của bất kỳ một
25

Trích đoạn Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong chi nhánh 1 Chỉ tiêu định tính Chỉ tiêu định lượng Định hướng chung Vận dụng mô hình SWOT để nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh Giải pháp về đầu tư phát triển sản phẩm dịch vụ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status