ẢNH HỞNG ĐỘMẶN LÊN ĐIỀU HÒAÁP SUẤT THẨM THẤU, TỈLỆSỐNG VÀ ƠNG THỬ NGHIỆM CÁ CHÌNH (Anguilla marmorata)TẠI THÀNH PHỐCÀ MAU - Pdf 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN ẢNH HƯỞNG ĐỘ MẶN LÊN ĐIỀU HÒA ÁP SUẤT THẨM
THẤU, TỈ LỆ SỐNG VÀ ƯƠNG THỬ NGHIỆM CÁ CHÌNH
(Anguilla marmorata) TẠI THÀNH PHỐ CÀ MAU
(Anguilla marmorata) TẠI THÀNH PHỐ CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. TRẦN NGỌC HẢI
Ts. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG 2009
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4
LỜI CẢM ƠN

Luận văn cao học được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của chính bản thân, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong Khoa Thủy sản


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5
Cần Thơ, ngày 21 tháng 10 năm 2009 LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Nguyễn Thị Bích Vân
Là học viên lớp cao học Nuôi trồng Thủy sản khóa 2006 – 2009 Trường Đại học
Cần Thơ.
Thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng độ mặn lên điều hòa áp suất thẩm thấu, tỉ lệ sống
và ương thử nghiệm cá chình (Anguilla marmorata) tại Thành phố Cà Mau”
Tôi xin cam đoan các kết quả số liệu sử dụng trong bản luận văn này là của chính
bản thân tôi thực hiện và chưa được sử dụng trong bất kỳ báo cáo nào. Nếu có gì
sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Vân

yếu bằng cá tạp. Sau thời gian ương trung bình 6,8 tháng, tỷ lệ sống đạt 81,2%,
năng suất 58,9 kg/100m
2
, FCR 6,3. Với chi phí trung bình 16.993,73± 9.385,51
triệu đồng/100m
2
, lợi nhuận đạt được 18,531±14,984 triệu đồng/100m
2
, tỷ suất lợi
nhuận 1,04, nghề ương cá chình cho thấy khá hiệu quả và triển vọng ở Cà Mau.
Ngoài ra, nghiên cứu sự tăng trưởng của cá ương nuôi ở 3 ao có độ mặn khác nhau
ở Cà Mau trong thời gian 3 tháng, kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng của cá có sự
khác nhau, cá ương ở ao có độ mặn gần điểm đẳng áp thì lớn nhanh hơn cá ở ao có
độ mặn thấp.
Kết quả của các nghiên cứu trên sẽ góp phần quan trọng ứng dụng vào thực tế ương
nuôi cá chình giống ở Cà Mau nói riêng và ĐBSCL nói chung. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
7
ABSTRACT

Research on the effects of salinity on osmoregulation and survival rate of
Anguilla marmorata was conducted at the College of Aquaculture and Fisheries
by increasing water salinity from 0‰ to sality level where eels completely died
through different treatments including: Treatment 1 (increasing salinity 2‰/day),
Treatment 2 (increasing salinity slowly 4‰/day), Treatment 3 (increasing salinity

seed rearing and growout in Ca Mau province, particularly and the Mekong Delta,
generally. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
8
MỤC LỤC
TRANG

Tiêu đề trang

Xác nhận của hội đồng
i
Lời cảm ơn
ii
Lời cam kết
iii
Tóm tắt bằng tiếng việt
iv
Tóm tắt bằng tiếng anh
v
Mục lục
vi
Danh sách bảng

8
2.5 Ảnh hưởng của độ mặn đến quá trình điều hòa ASTT
9
2.6 Một số nghiên cứu khác
11
2.7 Tổng quan về tình hình nuôi cá chình
12
2.8 Tình hình ương nuôi cá chình tại tỉnh Cà Mau
12 Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18 3.1 Thời gian & địa điểm 18
3.2 Đối tượng nghiên cứu
18
3.3 Vật liệu thí nghiệm
18
3.4 Các nghiên cứu
18

3.5 Phương pháp thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu
21

3.6 Phương pháp xử lý số liệu
22
10
DANH SÁCH BẢNG TRANG

Bảng 2.1 Yếu tố thủy lý hóa trong phạm vi thích hợp cho cá chình
4
Bảng 2.2 Tỷ lệ thức ăn so với trọng lượng thân cá ở các giai đoạn
6
Bảng 2.3 Sản lượng nuôi cá chình của các nước trên thế giới
15
Bảng 2.4 Tình hình nuôi cá chình ở một số tỉnh nước ta
15
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng cá chình năm 2007 Cà Mau
17
Bảng 4.1 Nhiệt độ, pH trong các bể thí nghiệm
23
Bảng 4.2 Biến đổi ASTT của dịch máu cá chình khi tăng độ mặn
24
Bảng 4.3 Khả năng chịu đựng độ mặn của cá theo 2 cách thuần hóa
29
Bảng 4.4 Nhu cầu giống cá chình đến năm 2010 tại Cà Mau
34
Bảng 4.5 Đặc điểm kỹ thuật ương cá chình
37
Bảng 4.6 Kết quả thu hoạch cá


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
11
DANH SÁCH HÌNH TRANG

Hình 2.1 Vòng đời cá chình Anguilla marmorata
9
Hình 2.2 Sự điều hòa thẩm thấu của cá nước ngọt và cá biển
12
Hình 4.1 Điểm đẳng áp của cá chình theo phương pháp thuần hóa
28
Hình 4.3 Bản đồ tự nhiên tỉnh Cà Mau
33
Hình 4.4 Biểu đồ cơ cấu chi phí mô hình ương cá chình
39
Hình 4.5 Ảnh hưởng mô hình ương lên năng suất & lợi nhuận
40
Hình 4.6 Ảnh hưởng độ sâu ao ương lên năng suất & lợi nhuận
41
Hình 4.7 Ảnh hưởng khối lượng giống lên năng suất & lợi nhuận
42
Hình 4.8 Ảnh hưởng mật độ thả ương lên năng suất & lợi nhuận
43
Hình 4.9 Ảnh hưởng mùa vụ ương lên năng suất & lợi nhuận

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
12
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT NTTS Nuôi trồng Thuỷ sản
GTTB Giá trị trung bình
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
NXB Nhà xuất bản
TTKN Trung tâm Khuyến ngư
CM Cà Mau
ASTT Áp suất thẩm thấu.
NT Nghiệm thức
về xuất khẩu Thủy sản chiếm 9-10% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành (Bộ
Thủy sản, 2004)
Hiện nay, trong ngành NTTS, chúng ta đã tiến hành sản xuất và chọn giống được
rất nhiều loài động vật thuỷ sản, đã đưa vào nuôi trồng phổ biến trên diện rộng và
mang lại rất nhiều hiệu quả về mặt kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có
những giống loài có giá trị kinh tế rất cao nhưng chưa được nuôi trồng rộng rãi do
chúng ta chưa sản xuất được con giống (nguồn con giống chủ yếu được cung cấp
từ tự nhiên). Điển hình cho nhóm đối tượng này là loài cá chình. Những năm gần
đây nghề nuôi cá chình phát triển rất mạnh ở Đồng bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL). Hiện nay cá chình được nuôi phổ biến trong ao đất, nuôi trong lồng bè
nhiều ở các tỉnh như: Phú yên, Khánh hòa, Bạc Liêu, Cà Mau và các tỉnh vùng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
14
nước ngọt An Giang, Đồng Tháp, … Cá chình nước ngọt cũng phát triển rộng
khắp trong vùng, phong trào nuôi cá chình nước mặn và lợ cũng khá sôi động,
nhất là các vùng nước lợ ở các huyện Thới Bình, Đầm Dơi, U Minh (Cà Mau),
Giá Rai, Đông Hải, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu)...
Với lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: Ảnh hưởng độ mặn lên điều hòa áp
suất thẩm thấu, tỉ lệ sống và ương thử nghiệm cá chình (Anguilla marmorata) tại
Thành phố Cà Mau.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung
Xác định ảnh hưởng độ mặn lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống và một số chỉ tiêu
sinh lý của cá chình Anguilla sp giống.Từ đó góp phần bổ sung cơ sở khoa học,
đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp cho qui hoạch và phát triển nghề ương nuôi
cá chình.
Mục tiêu cụ thể
- Phân tích ảnh hưởng độ mặn lên quá trình điều hòa ASTT của cá, từ đó xác
định được điểm đẳng áp và phương pháp thuần thích hợp.
- Đánh giá thực trạng kỹ thuật và kinh tế của mô hình ương cá chình tại Cà

cách giữa khởi điểm vây lưng và khởi điểm vây hậu môn. Vây lưng và hậu môn
dài, phía sau thường gắn với vây đuôi, không có gai cứng. Bong bóng thông với
ruột. Mõm nhọn, chiều dài mõm lớn hơn chiều rộng của đáy miệng. Miệng khá
rộng, rạch miệng kéo dài về phía sau tới qua viền sau của mắt. Răng trên xương
gian hàm và xương lá mía tạo một dải rộng ở phía trước, hẹp dần ở phía sau và
kết thúc bởi đuôi nhọn.Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn liền với nhau
( )
Theo Vũ Trung Tạng và ctv (2005) cá chình là bộ thân dài có đốt sống lên đến
260 đốt. Vẩy tròn nhưng thường không có xương. Xương cánh mắt bướm thành
đôi. Đai vây ngực không có xương, xương sau thái dương không gắn với hộp sọ
mà với xương đốt sống. Ở những dạng cá hiện đại không có vây bụng. Xương
gian hàm gắn với xương mesoetmoid (ở một vài loài lại gắn với xương mũi) và
mang răng như xương hàm.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
16
● Phân bố
Theo Vũ Trung tạng và ctv (2005), ở các sông đầm Việt Nam, nhất là Nam
Trung bộ, giống cá chình có 4 loài: Cá chình Nhật (A. Japonica), chình bông (A.
Marmorata), cá chình nhọn (A. Bengalentis) và cá chình mun (A. Bicolor-
pacifica). Loài chình Nhật chỉ gặp một lần trên sông Hồng tại khu vực Thanh Trì
(Hà Nội) vào năm 1937.
Ở Việt Nam, theo các tài liệu nghiên cứu trước đây, cá chình giống Anguilla có 5
loài là: Cá chình Phi: A. nebulosa McClelland, 1844; cá chình nhật: A. japonica
Temminck and Schlegel, 1846; cá chình hoa: A. marmorata Quoy and Gaimard,
1824; Cá chình Xêlêbet: A. celebensis Kaup, 1856; và cá chình ấn độ: A. bicorlo
picifica Schmidt, 1928 (Nguyễn Hữu Phụng, 2001).
Theo Chu Văn Công (2005) ở Việt Nam cá chình bông phân bố từ Hà Tĩnh vào
phía Nam nhiều nhất là ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Định, với kết quả
điều tra tại Phú Yên cho thấy cá chình bông (Anguilla marmorata) chiếm ưu thế
về khối lượng 94,43% và cá chình mun (A. bicolor) chiếm tỷ lệ rất nhỏ 5,57%.

chậm và có thể gây chết (WBM Oceanics, 1992; Wray, 1995)
Cá chình là loài cá có tính thích ứng rộng với độ mặn, cá có thể sống được ở nước
mặn, nước lợ, nước ngọt. Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày chui rúc
trong hang, dưới đáy ao, nơi có ánh sáng yếu, tối bò ra kiếm mồi di chuyển đi nơi
khác. Da và ruột cá có khả năng hô hấp, dưới 15
o
C chỉ cần giữ cho da cá ẩm ướt
là có thể sống được khá lâu. Trời mưa cá hoạt động rất khoẻ bò trườn khắp ao.
Đây là loài cá có phạm vi thích nhiệt rộng. Nhiệt độ từ 1 - 38
o
C cá đều có thể
sống được, nhưng trên 12
o
C cá mới bắt đầu mồi. Nhiệt độ sinh trưởng là 13 -
30
o
C thích hợp nhất là 25 - 27
o
C. Hàm lượng oxy hoà tan trong nước yêu cầu
phải trên 2 mg/1, 5 mg/l là thích hợp cho sinh trưởng, vượt quá 12 mg/l dễ sinh ra
bệnh bọt khí (). Trong ương nuôi chỉ thay nước khi thật
sự cần thịết. Bởi vì, cá chình rất mẫn cảm với sự thay đổi môi trường. Mỗi lần
thay không vượt quá 20% lượng nước trong ao, vào những ngày nắng nóng, tốt
nhất nên lấy nước vào lúc nữa đêm đến sáng sớm để tránh cho cá bị sốc do môi
trường thay đổi đột ngột dẫn đến cá bỏ ăn, dễ sinh bệnh
().
Nhiệt độ tốt nhất nuôi cá chình châu Mỹ, châu Âu là 23-25
0
C. Nhiệt độ giảm
xuống cá ít ăn và ngừng ăn ở 8-15

0
C
2.2.2 Giá trị pH
Nguồn nước có chất lượng tốt như không có mầm bệnh hay các hoá chất độc và
đảm bảo pH từ 7,0-8,0. Nếu nước có độ pH thấp thì không thể dùng để nuôi cá
chình được. Kết cấu của ao có độ nghiêng sẽ thuận lợi cho việc cấp và thoát nước
(Forteath, 1994; Ussui, 1991). Khi pH tăng độc tính NH
3
sẽ tăng, ngược lại khi
pH giảm làm cho độc tính của H
2
S tăng. Giá trị pH từ 6,5-9 là thích hợp cho các
đối tượng thuỷ sản (
2.2.3 Độ mặn
Atsushi Usui (1991) và Ngô Trọng Lư (1997) cho rằng cá chình là loài có tính
thích ứng rộng với độ mặn. Cá có thể sống được ở nước lợ, ngọt và mặn. Cá
chình là loài rộng muối và chúng có khả năng thích ứng rất tốt với sự thay đổi độ
mặn đột ngột bởi tác dụng của cơ quan điều hòa ASTT (Lin, 1991) được trích dẫn
bởi Chu Văn Công (2005)
2.2.4 Nitrogen
Nitrogen trong nước tồn tại dưới 4 dạng chính: NH
3
, NH
4
+
, NO
2
-
và NO
3

+
quá cao sẽ làm cho thực vật phù du phát triển quá mức sẽ
gây hại cho tôm cá và hàm lượng thích hợp dao động trong khoảng từ 0,2- 2 mg/l.
NO
-
2
cho phép đối với các ao nuôi tôm cá từ 0,01-1,7 mg/l, thích hợp là nhỏ hơn
0,1 mg/l (Boyd, 1982)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
19
Theo kỹ thuật nuôi cá nước ngọt (2004) NO
3
-
trong thủy vực là dạng đạm được
thực vật hấp thu dễ nhất và không độc đối với thủy sinh vật, hàm lượng NO
3
-
thích hợp cho các ao nuôi cá dao động từ 0,1-10mg/l.
2.3 Tính ăn và sinh trưởng
Theo Vũ Trung tạng và ctv (2005) cá chình dinh dưỡng bằng cá, động vật đáy,
hiếm khi ăn plankton. Cá chình có hiệu quả sử dụng thức ăn rất cao, hệ số chuyển
đổi thức ăn công nghiệp của cá có thể đạt 1,5-2,0:1 (kg thức ăn:kg tăng trọng)
(Forteath, 1994; Ussui, 1991). Cá ăn tạp, trong tự nhiên thức ăn của cá là tôm, cá
con, động vật đáy nhỏ và côn trùng thuỷ sinh. Khi còn nhỏ thức ăn chính của cá
là động vật phù du nhóm Cladocera và giun ít tơ. Sau 2 năm nuôi, cá đạt kích cỡ
50 -100g. Nếu thức ăn tốt sau 1 năm nuôi kể từ lúc vớt ngoài tự nhiên có thể đạt
cỡ 4 -6 con/kg. Cá sinh trưởng chậm, nhất là cỡ từ 300g tốc độ sinh trưởng chỉ
bằng 1/10 tốc độ sinh trưởng của giai đoạn cá có trọng lượng 70 -100g. Khi còn
nhỏ tốc độ sinh trưởng của cá trong đàn tương đương nhau, nhưng khi đạt chiều
dài hơn 40cm con đực lớn chậm hơn con cái (). Cá

ven biển ở nước ta cá chình phân bố nhiều từ Quảng Bình vào đến Bình Ðịnh, đặc
biệt là vùng hồ Châu Trúc ở Bình Ðịnh có cá chình phân bố, hằng năm cung cấp
một lượng cá giống quí cho nhân dân trong vùng để nuôi
Cùng từ kết quả được trích dẫn bởi Chu Văn công (2005) Kokhenko (1977) cá
chình Nhật được kích thích đẻ trứng bằng cách sử dụng Hoormon ở nhiệt độ 23
o
C
trong môi trường nước biển (Yamamoto, 1074) nhưng chúng chỉ sống được 6
ngày và Zhong Lin, (1991) Trung Quốc cũng tiến hành thử nghiệm cho đẻ cá
chình vào năm 1973, 1974 và 1975 với lượng cá chình thu được khá lớn trên
100.000 ấu trùng nhưng số ấu trùng này sống sót tối đa được 19 ngày.
Theo và cả cuộc
đời cá chình liên quan mật thiết với dòng nước chảy, cá bố mẹ khi đến tuổi thành
thục xuôi dòng di cư ra biển để đẻ trứng. Cá bột sau khi biến thái thành ấu trùng
hình lá trôi theo dòng hải lưu và thủy triều, sau khi biến thái thành cá bột trắng
mới đi vào nước ngọt, ngược lên thượng lưu, cần một ít nước chảy là vượt qua
đồng ruộng hay bãi cỏ, thậm chí có vách đứng cá bột cũng có thể vượt qua, khi cá
lớn dần thì tập tính trên cũng giảm đi. Trong đời sống cá chình phần lớn thời gian
sống ở nước ngọt, nhưng khi cá bố mẹ ra biển đẻ trứng thì lại thích ứng với nước
biển. Khi độ mặnthay đổi mạnh, cá có khả năng điều tiết áp suất thẩm thấu của cơ
thể.
Tuổi thành thục sinh dục của cá chình từ 10 – 37 năm. Một cá cái có thể đẻ từ 7-
13 triệu trứng. Cá chình là loài cá di cư sinh sản, sau thời gian sinh trưởng và
thành thục, chúng bắt đầu di cư. Quá trình di cư từ sông hồ nước ngọt ra biển,
tuyến sinh dục của cá chình bố mẹ phát triển dần dần trong suốt quá trình di cư.
Mùa vụ sinh sản của cá chình ở khu vực Châu Á bắt đầu vào mùa xuân và kết
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
21
thúc vào giữa hè. Hiện nay, người ta đã phát hiện 2 bãi đẻ của cá chình, một ở
biển Sargasso Sea (giữa Bắc Đại Tây Dương) và một ở phía Tây quần đảo

Với Cl
-
, CO
3
--
,PO
4
---
( chủ yếu NaCl) chiếm đến 86- 95% lượng muối trong máu
Theo
- Áp suất thẩm thấu là áp suất thủy tĩnh được tạo ra bởi 2 môi trường khác nhau
về nồng độ. Vì thế cho nên mới gây ra hiện tượng ưu trương, nhược trương và
đẳng trương
- Dung dịch đẳng trương là dung dịch mà lượng chất hòa tan bên trong tương
đương với các chất tương ứng ở bên ngoài nó
- Ưu trương là môi trường mà nồng độ chất hoà tan lớn hơn so với môi trường nội
bào
- Nhược trương là tính chất của một môi trường mà nồng độ chất tan nhỏ hơn so
với môi trường nội bào
2.5.2 Sơ lược về điều hòa áp suất thẩm thấu
● Thuần hóa
Theo Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền (2000) thuần hóa là một
quá trình liên quan đến những phản ứng về sinh lý và đặc tính của động vật thủy
sản đối với những thay đổi của môi trường. Thuần hóa sẽ giúp động vật thủy sản
thích nghi dần với những thay đổi bên ngoài của môi trường nhất là nhiệt độ và
độ mặn. những thay đổi đột ngột sẽ làm rối loạn quá trình sinh lý bên trong cơ thể
của động vật thủy sản như quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu hay quá trình hấp
thu oxy. Nếu không thích ứng kịp với những thay đổi bất thường sẽ dẫn đến tử
vong hoặc ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng sau này
● Hiện tượng thẩm thấu và áp suất thẩm thấu

4
+
, H
+
, HCO
3
-
và do
đó chúng được bài tiết ra ngoài (Payan và Girard, 1984, được trích bởi Heath,
2000). Đối với cá biển, để đạt đến tỉ lệ bài tiết muối cao, cá phải có nhiều tế bào
chloride hơn so với cá nước ngọt. Đối với cá rộng muối, chúng có thể thay đổi sự
vận chuyển tích cực Na
+
và Cl
-
qua mang, hay thay đổi số lượng và thành phần
của urine trong vòng vài giờ.
Có rất nhiều tác nhân làm thay đổi quy luật thẩm thấu như nhiệt độ, nồng độ
muối, các ô nhiễm vô hữu cơ, thậm chí cả việc bắt cá vì sẽ làm cá tiết urea và
thay đổi hàm lượng hormon trong cơ thể (Heath, 2000).
Theo Vũ Trung Tạng và ctv (2005) muối NaCl được xem là một ngăn cách sinh
học, chia sinh giới thành 2 nhóm riêng biệt: Sinh vật nước ngọt và sinh vật nước
mặn. Muối NaCl còn tham gia vào hoạt động thẩm thấu của thủy sinh vật. Trong
dịch cơ thể (dịch thể xoang, dịch tế bào) của các loài đều có chứa một lượng muối
xác định (ngưỡng muối sinh lý), thường vào khoảng 5 - 8‰. Đối với sinh vật
sống trong nước ngọt với độ muối thấp hơn 0,5‰ thì đây là giới hạn dưới. Do
vậy sống trong bất kỳ môi trường nào, cá cũng như các loài thủy sinh vật phải có
cơ chế điều hòa thẩm thấu theo hướng duy trì sự ổn định ngưỡng muối sinh lý của
cơ thể. Cá có cơ quan điều hòa thẩm thấu riêng gọi là tế bào Key-Wilmer. Những
loài di cư sông biển hay biển sông có khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu 2

2+
và Mg
2+
,những nhóm
cation đặc trưng cho nước ngọt. Do vậy, trong điều chế nước biển nhân tạo, thành
phần các ion càng gần với thành phần ion của nước biển thì đời sống của sinh vật
càng thuận lợi hơn.

Muối Nước Muối Nước

Lấy muối Uống nước
qua thức ăn qua thức ăn Lấy muối Thải nước tiểu Thải muối Nước tiểu mặn
qua mang nhạt qua thận qua mang qua thận
Cá nước ngọt Cá nước mặn
Hình 2.2: Sự điều hòa thẩm thấu của cá nước ngọt và cá biển
Nguồn Vũ Trung Tạng và ctv (2005)
2.6 Một số nghiên cứu khác
Tác giả Huỳnh Minh Sang (2005) khảo sát áp suất thẩm thấu máu, hàm lượng
nước trong cơ và ảnh hưởng của việc đưa ra ngoài không khí đến khả năng điều
hòa áp suất thẩ thấu của tôm gân (Penaeus latisulcatus kishinouye, 1896) được
xác định khi nuôi ở độ mặn 10, 22, 34 và 46‰ sau 60 ngày và khả năng điều hòa
áp suất thẩm thấu của tôm nuôi ở các nồng độ mặn 10, 22, 34 và 46‰. Kết quả
nghiên cứu trên chỉ ra rằng tôm dùng ít năng lượng để điều hòa áp suất thẩm thấu

5- 8‰

5- 8‰

nghĩa so với cá nuôi ở độ mặn 1‰ (8%). ASTT của cá ở các độ mặn cũng lần lượt
là 413, 346 và 270,9 mosmol. Nhìn chung sự khác biệt về khả năng điều hòa
ASTT của cá ở các độ mặn là có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Thí nghiệm đối với nhóm cá hồi Bắc cực Arctic charr (150g) sau khi vận chuyển
một cách đột ngột từ nước ngọt sang nước mặn có độ mặn10‰ và 35‰. Trong
quá trình thí nghiệm nhiệt độ luôn giữ ở mức 8
0
C và theo dõi các yếu tố: Khả
năng bắt mồi, tiêu hoá thức ăn, tăng trưởng và quá trình điều hoà ASTT
của cá. Sau 30 ngày theo dõi, phân tích và phát hiện khả năng bắt mồi của cá
giảm, nồng độ chất điện phân trong huyết tương tăng, độ mặntron cơ thể cá
tăng. Thí nghiệm đã kết luận rằng sự khác biệt về nồng độ chất điện phân
trong huyết tương và nồng độ muối trong cơ thể cá giữa hai nghiệm thức
10‰ và 35‰ là không có ý nghĩa (Arnesen et al., 1993).
Carrón et al (2005) nghiên cứu trên cá Sparus aurata cho thấy sự điều hoà áp
suất thẩm thấu trong huyết tương (nồng độ thẩm thấu, nồng độ ion K
+
, Cl-) ở độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status