Download:::
1Bộ giáo dục v đo tạo Bộ nông nghiệp v pTNT
Trờng đại học lâm nghiệp
------------XW--------------
Nguyễn Thanh Tiến Nghiên cứu đặc điểm tái sinh dới tán
rừng trồng khu vực Hồ Núi Cốc
Tỉnh Thái Nguyên
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
bao gồm nhiều thành phần và các quy luật sắp xếp khác nhau theo không gian và
thời gian. Để duy trì và ổn định đợc hệ sinh thái này đòi hỏi con ngời cần nghiên
cứu, tìm hiểu rất sâu về hệ sinh thái rừng và từ đó có những biện pháp tác động hợp
lý. Tuy nhiên những kho tàng quý báu của hệ sinh thái còn là một bí ẩn nhiều điều
lý thú mà sự hiểu biết của chúng ta còn hạn chế.
ở nớc ta, rừng và đất rừng chiếm 3/4 tổng diện tích lãnh thổ, song thực tế
rừng tự nhiên còn rất ít, chủ yếu là rừng thứ sinh ở những mức độ thoái hoá khác
nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức tác động bất hợp lý của con ngời nh đốt
nơng làm rẫy, khai thác lạm dụng quá mức cho phép hay nói đúng hơn là sự đói
nghèo và thiếu hiểu biết của ngời dân. Theo số liệu thống kê thì độ che phủ năm
1943 là 43%và do bị tàn phá nặng nề vào những năm 1980 đến năm 1990 độ che
Download:::
3
phủ giảm xuống chỉ còn 28,4% và đang có xu hớng tăng vào những năm gần đây.
Ngày nay chỉ còn khoảng hơn 9 triệu ha rừng tự nhiên trong đó rừng giàu chiếm
khoảng 30%, rừng trung bình khoảng 35%, còn lại là rừng phục hồi. Rừng giàu còn
lại chủ yếu ở vùng sâu vùng xa, núi cao có độ dốc lớn nên khả năng khai thác cung
cấp sản phẩm cho xã hội bị hạn chế.[27]. Điều đáng nói là độ che phủ tăng lên nhờ
vào khả năng tái tạo của rừng tự nhiên song phải kể đến là diện tích rừng trồng cũng
tăng khá mạnh nhng tính đa dạng của hệ sinh thái không cao, nói đúng hơn là chất
lợng rừng còn hạn chế, đơn điệu.
Trong những năm gần đây, đợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc việc bảo
vệ và phát triển rừng, diện tích rừng tăng lên đáng kể. Song song với đó là diện tích
rừng trồng tăng lên mạnh mẽ trong đó có cả rừng sản xuất và rừng trồng đặc dụng,
rừng trồng phòng hộ. Để nhằm giảm thiểu các thiên tai, hạn hán, lũ lụt, duy trì sự
cân bằng của hệ sinh thái, rừng trồng phòng hộ ở nớc ta đã và đang đóng một vai
trò quan trọng. Thực tế muốn nâng cao tính phòng hộ của rừng đòi hỏi phải có
những biện pháp lâm sinh tác động hợp lý nhằm tạo ra rừng trồng có cấu trúc gần
giống cấu trúc của rừng tự nhiên. Đây là vấn đề mà các nhà khoa học về lâm nghiệp
rất quan tâm. Rừng trồng khu vực Hồ Núi Cốc có tổng diện tích là 11.494,5 ha,
gần giống với rừng tự nhiên, có tính bền vững của hệ sinh thái đáp ứng mục tiêu
quan trọng của rừng phòng hộ gằn liền mục tiêu du lịch sinh thái, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu đặc điểm tái sinh dới tán rừng trồng khu vực Hồ Núi Cốc
- Tỉnh Thái Nguyên
Download:::
5
Chơng 1
Tổng quan nghiên cứu1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái
rừng. Biểu hiện đặc trng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của
những loài cây gỗ ở các nơi có hoàn cảnh rừng (hoặc mất rừng cha lâu): dới tán
rừng, lỗ trống trong rừng, rừng sau khai thác, trên đất rừng sau làm nơng đốt rẫy...
Vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi. Vì vậy, tái sinh
rừng, hiểu theo nghiã hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ
yếu là tầng cây gỗ. Sự xuất hiện lớp cây con là nhân tố mới làm phong phú thêm số
lợng và thành phần loài trong quần lạc sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật),
đóng góp vào việc hình thành tiểu hoàn cảnh rừng và làm thay đổi cả quá trình trao
đổi vật chất và năng lợng diễn ra trong hệ sinh thái. Do đó, tái sinh rừng có thể
hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thaí rừng. Tái sinh rừng thúc đẩy
việc hình thành cân bằng sinh học trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục và
do đó bảo đảm cho việc sử dụng rừng thờng xuyên.
Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây tái sinh, điều kiện địa lý và
tiểu hoàn cảnh rừng là cơ sở tự nhiên quan trọng có tác dụng quyết định, chi phối sự
hình thành lên những quy luật tái sinh rừng. ở các vùng tự nhiên khác nhau, tái sinh
giữa các sinh vật rừng với môi trờng sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau.
- Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng:
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, hệ
sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất
cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng ngời ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc
sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian. Cấu trúc của lớp thảm thực vật là
kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn
giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh thái
thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh
thái rừng. Thực tế cấu trức rừng nó có tính trật tự và theo quy luật của quần xã.
Download:::
7
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng ma nhiệt đới đã đợc Richards
P.W (1933 - 1934), Baur. G.N. (1962), ODum (1971)... tiến hành. Các nghiên cứu này
thờng nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng
phiến của rừng.
Theo tác giả Baur G.N. (1962) [2] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái
học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng ma nói riêng, trong đó
đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng
cho rừng ma tự nhiên. Từ đó tác giả này đã đa ra những tổng kết hết sức phong phú
về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng
không đều tuổi và các phơng thức xử lý cải thiện rừng ma.
Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot (1965); Plaudy. J đã biểu diễn cấu
trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái
thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến...
Tác giả Odum E.P (1971) [28] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ
sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935. Khái niệm hệ sinh
thái đợc làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh
thái học.
- Về mô tả hình thái cấu trúc rừng:
loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phơng pháp dựa vào hình
thái bên ngoài của thảm thực vật đợc sử dụng nhiều nhất.
Kraft (1884), lần đầu tiên đa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông chia cây rừng
trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trởng, kích thớc và chất lợng
của cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh đợc tình hình phân hoá cây rừng, tiêu
chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhng chỉ phù hợp với rừng thuần loài
đều tuổi.
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề phức
tạp, cho đến nay vẫn cha có tác giả nào đ
a ra đợc phơng án phân cấp cây rừng cho
rừng nhiệt đới tự nhiên mà đợc chấp nhận rộng rãi. Sampion Gripfit (1948), khi nghiên
cứu rừng tự nhiên ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng
thành 5 cấp cũng dựa vào kích thớc và chất lợng cây rừng. Richards (1952) [74] phân
rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa vào chiều cao cây rừng.
Download:::
9
Nh vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thờng đa ra những
nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới
nên cha phản ánh đợc sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới.
- Nghiên cứu định lợng cấu trúc rừng:
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và đợc chuyển dần từ mô tả định
tính sang định lợng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô
hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã đợc
nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả. Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của
rừng đợc các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất. Có thể kể đến một số tác giả tiêu
biểu nh: Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al (1967)... rất nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hớng định lợng và dùng
các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2001) [8].
Rollet. B (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đờng kính bằng các hàm hồi
qui, phân bố đờng kính bằng các dạng phân bố xác suất. Nhiều tác giả còn sử dụng
đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã đợc nhiều nhà
khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard,
1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969).
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong
thực tiễn, ngời ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít đợc
nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng ma thờng chỉ
tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến
đổi. Van steenis (1956) [77] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng ma
nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các
loài cây a sáng.
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới đợc thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách
thức sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng. Từ
đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phơng thức chặt tái sinh. Công
trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961, 1963) [76] với ph
ơng thức rừng
đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954)
với công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phơng
Download:::
11
thức chặt dần tái sinh dới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phơng thức chặt
dần nâng cao vòm lá ở Andamann. Nội dung chi tiết các bớc và hiệu quả của từng
phơng thức đối với tái sinh đã đợc Baur (1964) [2] tổng kết trong tác phẩm: Cơ sở
sinh thái học của kinh doanh rừng ma.
Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.Obrevin (1938) nhận thấy cây
con của các loài cây u thế trong rừng ma là rất hiếm. A.Obrevin đã khái quát hoá các
hiện tợng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh,
nhng phần lý giải các hiện tợng đó còn bị hạn chế. Vì vậy lý luận của ông còn ít sức
thuyết phục, cha giúp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái
sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra.
tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [13].
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái nh nhân tố ánh sáng
(thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm
tơi là những nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến
nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này. Baur G.N. (1962)
[2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hởng đến phát triển của cây con còn đối
với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hởng này thờng không rõ ràng
và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hởng đến sinh trởng của cây tái sinh. ở những quần
thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhng chúng vẫn có ảnh hởng
đến cây tái sinh. Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh
thờng khá lớn. Nhng số lợng loài cây có giá trị kinh tế thờng không nhiều và
đợc chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thờng ít đợc nghiên
cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nơng rẫy.
Độ khép tán của quần thụ ảnh hởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây
con. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ,
V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh
dỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua
lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần
thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002) [54].
Trong nghiên cứu tái sinh rừng ngời ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua
thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh
hởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ. Những quần thụ kín tán, đất khô và
nghèo dinh dỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trởng kém nên ảnh hởng
của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể. Ngợc lại, những lâm phần tha, rừng đã
Download:::
13
qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng
là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973)
(Nguyễn Văn Thêm, 2002) [54] .
Nh vậy, các công trình nghiên cứu đợc đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ
quá trình tái sinh theo chiều hớng có lợi.
1.1.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Những năm gần đây việc đi vào nghiên cứu rừng tự nhiên ở Việt Nam ngày
một nhiều, bởi đằng sau những hệ sinh thái rừng còn rất nhiều điều bí ẩn. Điều đó
đã thu hút rất nhiều các tác giả quan tâm tới.
a . Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt nam cũng đã đợc rất nhiều tác giả đề
cập tới nhằm đa ra giải pháp lâm sinh phù hợp, song tiêu biểu phải kể đến một số
công trình nghiên cứu sau:
Theo kết quả nghiên của tác giả Trần Ngũ Phơng (1970)[29] đã chỉ ra những
đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả
dt tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ năm 1961 đến 1965. Nhân tố
cấu trúc đầu tiên mà tác giả nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật
phát triển của hệ sinh thái rừng đợc phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
Với tác giả Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978)[63] đã đa ra mô hình cấu trúc
tầng nh: Tầng vợt tán (A
1
), tầng u thế sinh thái (A
2
), tầng dới tán (A
3
), tầng cây
bụi (B) và tầng cỏ quyết (C). Ông đã vận dụng và cải tiến bổ sung phơng pháp biểu
đồ, mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó
tầng cây bụi và thảm tơi đợc vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và có ký hiệu thành
phần loài cây của quần thể đối với những đặc trng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ
khí hậu, vị trí địa lý, địa hình. Bên cạnh đó, ông còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân
chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam. Đó là dạng sống u thế của những thực vật
trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng u thế sinh thái, hình thái sinh thái của
nó và trạng mùa của tán lá. Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia
số cây theo cỡ đờng kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây
đứng ở Việt Nam. Tác giả Nguyễn Hải Tuất (1982,1986)[49,50] đã sử dụng hàm
phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng
quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng. Tác giả Trần Văn Con
(1991)[7] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đờng kính cho rừng Khộp
ở Đắk Lắk...v..v...
Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu rừng gần đây thờng thiên về việc
mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật
tác động vào rừng thờng ít đề cập đến yếu tố sinh thái nên cha thực sự áp dụng
vào kinh doanh rừng đáp ứng mục tiêu ổn định lâu dài. Bởi vậy muốn đề xuất đợc
một giải pháp lâm sinh đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách chuyên sâu
Download:::
16
và phải dựa trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học, sản lợng và điều
quan trọng hơn cả phải phân tích đợc các quy luật tự nhiên mà nó tồn tại trong hệ
sinh thái rừng.
b Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Nghiên cứu quy luật phát sinh, tái sinh tự nhiên và diễn thế thứ sinh của các xã
hợp thực vật rừng nhiệt đới Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978)[63] đã nhận định:
Sự phát sinh các loại hình quần thể có thành phần loài cây khác nhau đợc
nghiên cứu đầy đủ trớc kia cho nên lúc đó chúng tôi cho rằng trong thiên nhiên
nhiệt đới không có quần hợp và chỉ có những loài u thế do đó chúng tôi có đề nghị
lấy những kiểu thảm thực vật làm đơn vị cơ bản của thảm thực vật, nh trên đã trình
bầy Trong thiên nhiên nhiệt đới có thể có những dạng quần hợp thực vật ở những
môi trờng khắc nghiệt, còn đại bộ phận là những u hợp thực vật có một u thế
tơng đối của cá thể các loài cây trong tầng u thế sinh thái(hay lập quần) của quần
thể và có lẽ phổ biến hơn là những phức hợp mà độ u thế cha phân hoá rõ rệt.
Nhng vấn đề cần đặt ra để nghiên cứu là tác nhân nào đã tác động trong quá
trình phát sinh những xã hợp thực vật nguyên sinh, và quá trình tái sinh tự nhiên sẽ
diễn ra nh thế nào và chỉ tiêu về chế độ khắc nghiệt của môi trờng có còn là
vùng trung tâm phát sinh hay vùng biên của khu vực là điều rất cần thiết. Về mặt
nguồn gốc và lịch sử phát triển của nó qua các kỷ đại địa chất, tính chất sinh lý, sinh
thái, các tập tính sinh thái đối với nhóm nhân tố khí hậu thuỷ chế nh chịu nóng,
chịu lạnh, a ẩm hay chịu khô, a sáng hay chịu bóng,vv...cần phải đợc tìm hiểu.
Đối với nhóm nhân tố đá mẹ thổ nhỡng thì những tính chịu đựng đất khô hạn, đất
ngập úng, đất cằn cỗi, đất chua hay kiềm, chịu muối độc,vv...Trong từng giai đoạn
của đời sống thực vật, từ khi còn là cây mạ, cây con cho đến lúc trởng thành và
thành thục, chu kỳ phát dục và mùa quả, hạt, hình thức thụ tinh và truyền giống, sự
đấu tranh giữa cá thể trong loài và các loài khác, tuổi thọ và sức đề kháng đối với
côn trùng, nấm bệnh vv..., cũng là những điều nhất thiết phải biết.
Những khái niệm và thuật ngữ nh đai lim, loại hình gụ - huỷnh, kiểu
phụ sến - táu của Trần Ngũ Phơng và các cộng tác viên, suy cho cùng, cũng là để
nói lên những khu vực hiện tại hay quá khứ của các loài kể trên và trong nhiều
trờng hợp thì khớp với giới hạn của đai nhiệt độ trên các vành đai nhiệt độ, cao độ
của miền Bắc Việt Nam (Trần Ngũ Phơng,1970; bớc đầu nghiên cứu rừng miền
Bắc Việt Nam; tập 1; quan điểm và phơng pháp). các dạng rừng khí hậu lấy 1 - 2
loài cây u thế làm đại diện trên một đai khí hậu rộng lớn, trong quan niệm của các
tác giả nói trên có lẽ có cái gì gần giống đỉnh cực một quần thể thực vật ổn định có
Download:::
18
thành phần loài cây không đổi) của phái Clements trong đó hiện nay nói lên một loạt
vấn đề đang tranh luận gay gắt: có một hay nhiều đỉnh cực, trong đỉnh cực chỉ có 1 -
2 loài u thế hay có thể có nhiều loài cùng chiếm u thế, nhất là ở vùng ẩm nhiệt
đới, các đỉnh cực có hồi nguyên đợc không hay là do môi trờng nguyên trạng đã
thoái hoá, nên chỉ phục hồi đợc bán đỉnh cực, tiền đỉnh cực, hậu đỉnh cực hay á
đỉnh cực vv...
Nhóm nhân tố thứ hai có tác dụng khống chế của các xã hợp và phân lập thành
quần hợp, u hợp hay còn là phức hợp, theo quan niệm đã trình bầy ở trên, tuỳ mức độ
u thế của các loài cây trong tầng lập quần (hay tầng u thế sinh thái) là nhóm nhân
tố đá mẹ - thổ nhỡng. Lý tính, hoá tính của đất nói chung và chủ yếu là lợng nớc
đàn vua(Eucalyptus regnans) ở úc, mà có nhiều loài cây có tuổi thọ ngắn hay trung
bình một vài trăm năm, cho đến 1000 năm thậm chí có loài chỉ sống hai, ba chục
năm, cho nên ở một số địa phơng nhất định , chắc chắn có nhiều thế hệ của các loài
cây đã sinh ra lớn lên, chết đi và cá thể các loài cây ấy đã tái sinh nhiều lần ở đấy.
Nếu các loại hình quần hệ nh các kiểu phụ, kiểu trái không có nhiều biến đổi cụ
thể trong hình thái và cấu trúc thì rõ ràng là những biến đổi trong tỷ lệ và thành phần
cá thể các loài cây trong các xã hợp thực vật. Có tình hình nh thế là vì mỗi loài cây
có chu kỳ phát dục riêng biệt, có thời gian ra hoa, kết quả khác nhau, có những tập
tính truyền giống và lan tràn khác nhau. Trong khi ở miền ôn đới, trong các quần
hợp hay các lâm hình, chỉ có một hay vài loài cây u thế, thời kỳ tái sinh tập trung
cả vào mùa quả chín, hạt già thì ở vùng nhiệt đới, cách tái sinh của các xã hợp có
thành phần loài cây phức tạp là cách tái sinh phân tán, liên tục,gần nh quanh năm
trong các tầng lớp của quần thể .
Thái Văn Trừng cũng khẳng định: Một thực tế mà bất kỳ tác giả nào khi đã
nghiên cứu thảm thực vật rừng nhiệt đới, cũng đều nhất trí là tình hình tái sinh rất
tha và yếu dới tán rừng, của những loài cây đang chiếm u thế ở tầng trên. Theo
những số liệu điều tra và thống kê của Aubréville A. ở Côte dIvoire (Bờ Biển Ngà ở
Châu Phi) hay của David T.A.W. và Richards P.W.ở Moraballi (Guyana) về tình
hình đại biểu các cấp thể tích của các loài cây trong các ô tiêu chuẩn thì các loài cây
u thế của các tầng trên có rất ít đại biểu trong các tầng dới tán rừng, thậm chí
nhiều khi không có đại biểu, nh vậy khi thế hệ các loài cây u thế này chết đi, thì
thành phần của các xã hợp có biến đổi không? Một tập hợp khác giữa cá thể các loài
cây u thế có thể thay thế cho xã hợp hiện nay không? Loài cây tái sinh đợc nhiều
Download:::
20
nhất, có phải là loài chiếm u thế hiện nay không? Thế thì điều tra tình hình tái sinh
cây con của các loài mà không nắm quy luật tái sinh của quần thể, không biết tập
tính của từng loài cây đối với ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ dới rừng thì làm sao mà
phán đoán nổi hớng diễn thế của quần thể, thành phần của các xã hợp, u hợp sẽ
phát sinh? Có loài cây hiện nay, cây mạ mọc rất nhiều nhng vì sao lại không thấy
tuỳ thuộc vào tái sinh hiện tại dới tán rừng mà chủ yếu còn do sự phối hợp các điều
kiện và hoàn cảnh thuận lợi cho sự sinh trởng của loài cây chiếm u thế, qua các
giai đoạn của đời sống thực vật, từ khi hạt nảy mầm thành cây mạ cho đến lúc lớn
lên thành cây con, cây nhỡ, đến khi trởng thành và đạt đến tầng thích hợp theo nhu
cầu sinh thái của chúng.
Trớc đây, tác giả đã nhận định rằng cuộc đấu tranh giữa các loài cây hay giữa
các cá thể trong cùng loài, trong những năm cây còn non dới tán rừng thờng lệ
thuộc vào số lợng ánh sáng chiếu xuống đến đất và sự tồn tại của những cây con
thuộc những loài cây u thế của các tầng trên, chỉ lệ thuộc vào bản tính của chúng
đối với ánh sáng. Chỉ những cây mạ, cây con chịu đợc bóng trong thời niên thiếu
thì mới có đủ các cấp tuổi ở các tầng dới tán rừng (Thái Văn Trừng, 1964; phát
sinh quần thể thảm thực vật rừng Việt Nam). Sau thời kỳ thứ nhất, chắc chắn vào
năm đầu hay năm sau, cây mạ từ hạt giống mọc lên thờng bị chết hàng loạt do
thiếu chất dinh dỡng và do thiếu ánh sáng, những cây con và cây nhỡ đợc sống sót
lại phải trải qua một thời kỳ ức chế kéo dài đến mấy năm, thậm chí hàng chục năm
do sự cạnh tranh dành lấy ánh sáng và sau đó, khi có điều kiện thuận lợi mới vơn
lên, với một tốc độ sinh trởng rất nhanh, để chiếm lấy vị trí trong tầng mà chúng sẽ
là thành viên chính thức (Richards P.W; 1952; Rừng ma nhiệt đới).
Nhng cách thức tái sinh liên tục dới tán rừng không phải là cách tái sinh duy
nhất và cách thức đó hình nh chỉ thích hợp với các loài cây chịu bóng. Van Steenis
đã nhận xét là trong rừng ma nhiệt đới, còn có một cách tái sinh nữa cũng rất phổ
biến đó là cách tái sinh từng vệt. Trong rừng nguyên sinh già, nhiều cá thể cây quá
già cỗi tàn rụi và chết đi, đã để lại nhiều lỗ trống lớn trong rừng. Vì cành nhánh
kềnh càng, tán lá xoè rộng, thân cây cao lớn của các loài cây lá rộng vùng nhiệt đới,
nên khi đổ gẫy làm cho các cây nhỡ, cây con, cây lớn xung quanh cùng đổ gẫy theo.
Mặt khác trong những năm gió bão lớn, cây lớn, cây nhỏ cha già cỗi cũng đổ hàng
loạt, chẳng hạn cơn bão năm 1962, cơn bão năm 1968, đã làm đổ gãy ở rừng Cúc
Phơng hàng trăm cây cổ thụ các loài có bạnh cũng nh không có bạnh. Những loài
Download:::
22
mọc sau. Tác giả đã tìm thấy nhiều cây mỡ có đờng kính trên 80 cm và có thể sống
Download:::
23
gần trăm năm cùng với các loài cây định vị mọc sâu trong rừng già. Hiện giờ ở nhiều
tỉnh trên miền Bắc Việt Nam cây mỡ đang đợc trồng thành rừng kín trên đất rừng
đợc chặt trọc. Những rừng mỡ thuần loại đợc tỉa tha dần và dới tán mỡ đã mở,
những loài chiếm u thế trong rừng cũ đã mọc lên nh Lim, Dẻ, Re, Chẹo, Kháo. Cây
mỡ cũng trở thành một loài cây u thế trong xã hợp mới hình thành.
Một số loài cây khác cũng nh mỡ, vừa là cây tiên phong mọc lên đầu tiên
nhng do tuổi thọ dài nên còn tồn tại trong rừng già, cho nên vừa là loại định c. Đó
là cây Chẹo (Engelhardtia Chrisolepis ), cây ràng ràng mít (ormosia balansae), cây
lim xẹt (Peltophorum tonkinensis). Chúng tôi cho rằng những loài cây hiện tồn tại
trong rừng già nguyên sinh hay tái sinh tự nhiên thuộc loài a sáng, thờng chiếm
tầng trên mà hoàn toàn không có cây nhỡ, cây con, cây mạ dới tán rừng, thì thuộc
nhóm cây vừa là tiên phong, vừa là định c này. Nh vậy, trong các loài cây tiên
phong, không phải nh Van Steenis .J nhận xét, chỉ có loài cây tạm thời hay tạm c,
mà rõ ràng có hai loại. Một loài gồm các loài cây tiên phong tạm thời có tuổi thọ
ngắn nên sau khi hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thì sẽ tự tiêu vong dới tán của loài
cây định vị cũ đã tái sinh. Một loài khác gồm những loại cây tiên phong định c vì
a sáng nên cũng mọc lên cùng với những loại cây tiên phong tạm thời, nhng vì có
tuổi thọ dài, cây cao lớn lên tồn tại trong rừng già tái sinh cùng với các loài cây định
vị mọc sau, nhng đặc biệt là chiếm các tầng trên cao và không có cây con tái sinh
tự nhiên ở dới tán rừng kín rậm Cây chò xanh (Terminalia myriocapa), cây Tô hạp
Điện Biên (Antigia takhiajanti) có lẽ thuộc về loại thứ hai này. Riêng cây Sau sau
(Liquidambarformosana), đó là loại tiên phong định c
hay loại tiên phong tạm
thời? ở các vùng cao hơn giới hạn của khu vực phân bố của cây Lim
(erythrophleum fordii), từ 700 m trở xuống chúng ta thấy có những rừng Sau sau già
thuần loại hay hỗn hợp cây Dẻ, Re có thể sống hơn một trăm năm. Theo những tài
liệu cổ thực vật của Colani thì Sau sau có hoá thạch trong hệ thực vật kỷ thứ ba ddào
Qua đây, chúng ta nhận ra một số nhân tố sinh thái trong nhóm khí hậu đã
khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp trong thảm thực
vật rừng, đó là ánh sáng. Trong khi các điều kiện khác của môi trờng nh đất rừng,
độ nhiệt, độ ẩm dới rừng cha thay đổi, thì thành phần của các xã hợp tái sinh
không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách hoàn toàn trong
không gian và thời gian nh Aubréville A. Đã nhận định, mà đã diễn thế ra theo
Download:::
25
những phơng thức tái sinh có tính quy luật nhân quả giữa sinh vật và hoàn cảnh. Do
đó, khi năm vững tính di truyền của các loại thực vật trong thành phần xã hợp, chủ
yếu là đặc tính sinh thái của chúng đối với ánh sáng, tuổi thọ, mùa quả, hạt thì
chúng ta có thể chủ động đợc phần nào trong việc đề xuất các biện pháp lâm sinh
để ổn định các u hợp tự nhiên có lợi nhất cho con ngời, loại thải những xã hợp
trong đó có nhiều loài cây ít công dụng đơn giản hoá những xã hợp quá phức tạp để
tạo dần những u hợp mục đích đáp ứng của nền kinh tế quốc dân.
Nhng khi con ngời tác động vào thảm thực vật thì những quy luật tự nhiên
nói trên sẽ bị xáo trộn nhiều.
Tuy nhiên, có một thực tế nữa trong thiên nhiên nhiệt đới mà những tác giả có
tên tuổi khi nghiên cứu rừng ẩm nhiệt đới đều chú ý là những cây tiên phong tạm
thời hay định c theo cách tái sinh thành vệt để lấp các lỗ trống trong rừng nguyên
sinh tự nhiên không khác với những loài cây thứ sinh mọc laị đầu tiên những khoảng
đất trống, vì rừng đã bị tiêu huỷ hoàn toàn bằng cách chặt trắng hoặc đốt rừng làm
nơng rẫy. Chính vì thế mà trớc đây tác giả đã nhận định là sau khi thảm thực vật
nguyên sinh bị tiêu huỷ, quá trình diễn thế thứ sinh bình thờng đã diễn ra, không
khác gì sự phát triển rộng trên một diện tích lớn phơng thức tái sinh theo vệt trong
những quần thể nguyên sinh:(Thái Văn Trừng, 1964; phát sinh quần thể và phân loại
thảm thực vật rừng Việt Nam).
1.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình