Giáo viên hướng dẫn: TS. Đàm Quang Vinh
Họ và tên: Phạm Thị Thu Quỳnh
Lớp: QTKDQT 50B
Đề tài: Một số giải pháp và định hướng cho Vietrans tham gia vào
chuỗi giá trị logistics toàn cầu
CHƯƠNG I: ĐỊNH HÌNH CHUỖI LOGISTICS TOÀN CẦU
1.1. Khái quát chung về logistics và xu hướng phát triển của
ngành logistics thế giới
1.1.1. Giới thiệu chung về logistics
Bước vào thế kỷ XX, sản xuất vật chất của xã hội đã đạt được năng
suất lao động cao nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến và đặc biệt là những
thành tựu mới trong công nghệ thông tin. Song muốn tối ưu hóa quá trình sản
xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị
trường chỉ còn cách cải tiến và hoàn thiện hệ thống phân phối vật chất
(Phisical Distribution Management) để giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do
tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, ban thành phẩm và thành phẩm trong quá
trình sản xuất, lưu thông. Hệ thống phân phối vật chất này còn gọi là
“logistics”.
Vậy “logistics” là gì? Về mặt lịch sử, thuật ngữ “logistics” lần đầu tiên
được sử dụng trong quân đội và mang ý nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp viện”.
Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng vào nửa thế kỷ 19 dưới thời
Napoleon, ông đã từng định nghĩa: “Logistics là hoạt động để duy trì lực
1
lượng quân đội”. Sau thế chiến thứ hai, Marshall một viên tướng trong quân
đội dưới thời Roosevelt đã được giao trách nhiệm thiết lập kế hoạch Marshall
nhằm tái thiết châu Âu. Trong kế hoạch này, logistics đã tham gia vào lĩnh
vực kinh tế nhằm cung cấp cho châu Âu nguồn nhân lực, vật lực và đặc biệt là
tài lực để khắc phục hậu quả chiến tranh và phát triển đất nước. Từ đó,
logistics bắt đầu tham gia vào hoạt động kinh tế và đã phát triển rất nhanh
chóng. Nếu giữa thế kỷ 20 rất ít doanh nghiệp hiểu được logisitics là gì thì
đến cuối thế kỷ 20, logistics đã được ghi nhận như một chức năng kinh tế chủ
3
Sơ đồ 1.1: Những hoạt động của dịch vụ logistics trong chuỗi cung ứng
Nguồn:
Logisitics liên quan đến tất cả nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào
cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu
4
dùng. Nguồn tài nguyên không chỉ có vật tư, nhân lực mà còn bao gồm cả
dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ…
Logistics tồn tại ở cả hai cấp độ: hoạch định và tổ chức. Ở cấp độ thứ
nhất, vấn đề đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay dịch vụ…
ở đâu? Vào khi nào? Và vận chuyển chúng đi đâu? Do vậy tại đây xuất hiện
vấn đề về vị trí. Cấp độ thứ hai quan tâm tới việc làm thế nào để đưa được
nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền
cung ứng. Từ đây nảy sinh vấn đề vận chuyển và lưu trữ.
Tìm hiểu định nghĩa logistics và các vấn đề liên quan sẽ giúp chúng ta
nghiên cứu về dịch vụ logistics được hiệu quả hơn. Phần tiếp theo sẽ trình bày
quá trình phát triển của logistics và xu hướng sử dụng dịch vụ logistics thuê
ngoài.
1.1.2. Các giai đoạn phát triển của logisitics
Quá trình phát triển của logistics xuất phát từ sự thay đổi
trong sản xuất và buôn bán. Người bán không nhất thiết là
người sản xuất, người mua không nhất là người tiêu dùng
cuối cùng. Quá trình hàng hóa từ tay người sản xuất đến tay
người tiêu dùng có thể qua nhiều trung gian lần lượt đóng vai
trò người bán hay người mua và là một bộ phận của toàn bộ
quá trình lưu thông hàng hóa. Tính chất phong phú của hàng
hóa cùng với sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi phải có
sự quản lý chặt chẽ, điều này đặt ra cho các nhà sản xuất kinh
doanh một yêu cầu mới. Đồng thời để tránh ứ đọng vốn, các
nhà sản xuất kinh doanh luôn tìm cách duy trì một lượng hàng
6
Inbound Logistics chỉ giới hạn trọng quản lý nguyên vật liệu cũng như
quản lý nguồn lực của doanh nghiệp, do đó còn gọi là logistics đầu vào. Một
vài nguyên nhân dẫn đến sự chuyển hướng này là: Giá nhiên liệu tăng khiến
chi phí vận tải tăng. Vì vậy kiểm soát tốt giá chi phí vận tải chính là tăng hiệu
quả sử dụng các phương tiện vận tải, bằng cách kết hợp Inbound và Outbound
Logistics. Bên cạnh đó là sự phát triển của khoa học quản lý đẫn đến sự ra đời
phương pháp lập kế hoạch về nhu cầu nguyên vật liệu, sự phổ biến của hệ
thống Kaban và JIT. Inbound Logistics quản lý các hệ thống này, nhờ đó
giảm chi phí sản xuất kinh doanh cho công ty thông qua giảm chi phí dự trữ
và lưu kho.
Như vậy, đến những năm 80, 90 của thế kỷ XX, việc tiến hành quản lý
kết hợp cả hai hoạt động “Inbound Logistics” và “Outbound Logistics” đem
lại nhiều lợi ích cho các công ty. Tùy vào tính chất ngành công nghiệp và hoạt
động sản xuất của chính công ty mà hoạt động này có thể quan trọng hơn hoạt
động kia hoặc có vai trò như nhau
4. Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng
Cùng với “Inbound Logistics” và “Outbound Logistics”, người ta còn
quan tâm đến “Operation Logistics” – là một bộ phận của hoạt động điều
hành trong công ty liên quan đến việc lập hệ thống theo dõi, kiểm tra sản
phẩm và lập các chứng từ liên quan nhằm làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm.
Sự kết hợp của ba hoạt động này hình thành nên một dây chuyền cung ứng
bao trùm mọi hoạt động từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất và cuối cùng là đến
khách hàng tiêu dùng sản phẩm, mục đích cao nhất là thỏa mãn tối đa nhu cầu
khách hang
Sơ đồ
4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của dịch vụ logistics
7
Song song với quá trình phát triển của logistics là quá trình
phát triển của dịch vụ logistics – hay dịch vụ logistics thuê
phát triển ở giai đoạn cao của các khâu dịch vụ giao nhận kho vận, điều phối
hàng hóa từ khâu tiền sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng qua các
công đoạn: dịch chuyển, lưu kho và phân phát hàng hóa. Trong quá trình lưu
chuyển hàng hóa, đồng thời cũng có sự lưu chuyển của các dòng thông tin của
dịch vụ logistics. Vì vậy, ngày nay nhiều công ty giao nhận kho vận và nhiều
hiệp hội giao nhận kho vận ở các nưóc đã đổi tên thành công ty cung cấp dịch
vụ logistics và Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ logistics. Những năm 90
của thế kỷ XX đã chứng kiến rất nhiều công ty vận tải giao nhận và khai thác
cảng đổi tên thành Công ty kinh doanh logistics hoặc lập thêm công ty về
logisitics. Ví dụ: Hiệp hội Giao nhận Singapore đổi tiên thành Hiệp hội
Logisitics Singapore (SLA). Các hãng vận tải NYK Logisitics, MOL
Logistics, APL Logistics và các cảng ICS Logistics (Hoa Kỳ), cảng Klang
Logistics (Châu Á) cũng đã hình thành và phát triển nhanh chóng.
Ở các nưóc không nói tiếng Anh như Việt Nam thuật ngữ Logistics
được giữ nguyên không dịch ra tiếng Việt để diễn đạt nội dung nghề
nghiệp của thuật ngữ logistics như Luật Thương mại ngày 14/6/2005 quy
định:
“Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ
chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm: nhận hàng, vân chuyển,
lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục Hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn
khách hàng, đóng gói, bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ
khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng
thù lao”. (Điều 233 - mục 4 — Chương VI).
9
Như vậy dịch vụ logistics là những hoạt động giúp cho hoạt động
logistics của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục mà
không nhất thiết phải do chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics hiện nay bao gồm các nhà cung
cấp các dịch vụ phục vụ một hoặc một vài phần trong chuỗi logistics như: các
hãng tham gia hoạt động vận tải (Freight Carries); các công ty vận tải biển,
ứng của khách hàng.
Các công ty Logistics bên thứ tư (4 PL - Fourth Party Logistics):
người tích hợp (intergrator) – người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm
năng và cơ sở vât chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để
thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4 PL chịu trách
nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung
ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải, ... 4 PL hướng đến quản trị
cả quá trình logistics, như nhân hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhâp
khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
Các công ty Logistics bên thứ năm (5 PL – Fifth Party Logistics).
Gần đây cùng với sự phát triển của Thương mại điện tử, ngưòi ta đã nói đến
khái niệm công ty Logistics bên thứ 5 (5 PL). 5 PL phát triển nhằm phục vụ
cho Thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5 PL là các 3 PL và 4 PL
đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng Thương mại điện tử.
Vì vây các doanh nghiệp với vai trò là nhà cung cấp dịch vụ logistics
không bao gồm nhà cung cấp logistics bên thứ nhất vì đó chính là bản thân
doanh nghiệp tự cung ứng mà không thuê bên ngoài.
11
Hoạt động logistics ngày nay rất phát triển và đã trở thành một ngành
công nghiệp lớn. Theo báo cáo của Armstrong & Associates, mặc dù vài năm
qua nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn nhưng dịch vụ 3PL được dự đoán
sẽ tiếp tục phát triển trong ngắn hạn. Nghiên cứu của Armstrong&Associates
về thị trường 3PL cho thấy doanh thu toàn cầu của các 3PL năm 2010 đã đạt
con số 541,6 tỷ USD tăng 6,8% so với năm 2009 mặc dù nền kinh thế giới
vẫn ở giai đoạn bất ổn và biến động liên tục Châu Âu đạt doanh thu cao nhất
thế giới (162,3 tỷ USD) (Xem bảng 1.2) Điều này dễ hiểu vì các công ty 3PL
lớn nhất thế giới đều nằm ở các quốc gia châu Âu. Khu vực châu Á – Thái
Bình Dương được dự đoán sẽ trỗi dậy trong những năm tới vì sự phát triển
của các công ty logistics ở Singapore, Nhật Bản…Nhìn chung, hiệu quả của
việc sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài ngày càng được khẳng định là nhân
và các nhà bán lẻ. Nhà sản xuất cần nguồn cung cấp hoàn toàn đáng tin cậy
còn các nhà bán lẻ cần liên kết linh hoạt với các nhà cung cấp có chi phí thấp.
Tuy nhiên, các nhà cung cấp lại rải rác trên toàn cầu và bị ngăn cách bởi
khoảng cách địa lý. Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ cũng cần các kênh phân phối
nhanh chóng cho mạng lưới ngày càng mở rộng của người tiêu dùng. Đồng
thời sự hình thành và phát triển thịnh vượng của các thị trường mới đang đặt
áp lực lớn hơn vào quản lý chuỗi cũng ứng để tìm được lợi thế cạnh tranh
Sự thành công của chuỗi cung ứng toàn cầu càng ngày càng được
khẳng định bởi vai trò của nhóm 3PL cốt lõi toàn cầu – nơi có thể cung cấp
chuyên môn, độ tin cậy và sự linh hoạt cho các tập đoàn đa quốc gia. Những
công ty 3PL toàn cầu cung cấp giao thông vận tải, hợp nhất, chuyển tiếp, môi
giới hải quan, kho bãi, thực hiện và phân phối hầu như bất cứ hoạt động
logistics liên quan đến thương mại dịch vụ và khách hang quốc tế của họ cần.
Khoảng 100 công ty 3PL hiện nay kiểm soát ước tính khoảng 1/3 của 270 tỷ
USD được chi vào các dịch vụ giá trị gia tăng logistics thuê ngoài toàn cầu
mỗi năm. Trong nhóm 3PLs toàn cầu, nhóm 25 công ty 3PL hàng đầu thu về
một phần ba tất cả các hoạt động 3PLs toàn cầu. Doanh thu hàng năm của
họ vượt quá 80 tỷ USD, và trong năm 2009, các khoản thu này sẽ tăng
trưởng từ 6-8% - gấp đôi so với tỷ lệ GDP thế giới
13
Châu Âu: Không có gì đáng ngạc nhiên khi 7 công ty 3PLs lớn
nhất toàn cầu là các công ty châu Âu, cùng nhau thu được ??? tỷ
USD năm nhiều hơn tất cả các công ty 3PLs còn lại trong Top
25 kết hợp. Thương vụ mua lại Exel của tập đoàn Deutsche Post
với giá 6.6 tỷ USD sẽ làm tăng gấp đôi doanh thu của DHL. Và
quả thực, DHL Supply Chain & Global Forwarding đã vươn lên
vị trí dẫn đầu mới gần 30.5 tỷ USD. Số hai và ba là Thụy Sĩ với
Kuehne & Nagel và Schenker của Đức, doanh thu tương ứng
14
19,4 và 18,9 tỷ USD . Lịch sử đế chế và lịch sử xuất khẩu đã
hướng toàn cầu là gia công nước ngoài, chuỗi cung ứng dài hơn và kiểm soát
thông tin tốt hơn.
Bảng xếp hạng những công ty 3PLs sẽ tập trung hơn trong tương lai
gần. Ba xu hướng quan trọng đang dẫn đến ít hơn và lớn hơn 3PL toàn cầu:
1. Các nhà sản xuất lớn nhất thế giới và các nhà bán lẻ đã quen với khái
niệm hậu cần, và họ thích làm kinh doanh với các công ty lớn hơn, bao gồm
cả các công ty 3PLs của họ.
2. Trong khi ngày càng nhiều hơn các nhà sản xuất, nguồn cung ứng và
các hoạt động chuỗi cun nổi ở Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ Latinh và các thị
trường mới nổi khác, yêu cầu các dịch vụ hậu cần cần không chỉ tồn tại trong
các khu vực này. 1000 công ty toàn cầu hoạt động trong các thị trường này
muốn các nhà cung cấp dịch vụ logistics toàn cầu có thể mở rộng hoạt động ở
bất cứ nơi nào họ cần, chuyển dịch từ vùng này đến vùng khác ngày khi
nguồn sản xuất thay đổi.
3. Để nhanh chóng phát triển năng lực, kích thước và khu vực địa lý,
các công ty 3PLs toàn cầu phải mở rộng bằng cách mua lại.
4.2. Vai trò của logistics
4.2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Thứ nhất, Logistics là một ngành công nghiệp có tỷ suất lợi nhuận
cao, đóng góp nhiều cho ngân sách quốc gia
Từ nhiều thập kỷ qua, Logistics đã trở thành một trong những lĩnh vực
thu được nhiều lợi nhuận, đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế và có một thị
trường toàn cầu rộng lớn ước tính khoảng 550 tỷ USA (năm 2010). Ngành
16
này được đánh giá là ngành có tỷ suất lợi nhuận cao khoảng 20-30% và đóng
góp một phần quan trọng cho GDP, tạo khối lượng việc làm đáng kể đặc biệt
là những quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi, chiến lược. Ngành công nghiệp
Logistics chiếm khoảng 9% GDP của Singapore, 8,3% GDP của Mỹ và 13%
GDP của Ấn Độ.
Bảng Chi phí Logistics toàn cầu và doanh thu từ 3PL
Tỷ lệ đặt hàng được đáp ứng đầy đủ Thay đổi từ 73%
Thay đổi đến 81%
Tỷ lệ đơn đặt hàng chính xác Thay đổi từ 83%
Thay đổi đến 89%
còn được xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập
đoàn đa quốc gia. Quốc gia nào có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo, hệ thống
cảng biển tốt… sẽ thu hút đầu tư từ các công ty hay tập đoàn lớn trên thế giới.
Sự phát triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông hay gần đây là Trung Quốc
là một minh chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng
trưởng xuất khẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch
vụ logisitics.
4.2.2. Đối với các doanh nghiệp
Nếu Marketing là vũ khí chiến lược trong cạnh tranh vào
những năm của thế kỷ 20 thì trong thế kỷ 21 vai trò này đã
nhưòng lại cho hoạt động logistics. Do vây, dịch vụ logistics
hoàn hảo sẽ là vũ khí quan trọng trong thòi đại ngày nay.
Thứ nhất, Logistics góp phần làm giảm chi phí lưu thông, chi
phí sản xuất và chi phí cơ hội
• Chi phí lưu thông: Dịch vụ logistics không chú trọng tiết kiệm chi
phí cho một khâu nhất định mà là chú trọng vào tính hiệu quả trong cả quá
trình, nghĩa là cung cấp dịch vụ với tổng chi phí nhỏ nhất.
Với chi phí vân chuyển:
Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tự khai thác phương tiện vân tải
của chính mình thường không đạt hiệu quả do lượng hàng không cho phép
khai thác tốt nhất phương tiện trong tất cả các ngày làm việc hoặc xe chỉ chở
một chiều. Trong khi đó thông qua doanh nghiệp dịch vụ logistics xe sẽ chạy
hai chiều đi và về đều có hàng, container sẽ đầy hơn do việc ghép chung hàng
của các đơn vị thuê ngoài dịch vụ khác nhau.
Ngoài ra, dựa vào phương thức vận chuyển đa phương thức người cung
cấp dịch vụ logistics giúp người gửi hàng giảm chi phí bằng cách kết hợp các
xuất. Thay vì sản xuất tại một địa điểm từ công đoạn đầu đến cuối thì nhà sản
xuất có thể phân bổ một số công đoạn như lắp ráp, gia công nhằm tận dụng
nguồn nhân lực rẻ hay nguồn nguyên liệu dồi dào.
• Chi phí cơ hội:
Thay vì các doanh nghiệp đầu tư dàn trải vào những lĩnh vực mình
không có lợi thế cạnh tranh mà chiếm nhiều vốn như nhà kho, đội vân tải, họ
có thể tâp trung vào việc tạo ra sản phẩm độc đáo để tăng sức cạnh tranh.
Chi phí cơ hội còn thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp có thể giao hàng
đúng lúc không gây ứ đọng vốn do sản xuất theo đúng nhu cầu, tránh được
chi phí lưu kho và tổn đọng hàng hóa.
Thứ hai, Logistics tạo thêm giá trị gia tăng và cung cấp dịch vụ khách
hàng
Ngày nay ngưòi mua hàng không chỉ mua một sản phẩm vì công dụng
của nó mà còn mua cả dịch vụ kèm theo sản phẩm đó.
Với những dịch vụ giá trị gia tăng của logistics như dán nhãn, đóng
gói, lắp ráp, dịch vụ khách hàng... đã tạo thêm giá trị gia tăng cho hàng hóa
giúp cho doanh thu của nhà sản xuất được tăng lên. Hơn nữa các dịch vụ như
gom và phân hàng lẻ, xé lẻ các lô hàng lớn , chuẩn bị các lô hàng hỗn hợp.
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng và
giảm được chi phí phát sinh.
Thứ ba, Logistics là công cự marketing hiệu quả giúp các doanh
nghiệp sản xuất thâm nhập thị trường
22
Không gì thuân lợi hơn cho các nhà xuất khẩu khi có một căn cứ phân
phối hàng ngay tại khu vực tiêu thụ. Tại đây, hàng hóa sẽ được phân phối
theo yêu cầu của khách hàng theo đúng chất lượng và số lượng, việc in ấn
nhãn hiệu theo tiếng bản xứ, thâm chí có thể mua thêm nguyên liệu tại chỗ để
gia công thêm cho hàng nhâp khẩu mà không bị đánh thuế sẽ giảm chi phí rất
lớn cho nhà nhâp khẩu và tạo thuân lợi rất lớn trong việc cung cấp cho khách
hàng các dịch vụ đa dạng khác nhau.
bãi
Quản lý hàng tồn kho (dự
trữ)
- Mua hàng
- Hàng dự trữ
- Hỗ trợ dịch vụ/phụ kiện
- Xử lý hàng bị trả lại
Thông tin và liên lạc - Xử lý vật liệu phế thải
- Dịch chuyển nguyên vật liệu
- Xử lý đơn hàng
- Dự đoán nhu cầu
- Thông tin liên lạc
Nguồn: Sổ tay kinh doanh Logistics, Cục Quản lý cạnh tranh và Tổng
cục Hàng Hải Việt Nam
5. Hoạt động vận tải
Vận tải là một trong những hoạt động cơ bản nhất của logistics tạo ra
sự dịch chuyển dòng nguyên vật liệu và hàng hóa từ điểm ban đầu đến điếm
tiêu thụ cuối cùng. Lựa chọn phương thức vận chuyển, lựa chọn người vận
chuyển, hành trình và lịch trình vận chuyển là những vấn đề cần giải quyết
trong hoạt động vận tải.
24
Lựa chọn phương thức vận tải
Hàng hóa có thể được vận chuyển bằng một phương thức vận chuyển
đơn lẻ hoặc thông qua việc kết hợp các phương thức vận chuyển giữa đường
bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy và đường hàng không (đường ống chỉ
dùng để vận chuyển một số loại hàng hóa nhất định). Mỗi phương thức có
những ưu, nhược điểm riêng cũng như mức độ phù hợp nhất định mà doanh
nghiệp cần xem xét trước khi lựa chọn. Trong đó cần chú trọng đến ba yếu tố
là cước vận chuyển, thời gian vận chuyển và độ linh hoạt.
Dưới đây là những đặc điểm chính của các phương thức vận chuyển cơ