TÌM HIỂU TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC THÚ ý TẠI TRANG TRẠI GÀ CỦA CÔNG TY RTD ở đồi MÉ – THANH vân – TAM DƯƠNG – VĨNH PHÚC - Pdf 25

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA THÚ Y
= = = =¶¶¶ = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC
THÚ Ý TẠI TRANG TRẠI GÀ CỦA CÔNG TY RTD Ở
ĐỒI MÉ – THANH VÂN – TAM DƯƠNG – VĨNH PHÚC
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG
Lớp : TYD – K55
HÀ NỘI – 2014
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA THÚ Y
= = = =¶¶¶ = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC
THÚ Ý TẠI TRANG TRẠI GÀ CỦA CÔNG TY RTD Ở
ĐỒI MÉ – THANH VÂN – TAM DƯƠNG – VĨNH PHÚC
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG
Lớp : TYD – K55
Giáo viên hướng dẫn : TS. LÊ VĂN PHAN
Bộ môn : Vi sinh vật – Truyền nhiễm
HÀ NỘI – 2014
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học Viện, Ban chủ
nhiệm khoa Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Học Viện Nông Nghiệp
Việt Nam.
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Lê Văn Phan, giảng viên Bộ

source not found
Bảng 4.6: Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà tại trại Error: Reference source
not found
Bảng 4.7: Quy trình vệ sinh tại trại 43
Bảng 4.8: Lịch tiêm vacxin cho đàn gà bố mẹ. Error: Reference source not found
Bảng 4.9: Quy trình sử dụng thuốc phòng bệnh Error: Reference source not
found
Bảng 4.10: Tình hình dịch bệnh qua 3 năm gần đây Error: Reference source not
found
Bảng 4.11: Tình hình dịch bệnh trong thời gian thực tập Error: Reference source
not found
iii
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Đàn gà Sasso nuôi tại trại Error: Reference source not found
Hình 4.2: Đàn gà Ri nuôi tại trại Error: Reference source not found
Hình 4.3: Đàn gà Isa Brown nuôi tại trại Error: Reference source not found
Hình 4.4: Gà Hyline Brown nuôi tại trại Error: Reference source not found
Hình 4.5: Chuẩn bị quây bạt, quây úm 40
Hình 4.6. Giai đoạn gà con Error: Reference source not found
Hình 4.7: Gà giai đoạn hậu bị Error: Reference source not found
Hình 4.8: Gà giai đoạn đẻ trứng Error: Reference source not found
Hình 4.9: Biểu đồ tình hình dịch bệnh trong thời gian thực tập Error: Reference
source not found
iv
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
RTD Rural technology development

bệnh, quy luật phát triển và biến động của bệnh… là việc làm cần thiết để
tạo cơ sở xây dựng biện pháp chăn nuôi và phòng bệnh phù hợp, mang lại
hiệu quả kinh tế thúc đẩy chăn nuôi phát triển.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm
hiểu tình hình chăn nuôi và công tác thú y tại trang trại gà của công ty
RTD ở đồi Mé – Thanh Vân – Tam Dương – Vĩnh Phúc”.
1
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
I.2. Mục đích của đề tài:
• Tìm hiểu tình hình chăn nuôi tại trại gà.
• Tìm hiểu công tác thú y tại trang trại
• Tìm hiểu tình hình dịch bệnh tại trại gà, có các biện pháp phòng và
điều trị thích hợp.
2
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp trên gà.
2.1.1. Bệnh Newcastle
2.1.1.1. Tình hình nghiên cứu chung về bệnh Newcastle trong và ngoài nước
Bệnh Newcastle (Newcastle disease – ND) hay còn gọi là bệnh gà rù là một
bệnh truyền nhiễm cấp tính của loài gà, có triệu chứng và bệnh tích giống với bệnh
cúm gà. Đăc trưng của bệnh là viêm, xuất huyết và loét niêm mạc đường tiêu hóa.
Vụ dịch Newcastle đầu tiên xảy ra năm 1926 ở Indonexia và ở Anh tuy
nhiên cũng có nhiều báo cáo cho thấy một bệnh tương tự xảy ra ở vùng Trung
Âu từ trước năm 1926.
Năm 1927, Dolye đã phân lập mầm bệnh trong ổ dịch của gà tại Newcastle
(Anh) và chứng minh virus phân lập có tính kháng nguyên khác với virus gây

b. Triệu chứng lâm sàng
Thời kì ủ bệnh: 2 – 15 ngày, trung bình 5 – 6 ngày, thời gian nung bệnh dài
hay ngắn phụ thuộc vào chủng virus, lứa tuổi và sức đề kháng của gà. Ngoài ra
còn chịu tác động của nhiều yếu tố: đường gây nhiễm, liều gây nhiễm, lứa tuổi
mắc, trạng thái miễn dịch của cơ thể, các yếu tố gây stress tới môi trường…
Bệnh thường diễn theo 3 thể: quá cấp tính, cấp tính và mạn tính
Thể quá cấp tính: do chủng độc lực rất cao gây nên. Thường thì xuất hiện ở
đầu ổ dịch, bệnh tiến triển rất nhanh, con vật ủ rũ cao độ sau vài giờ thì chết mà
chưa có triệu chứng lâm sàng rõ rệt.
Thể quá cấp tính: đây là thể phổ biến. Diễn ra qua các giai đoạn:
Giai đoạn xâm lấn: gà ủ rũ, bỏ ăn hoặc ít ăn, thích uống nước, xã cánh
đứng rù, tím da xuất huyết hay thùy thũng mào và tích gà.
Giai đoạn phát triển: có nhiều dịch nhờn chảy ra từ mũi và mỏ, gà thở khò
khè, thở khó và càng nặng hơn kho tích tụ dịch viêm trên đường hô hấp – gà khịt
mũi. Tiêu chảy phân lẫn máu, màu phân trắng xám có mùi tanh, co giật, liệt nhẹ
4
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
cổ, cánh hay ngón chân. Đối với gà đẻ thì giảm đẻ, trứng nhỏ, vỏ mỏng, màu
trắng nhợt. Gà ỉa chảy phân loãng màu trắng.
Giai đoạn cuối cùng: gà chết trong vài ngày hoặc phát triển dần hướng đến
khỏi bệnh sau một thời kì hồi phục để lại triệu chứng thần kinh (vẹo cổ, liệt,
biểu hiện tư thế opisthomotonus…) và sự bất thường về đẻ trứng.
Thể bệnh này, gà thường chết sau vài ba ngày do bại huyết. Với những đàn
gà mẫn cảm, tỉ lệ chết có thể lên đến 100%.
Thể mạn tính: thường ở giai đoạn cuối của ổ dịch, gà thường xuất hiện triệu
chứng: thần kinh, gầy khô, gà ngoẻo đầu, liệt chân, mỏ giục xuống, mất thăng
bằng, có khi quay vòng tròn. Gà lành được miễn dịch bệnh suốt đời.
c. Bệnh tích.
Thể quá cấp tính: bệnh tích thường không rõ ràng, đôi khi chỉ thấy những

có nhiều ổ hoại tử màu trắng
- Bệnh tụ huyết trùng: trên bề mặt gan có các điểm hoại tử to bằng đầu đinh
ghim hoặc mũi kim, màu trắng xám hoặc màu vàng nhạt. Kiểm tra vi khuẩn học có
thể dễ dàng xác định sự có mặt của vi khuẩn Pasteurella trong bệnh phẩm.
- Bệnh cúm gà: sử dụng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI) để
chẩn đoán phân biệt.
2.1.1.4. Phòng và trị bệnh
a. Vệ sinh phòng bệnh.
Khi chưa có dịch xảy ra: hạn chế người qua lại ở những khu chăn nuôi lớn,
tập trung. Người ra vào, công nhân chăn nuôi phải sát trùng kĩ tay chân, quần
áo. Công tác kiểm dịch vận chuyển gà và trứng cần phải được thực hiện nghiêm
ngặt. Không lấy trứng từ nhữn nơi nghi có bệnh, lấy trứng từ những nơi có
nguồn gốc rõ ràng, gà nhập về phải nuôi cách li ít nhất 10 ngày để theo dõi.
Khi dịch đã xảy ra: một số trường hợp gà mắc bệnh, để dập tắt dịch nhanh
tốt nhất nên tiêu diệt toàn bộ số gà bị bệnh và nghi nhiễm bệnh. Tiêm phòng
vacxin, cách li số còn lại. Tổng tấy uế tiêu độc chuồng trại, gia cầm chết phải
được chôn sâu, lấp kĩ, không mang gà bệnh và sản phẩm của chúng ra khỏi vùng
đang có dịch.
b. Phòng bênh bằng vacxin
Một vacxin lý tưởng là vacxin có khả năng kháng sinh miễn dịch chống lại
sự nhân lên của virus. Tuy nhiên vacxin Newcastle chỉ giúp bảo vệ đàn gà không
phải chịu những hậu quả nặng nề do bệnh gây ra mà không có khả năng ngăn
6
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
cản sự nhân lên và bài thải virus. Trên thế giới, một số nước như Thụy Điển, Hà
Lan không cho phép sử dụng vacxin phòng bệnh cho đàn gà. Một số nước Châu
Âu chỉ cho phép sử dụng một số loại vacxin sống, giống vacxin phải đảm bảo
tiêu chuẩn đề ra như chỉ số ICPI <0,4 (đối với vacxin nhược độc) và ICPI <0,7
( đối với vacxin vô hoạt)

hủy hoại tế bào lympo B và đại thực bào, làm suy giảm miễn dịch ở gà.
2.1.2.1. Tình hình nghiên cứu chung về bệnh Gumboro trong và ngoài nước.
Bệnh Gumboro được phát hiện đầu tiên ở Mỹ năm 1957 tại vùng Gumboro
(bang Delaware) nhưng đến năm 1962 mới được Cosgrove mô tả cặn kẽ và được
công bố là bệnh viêm cầu thận gia cầm (Avian Nephrosis) do có sự hủy hoại ở
vỏ thận. Năm 1970, Winterfield đã phân lập được thành công mầm bệnh trên
phôi gà, Hincher cũng đã xác nhận kết quả trên và ông đề nghị lấy tên là “Bệnh
viêm túi Fabriciuos truyền nhiễm”, Infectious Bursal Disease – IBD, hay còn gọi
là Gumboro. Từ đó bệnh được phát hiện và ghi nhận ở khắp nơi trên thế giới:
Anh (1962); Ý (1965); Canada (1970)…
Tại Việt Nam, bệnh xuất hiện từ trước những năm 1980 và đã gây nhiều tổn
thất lớn. Năm 1981, bệnh xảy ra ở trại gà tổng cục hậu cần quân khu 5 – Đà
Nẵng làm chết 27% số gà trong đàn. Năm 1986, bệnh xảy ra ồ ạt tại các trại gà
chăn nuôi công nghiệp. Năm 1987, bệnh lại xảy ra ở xí nghiệp gà Phúc Thịnh
và xí nghiệp gà Cầu Diễn. Nhiều trại gà đã phải thanh lí hoàn toàn. (Nguyễn
Đăng Khải, 1988) [17].
Kể từ sau khi côn bố có dịch bệnh Gumboro ở Việt Nam, đã có rất nhiều
hướng nghiên cứu về dịch tễ bệnh, bệnh lí, chẩn đoán, sản xuất và ứng dụng
vacxin.
Khảo sát về dịch tễ của bệnh (Nguyễn Tiến Dũng, 1996) [22]; (Lê Văn
Năm, 1997) [12]; phân lập và giám định virus cường độc Gumboro biến đổi
bệnh lí ở các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch ở gà bệnh (Nguyễn Văn Cảm,
1999) [23]; xác định hàm lượng kháng thể Gumboro bằng phản ứng trung hóa
virus (Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự, 1993) [21]; giám định phân tử và phân
nhóm phả hệ virus gây bệnh ( Lê Thanh Hòa, 2002) [12].
8
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
Những nghiên cứu trên đều nhằm mục đích tiến tới khống chế bệnh
Gumboro một cách hiệu quả để ngành chăn nuôi giảm được thiệt hại đáng kể về

2.1.1.6. Bệnh tích
Túi Fabricius là cơ quan đầu tiên khi virus xâm nhập nên hiểu hiện sớm
nhất và đặc trưng nhất của bệnh Gumboro. Sau khi nhiễm khoảng 2 – 3 ngày túi
Fabricius sưng to gấp 2 – 3 lần bình thường, thùy thũng, xuất huyết, các túi nang lồi
ra có màu trắng ngà hay màu kem. Ngày thứ 4, kích thước túi Fabricius tăng lên
gấp đôi sau đó nhỏ lại. Ngày thứ 5, hiện tượng xuất huyết thẩm dịch mất đi, khối
lượng túi Fabricius bằng khối lượng lúc ban đầu. Ngày thứ 8 trở đi thì túi Fabricius
bị teo hoàn toàn. Lúc này trọng lượng của túi chỉ bằng 1/2- 1/3 ban đầu.
Bệnh tích đặc trưng khác của bệnh đó là cơ ngực và cơ đùi thường bị xuất
huyết từng mảng hoặc các chấm, tùy theo mức độ nặng nhẹ mà có màu đỏ hay
màu tím. Đôi khí xuất huyết dạ dày tuyến và dạ dày cơ nên có thể nhầm với
bệnh Newcaslte. Ở thận có hiện tượng nhạt màu, sưng ống thận có lắng đọng
muối urat màu trắng, tuy nhiên phát hiện ở thận rất thấp (5%), tuyến ức có thể
xuất huyết điểm hay mảng.
10
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
2.1.1.7. Chẩn đoán.
Chẩn đoán với một số bệnh dễ nhầm lẫn khác
Bệnh Newcastle: bệnh xảy ra ở gà mọi lứa tuổi, có biểu hiện bệnh lí ở
đường hô hấp, có triệu chứng thần kinh và không có bệnh tích ở túi Fabricius
Bệnh Mareck: bệnh xảy ra ở gà mọi lứa tuổi, có trường hợp túi Fabricius bị
sưng nhưng đồng thời có các khối u ở gan, lách, phổi và dây thần kinh đùi.
Bệnh viêm thận: bệnh tích ở thận gần giống như bệnh Gumboro, nhưng túi
Fabricius còn nguyên vẹn không bị phá hủy
Bệnh do ngộ độc Aflatoxin: túi Fabricius teo có kèm theo mạch máu bị
căng rõ, màu nâu tím và không có hiện tượng xuất huyết ở cơ đùi, cơ ngực.
2.1.1.8. Phòng và trị bệnh
a. Phòng bệnh
Thực hiện đầy đủ các quy trình vệ sinh nơi sản xuất, sau mỗi lần nuôi gà

triển.
2.1.3.2. Dịch tễ bệnh
• Loài vật : trong thiên nhiên gà tây, gà sao, bồ câu, vịt là động vật dễ mắc
bệnh, ngỗng ít cảm thụ
• Lứa tuổi mắc: bệnh phát ra chủ yếu ở gà con và nặng nhất vào giai đoạn
từ 3 tuần tuổi đến 3 tháng tuổi, gà lớn hơn cũng mắc bệnh nhất là đàn gà bắt đầu
đẻ trứng.
Gà nuôi theo phương thức công nghiệp có tỉ lệ mắc cao hơn gà nuôi theo
phương thức chăn thả tự do, do kiểu tiểu khí hậu chuồng nuôi kém và mật độ gà
cao…
Gà nội nhập dễ bị mắc bệnh hơn gà địa phương, giống gà có trọng lượng
tốt và tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh thì tỉ lệ nhiễm càng cao hơn các giống
gà khác.
• Mùa mắc bệnh: bệnh này xảy ra quanh năm, nhưng tập trung nhiều ở
những tháng mùa mưa như tháng 3 – 4, bệnh có chiều hướng giảm dần vào
tháng 5 – 6 – 7 và xảy ra bệnh vào tháng có thời tiết lạnh 9 – 10 -11 ( Đào Trọng
Đạt, 1975 và Nguyễn Vĩnh Phước, 1985)
2.1.3.3. Cơ chế sinh bệnh
12
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
Mầm bệnh ở gà có ở nước mắt, nước mũi, miệng, phế quản, túi khí nên khi
gà thở, hắt hơi mầm bệnh bắn vào không khí, vào thức ăn, dụng cụ chăn nuôi…
gà lành hít phải, ăn phải sẽ bị mắc bệnh. Ngoài ra, bệnh có thể truyền từ gà mẹ
sang gà con qua trứng.
2.1.3.4. Triệu chứng
Tùy thuộc vào chủng loại Mycoplasma nên bệnh lí và triệu chứng lâm sàng
khác nhau, và còn do yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng của gà, thường nung
bênh sau 5 - 21 ngày.
a. Triệu chứng ở gà con

lại hình thành các nốt u. Thành túi khí dày lên và bị viêm, mặt phổi phủ fibrin.
Quan sát ở những trường hợp bệnh nặng còn thấy hiện tượng viêm ngoại
tâm mạc, mặt ngoài của gan có viêm tơ huyết và viêm mủ phúc mạc
2.1.3.6. Chẩn đoán
Phân biệt với 1 số bệnh hô hấp khác
- Viêm phế quản truyền nhiễm (IB): 20 - 30 ngày tuổi hoặc lúc gà đẻ cao nhất
nghe tiếng kêu khàn + tiếng rít rất mạnh ( huýt sáo) trên toàn đàn rồi tự khỏi.
- Viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT): xảy ra trên đàn gà ít nhất 150
ngày tuổi – 12 tháng có ho hen + ngạt từng cơn khạc ra máu.
- Nấm phổi: có hen + ỉa ra máu, phổi có màu ghi hoặc trắng bạch, cắt một
miếng lấy tay bóp có bọt khí phùn ra
- Sổ mũi truyền nhiễm : xảy ra trên tất cả các lứa tuổi có hen + lưỡi thâm;
miệng thối+ sưng đầu + thối mắt
2.1.3.7. Phòng và trị bệnh
a. Phòng bệnh.
Tạo cho đàn gà tiểu khí hậu thoáng, sạch nhưng phải đủ ấm, tránh được gió
lùa và thoáng mát về mùa hè. Mật độ nuôi trong chuồng vừa phải, vệ sinh thức
ăn, máng uống. Phun thuốc sát trùng trước khi vào gà và sau khí bán gà. Loại
thải những gà có phản ứng huyết thanh dương tính, cách kí gà bệnh, xử lí, tiêu
độc các dụng cụ chăn nuôi. Xử lí tiêu độc trứng và máy ấp trứng.
Phòng bệnh bằng vacxin
- Vacxin MG – Vacxin Nobilis do hãng Intervet của Hà Lan sản xuất là
loại vacxin sống tiêm bắp hoặc tiêm dưới da cho gà mái lúc gà 18 – 20 ngày tuổi
- Vacxin Nobivac – MG – Hà Lan là loại vacxin vô hoạt tiêm dưới da cho
gà con 0,5ml/con vào lúc 2 – 3 tuần tuổi
b. Trị bệnh
Đồng thời điều trị bằng cách sử dụng thuốc kháng sinh như :
- Doxyciclin 10%: cho uống cả ngày. Liều lượng 1g/10kg P
14
Khóa luận tốt nghiệp

• Đường lây lan: chủ yếu qua đường tiêu hóa
• Tỉ lệ ốm, tỉ lệ chết: tỉ lệ gà ốm thấp nhưng tỉ lệ gà chết cao so với số ốm.
Có khi lên tới 30 – 50 %
2.1.4.3. Triệu chứng
a. Thể quá cấp tính
15
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Diễm Hương _K55TYD
Gà ủ rũ cao độ, sốt cao và chết rất nhanh. Thường không có triệu chứng gì
đặc trưng
b. Thể cấp tính
Mào gà tím tái, sốt cao 42 – 43
0
C, gà bỏ ăn đi lại chậm chạp. Từ mũi miệng
chảy ra chất nước nhớt, sủi bọt có khi lẫn máu.
Giữa thời kì bệnh gà ỉa phân lỏng hoặc socola, khó thở, mào yếu tím bầm
do tụ máu. Cuối cùng gà chết do ngạt thở. Chết trong thể trạng vẫn béo tốt.
c. Thể mạn tính
Thể này thường thấy ở cuối ổ dịch, bệnh kéo dài, gà gầy còm
Có trường hợp viêm khớp bàn chân, khớp gối gà bị què liệt.
Nhiều trường hợp con vật ho hen, đi ỉa phân xanh loãng trắng có lẫn máu.
2.1.4.4. Bệnh tích
- Thể quá cấp tính: bệnh tích không điển hình
- Thể cấp tính: gà chết nhanh nên xác vẫn còn béo, mào yếm và các
niêm mạc tím bầm. Nhiều dịch nhớt tích lại trong hầu họng. Cơ bắp tím bầm, tổ
chức dưới da thấm dịch nhớt keo dày dễ đông. Phổi có nhiều đám viêm rộng
lớn, xuất huyết mỡ vành tim. Điển hình là gan sưng, trên bề mặt gan có những
nốt hoại tử màu trắng xám nhỏ li ti.
- Thể mãn tính: bệnh tích chủ yêu là viêm, hoại tử mãn tính đường hô
hấp và gan.

nhiễm là gà hay chim hay thủy cầm mà có những biểu hiện triệu chứng khác
nhau. Thời kì nung bệnh từ vài giờ đến 3 ngày tùy theo lượng virus, đường
truyền nhiễm bệnh và loài vật thụ cảm. Biểu hiện lâm sàng thường rất đa dạng
và phụ thuộc chủng virus, loài vật thụ cảm, tuổi, giới tính, yếu tố môi trường,
chế độ dinh dưỡng và sức miễn dịch của con vật và cuối cùng là sự nhiễm kế
phát bởi các loài vi khuẩn như E.coli, Mycoplasma…
Triệu chứng điển hình là:
• Gia cầm chết ác tính, chết đột ngột, chết nhiều giống như ngộ độc với
tỉ lệ chết từ 20 – 100%
• Gà thường sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn uống, giảm đẻ, suy yếu và đứng tụ lại
thành từng đám, lông xù, xơ xác, vùng da đầu không có lông và da chân sung
huyết mào thâm màu xám, khó thở, vươn cổ ra để thở, thở khò khè…
• Chảy nước mắt, viêm kết mạc mắt, nhắm mắt.
• Sưng phù đâu, mào tích sưng phù màu tím sẫm.
• Gà có triệu chứng thần kinh: co giật, mất thăng bằng, vận động quay
tròn. Ỉa chảy.
2.1.5.3. Bệnh tích.
Bệnh tích điển hình là sung huyết, xuất huyết, tiết nhiều dịch rỉ viêm, hoại
tử các cơ quan và hoại tử cơ.
• Mào tích sưng to, tím sẫm, phù mí mắt, phù có ke nhày và xuất huyết
dưới da đầu.
• Ở hệ thống tiêu hóa: xuất huyết điểm ở miệng, viêm cata và xuất huyết niêm
mạc ruột, xuất huyết dạ dày cơ, hạch ruột sưng, màng ruột bị viêm có tơ huyết.
• Các cơ quan tổ chức khác: viêm tơ huyết tương mạc của cơ quan nội
tạng như màng bao tim, màng gan. Gan, lách, thận, sưng to có những điểm hoại
tử màu vàn hoặc xám, xuất huyết mỡ vành tim, xuất huyết hoại tử tuyến tụy
• Xuất huyết điểm ở túi Fabricius và lỗ huyệt, phù keo nhày và xuất
huyết ở phần đùi giáp đầu gối. Gà mái đẻ viêm ống dẫn trứng và vỡ trứng non,
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status