TÌM HIỂU BỆNH ĐAU THẦN KINH TỌA - Pdf 13

THẦN KINH TỌA ĐAU
Đại Cương
- Sách ‘Bách Khoa Thư Bệnh Học’ ghi: “Đau dây thần kinh hông là chứng đau ở rễ
thần kinh thắt lưng V và cùng I với đặc tính đau lan theo đường đi của dây thần
kinh hông”.
Dây thần kinh hông đau là một hội chứng đau dọc theo dây thần kinh hông (đường
vận hành ở chân và eo lưng của đường kinh Bàng quang, Đởm và Vị), do nhiều
nguyên nhân cơ năng hoặc thực thể ở bản thân dây thần kinh hoặc rễ thần kinh.
- Đời nhà Tấn (286) Hoàng Phủ Mật trong sách ‘Giáp Ất Kinh’ đã mô tả về chứng
đau TK hông như sau: “Yêu hiếp thống dẫn thống cập bể cân” (từ lưng, hông sườn
đau lan xuống gân vùng háng).
- Đời nhà Minh, phú ‘Tịch Hoàng’ trong sách ‘Châm Cứu Đại Thành’ (1601) ghi:
“Ủy trung yêu thống, cước loạn cấp…” (Đau eo lưng đến vùng huyệt Ủy trung
chân sau, chân co rút).
- Năm 1764, Sigwald và Dereux là hai người đầu tiên mô tả hội chứng đau dây
thần kinh hông do thoái vị đĩa đệm vùng thắt lưng.
. Năm 1911, Goldwait J. E, Middleton và Teacher tách chứng đau dây thần kinh
hông do thoái vị đĩa đệm thành một loại riêng.
. Năm 1914, Lasègue C.E, Brissand E, Déjerine J J chứng minh đau dây thần kinh
hông là bệnh đau ở rễ chứ không phải đau ở dây.
. Từ 1939 có hàng loạt công trình nghiên cứu về dây thần kinh hông của Glorieux
(1937), Bergonignan và Gaillen (1939).
. Từ năm 1940, sau thông báo của Mixter và Barr, các nhà phẫu thuật chỉnh hình
khi mổ các trường hợp đau dây thần kinh hông (trước đây cho là thấp khớp) đều
thấy có thoái vị đĩa đệm.
. Đông Y từ lâu đã được đề cập đến chứng đau dây thần kinh hông dưới nhiều tên
gọi khác nhau:
+ Sách Giáp Ất Kinh (năm 286) gọi là Yêu Liệt Thống (Hoàn khiêu trị yêu liệt
thống, bất đắc chuyển trắc – Huyệt Hoàn khiêu trị chứng lưng đau yếu, hông sườn
không xoay trở được), Yêu cước thống, Yêu hiếp thống.
+ Thoái cổ phong (Hoàn khiêu năng trị Thoái cổ phong) [‘Biển Thước Thần Ứng

80% theo V. Fattarusse – O. Rittes, 50% theo bệnh viện Thiên Tân (TQ) và bệnh
viện Giao thông Thạch gia (TQ). Đĩa đệm bình thường nhờ có tính đàn hồi, vì vậy
có nhiệm vụ như bộ giảm xóc, bảo vệ cho cột sống khi bị chấn thương (ngã dồn cột
sống, khiêng vác nặng…). Nơi người trên 35 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm
mại, nhân bên trong có thể bị khô, vòng sợi sụn bên ngoài bị xơ hóa hoặc đóng vôi.
Nếu các đốt sống có một áp lực mạnh vào đĩa đệm (ngã ngồi, vác nặng…) có thể
làm rách các vòng sợi sụn và nhân bị đẩy ra ngoài, chui vào ống sống gây đau do
chèn ép của rễ dây thần kinh hông, gây phù nề do chèn ép vào mạch máu… Đau
dây thần kinh hông xuất hiện khi các rễ bị chèn ép, nếu rễ trước bị chèn ép thì
ngoài đau dây thần kinh hông còn có liệt. Đĩa sống thường bị tổn thương nhất là
đĩa sống thắt lưng thứ V (giữa thắt lưng V và xương cùng I), hiếm khi gặp ở thắt
lưng IV hoặc III. Rễ thường bị tổn thương nhất là rễ ngay dưới đĩa bị tổn thương .
2- Viêm chậu sống cứng khớp: bệnh của phái nam tuổi trẻ (90%) có đặc điểm là
những viêm khớp liên đốt sống làm cho cứng khớp đốt sống hoàn toàn và cứng gần
như hoàn toàn khớp ở gốc tứ chi với sự nguyên vẹn của khớp xương nhỏ (trên
Xquang thấy có hình dạng thân cây tre khi các dây chằng bị vôi hóa). Thay đổi
bệnh lý ở TL4, TL5, ở khớp cùng chậu làm đau dây thần kinh hông.
3- Bệnh Pott (lao đốt sống): có phá hủy đốt sống và có thể gây đau dây thần kinh
hông cả hai bên (trên Xquang thấy dấu hiệu đốt sống bị xẹp).
4- Trượt đốt sống: Tl4 hoặc TL5 bị trượt ra phía trước trên đốt sống kê phía dưới
(thường do bẩm sinh) do một chỗ khuyết của co nối liền các mỏm khớp trên và
dưới.
5- Thoái hóa khớp nhỏ cột sống.
6- Bệnh Paget (viêm xương biến dạng) gây phì đại cuống xương đốt sống, xẹp đốt
sống, hẹp ống sống dẫn đến chèn ép một hoặc nhiều rễ.
7- Gẫy đốt sống do chấn thương: chủ yếu gẫy một phần của cung sau.
8- U xương sống, thường là thứ phát (do di căn cột sống), cũng có thể là nguyên
phát.
9- U vùng dưới đuôi ngựa: u thần kinh đệm hoặc u dây thần kinh.
10- U vùng hố chậu nhỏ: buồng trứng, tử cung, đại trường, tiền liệt tuyến.

+ Xác định đúng hướng theo mặt trong hoặc ngoài để dễ xác định các đường kinh
châm cứu bị tổn thương, bế tắc, giúp dễ dàng chọn huyệt điều trị cho thích hợp.
+ Tính chất đau liên quan đến thoát vị đĩa đệm:
. Đau tăng khi đứng lên, ngồi lâu, ho, hắt hơi.
. Đau giảm khi nằm yên.
. Tăng lên lúc nửa đêm về sáng.
+ Rối loạn cảm giác: tê bì, kiến bò ở vùng nào (để xác định vị trí rễ bị tổn thương)
+ Thời gian khởi đầu đau:
. Mới đau: vài ngày đến vài tháng.
. Dai dẳng: từ nhiều tháng.
. Cố tật: trên một năm.
Để chọn lọc phương pháp điều trị.
+ Diễn tiến bệnh trạng:
. Đau giảm dần: gặp trong thoái vị đĩa đệm.
. Đau ngày càng tăng: trong lao cột sống, ung thư đốt sống, u tủy…
+ Cường độ đau:
. Đau nhẹ: ít ảnh hưởng đến sinh hoạt.
. Đau dữ dội: phải nằm tại giường.
+ Phối hợp: Nếu có rối loạn cơ tròn, nên nghĩ đến hội chứng TK đuôi ngựa.
+ Kiểm tra các dấu hiệu:
. Bốn dấu hiệu thuộc cột sống:
1- Biến dạng cột sống do tư thế đau:
. Theo chiều trước sau: Mất hoặc đảo ngược đường cong sinh lý, gù chống đau,
tương ứng với thoát vị đĩa đệm ra phía sau, cản trở sự khép lại của khoảng gian
đốt.
. Theo chiều nghiêng: Vẹo chống đau hoặc về phía bên đau (tư thế chống đau
thẳng), liên hệ với rễ thắt lưng hoặc về phía bên lành (tư thế chống đau chéo) liên
hệ với rễ cùng I.
2- Dấu hiệu nghẽn của De Sège để chống đau: người bệnh đứng nghiêng người
sang bên trái, sang phải, phía không có tư thế chống đau là phái bị nghen (còn gọi

. Loại XC 1: mặt sau đùi, phần sau hoặc sau ngoài cẳng chân, bờ ngoài bàn chân và
2-3 ngón chân cuối.
4- Tìm rối loạn vận động ở khúc chi.
. Không đi được bằng gót chân: tổn thương ở rễ thắt lưng 5.
. Không đi được bằng ngón chân (kiễng chân): tổn thương rễ cùng I. Rối loạn dinh
dưỡng (có thể teo cơ – ở giai đoạn muộn).
5- Các điểm ấn đau:
+ Các điểm Walleix: 60% có ấn đau ở các điểm dây thần kinh hông xuất ra (rãnh
mấu chuyển – ụ ngồi (huyệt Thừa phò), khoeo chân (huyệt Ủy trung), bắp chân
(huyệt thừa sơn)…
+ Các điểm đốt sống: ấn khoảng liên gai hoặc vùng cạnh đốt sống các khoảng TL 4
– TL 5 hoặc TL 5 – XC 1 (có thể là đau khu trú – tại chỗ hoặc đau chạy dọc đường
đi của dây thần kinh).
Bảng chẩn đoán đau dây thần kinh hông theo vị trí
Đau tự nhiên Từ vùng thắt lưng dọc
theo dây thần kinh
Từ vùng mông trở
xuống
Điểm ấn đau Ở cạnh thắt lưng Ở khoeo
Tư thế chống đau Cột sống cong sang bên
lành
Cột sống cong sang bên
bệnh
Đau tăng khi Hắt hơi, ho thử Néri Thử Lasègue
Rối loạn cảm giác Thường giảm Thường giảm hoặc mất
Rối loạn vận động Có thể có trương lực cơ
mông và cơ bắp chân
giảm
Trương lực cơ bắp chân
giảm ít, lan lên cơ mông

1- Triệu chứng chức năng: nổi bật nhất là triệu chứng đau. Thường bắt đầu bằng
đau ở lưng, sau đó đau ở dây thần kinh hông. Thường do một gắng sức như cúi
xuống để bốc vác một vật nặng, bỗng nhiên thấy đau nhói ở thắt lưng làm cho phải
ngừng việc. Ít giờ sau hoặc ít ngày sau lưng tiếp tục đau, đau tăng lên và lan xuống
mông, chân, theo đường đi của dây thần kinh hông. Có thể có 3 trạng thái sau:
+ Đau từ vùng thắt lưng đi xuống dọc theo mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng
chân, qua phía trước mắt cá ngoài và bắt chéo mu chân rồi tận cùng ở ngón chân
cái (TL 5).
+ Đau từ vùng thắt lưng đi xuống dọc theo mặt sau hoặc mặt ngoài cẳng chân, qua
phía sau mắt cá ngoài và tận cùng ở ngón thứ 5 hoặc 2,3 ngón chân cuối (XC 1).
+ Nhiều trường hợp, vị trí đau khó xác định, do đó, khó chẩn đoán vùng đau được.
Cường độ đau thay đổi đôi khi rất mạnh, đau từng cơn hoặc liên tục, hoặc không
bớt khi nghỉ. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau từng cơn hoặc liên tục hoặc không
bớt khi nghỉ. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội như đâm. Đau tăng lên khi
ho, hắt hơi, khi cúi gập cổ đột ngột. Người bệnh buộc phải nằm yên không dám
động đậy. Đau tăng về đêm, giảm khi nằm yên trên giường cứng, gối hơi co lại (tư
thế này làm chùng dây thần kinh hông). Người bệnh có cảm giác như kiến bò, tê
cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân chéo qua mu bàn chân đến ngón
chân cái (TL 5), ở gót chân hoặc ngón út (XC 1). Có khi bị đau vùng hạ bộ và đau
khi đi tiểu do tổn thương rộng xâm phạm đến các rễ thuộc đám rối thần kinh đuôi
ngựa.
2- Triệu chứng thực thể: Có hai loại chính:
a- Triệu chứng cột sống: Cơ lưng phản ứng cứng. Cột sống mất đường cong sinh
lý, trở thành thẳng, người bệnh có tư thế ngay lưng, vẹo người, các tư thế chống
đau, gẫy khúc đường gai sống…
b- Triệu Chứng của đau rễ: dấu hiệu Lasègue, Bonnet, Néri dương tính.
Để xác định chính xác rễ nào bị tổn thương, cần biết những biểu hiện của phản xạ
cảm giác, cảm giác vận động, dinh dưỡng. Có thể dựa vào bảng tóm tắt sau:
Rễ Phản xạ gân
xương

rồi lan sang bên kia (thường do tổn thương các đốt xương sống thắt lưng như lao
đốt sống, ung thư…).
5- Thể liệt và teo cơ: sau một thời gian đau ở dây thần kinh hông xuất hiện liệt và
teo cơ.
Theo Đông Y
Trên lâm sàng thường gặp ba loại sau:
1- Thể Hàn Thấp: Đau vùng lưng, đùi, dọc theo mặt ngoài cẳng chân (kinh đởm),
và sau khoeo (kinh Bàng quang). Khớp chân co duỗi, đi đứng khó, về đêm, gặp
ngày lạnh mưa, thời tiết thay đổi thì thấy đau hơn. Da mát lạnh, chỗ đau thấy nhức
như kim đâm, mạch Huyền Khẩn hoặc Trầm Trì, là dấu hiệu hàn tà nhiều hơn.
Da mát nhưng có nhiều mồ hôi, lòng bàn chân khi có mồ hôi có cảm giác tê bì ở
da, mạch nhu Hoãn là dấu hiệu của thấp tà nhiều hơn.
2- Thể Phong Hàn Thấp: Vùng thắt lưng cùng đau lan xuống chân theo dọc đường
đi của dây thần kinh hông, cơ bị teo, bệnh kéo dài, dễ tái phát, ăn kém, ngủ ít,
mạch Nhu Hoãn, Trầm Nhược. Thường gặp trong các chứng đau dây thần kinh
hông do thoái hóa cột sống gây chèn ép.
3- Thể phong hàn: Vùng thắt lưng đau lan xuống mông, mặt sau đùi, cẳng chân đi
lại khó khăn, cơ chưa bị teo, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch Phù. Thường gặp trong
chứng đau dây thần kinh hông do lạnh.
4- Thể Thấp Nhiệt: Lưng đau lan xuống mông, mặt sau đì, cẳng chân, đi lại khó
khăn, có cảm giác nóng ở các điểm đau, mạch Nhu hơi Sác.
5- Thể huyết ứ: Lưng đau lan xuống mông, mặt sau đùi, cẳng chân, đi lại khó khăn.
. Nhìn ở phần nông thấy có lạc mạch mầu xanh, xanh thẫm hoặc tím ở vùng khoeo
chân hoặc đùi.
. Ở phần sâu có cảm giác nhức buốt như dùi đâm ở vùng mông (vùng huyệt Hoàn
khiêu), dọc theo đường kinh Bàng quang và Đởm, lưỡi có những vết bầm tím,
mạch Nhu Sáp.
Điều trị
Nguyên tắc tổng quát:
+ Thông kinh hoạt lạc: kinh lạc bị bế tắc gây ra đau, vì vậy, phải làm cho kinh lạc

- Phép trị: Thanh nhiệt, giải độc làm chính, phụ thêm sơ phong, thông lạc.
- Điều trị:
+ Dược: Dùng bài Thạch Cao Tri Mẫu Quế Chi Thang (Bạch Hổ Gia Quế Chi
Thang).
- GT: Trong bài, Thạch cao, Tri mẫu thanh nhiệt; Quế chi sơ tbông kinh lạc, thêm
Nhẫn đông đằng, Liên kiều, Uy linh tiên, Phòng kỷ, Hoàng bá, Xích thược, Đơn bì,
Tang chi để tăng cường tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, thông lạc.
. Nếu nhiệt nhiều làm tổn thương tân dịch, thêm Sinh địa, Nhân trần, Chi tử, Địa
long.
2. Phong hàn thấp tý:
- Phép trị: Khu phong, tán hàn, trừ thấp, hành khí, hoạt huyết.
- Dược: Dùng bài Quyên Tý Thang gia giảm (Y Học Tâm Ngộ): Cam thảo 4g, Độc
hoạt 8g, Đương quy 8g, Hải phong đằng 4g, Hoàng kỳ 8g, Khương hoạt 12g, Một
dược 4g, Nhũ hương 4g, Phòng phong 8g, Tang chi 8g, Xuyên khung 4g.
- GT: Trong bài, Khương hoạt, Độc hoạt, Quế chi, Tần giao, Hải phong đằng, Tang
chi để khu phong, tán hàn, hóa thấp, thông lạc; Phối hợp với Đương qui, Xuyên
khung, Mộc hương, Nhũ hương để hoạt huyết, lý khí, chỉ thống; Cam thảo điều
hòa các vị thuốc.
. Nếu phong thắng, tăng lượng Khương hoạt, thêm Phòng phong.
. Nếu hàn thắng thêm Xuyên ô (chế), Tế tân.
. Nếu thấp thắng thêm Phòng kỷ, Ý dĩ nhân.
. Bệnh lâu ngày, chính khí suy, ra mồ hôi, sợ gió: thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch
thược, Can khương, Đại táo, giảm bớt thuốc trừ phong như Khương hoạt, Độc
hoạt. Tần giao.
. Nếu can thận bất túc, lưng gối đau mỏi: thêm Đỗ trọng, Ngưu tất, Tang ký sinh.
. Nếu khớp sưng to, rêu lưỡi trắng, hơi vàng: có triệu chứng hóa nhiệt, nên dùng
bài Quế Chi Thược Dược Tri Mẫu Thang gia giảm.
. Nếu bị chứng tý lâu ngày không khỏi làm cho khí huyết ngưng trệ nặng hơn, đau
hơn thì ngoài những thuốc đã dùng trên, có thể cho thêm các loại thuốc thuộc loại
côn trùng như Khương lang, Toàn yết, Xuyên sơn giáp, Địa long

TD: Dưỡng huyết, nhu Can, lý khí, chỉ thống. Trị thần kinh tọa viêm.
Trị 300 ca, đạt kết quả 95%.
THÔNG LẠC TRẤN KINH THANG (Thiên Gia Diệu Phương): Đan sâm 30-40,
Câu đằng 30g, Huyết kiệt 5g, Hy thiêm thảo 15g, Ngô công 2 con, Địa long 12g,
Sài hồ 6g. Sắc uống.
TD: Khứ phong, thắng thấp, thông lạc, chỉ thống. Trị thần kinh tọa đau.
Đã trị 36 ca, khỏi 24, chuyển biến tốt 8, không kết quả 4. Đạt tỉ lệ 88,9%.
HOÃN CẤP DƯƠNG HÒA THANG (Tân Trung Y 1987: 10): Quế chi 10g, Ma
hoàng 9g, Mộc qua, Đương quy, Ngưu tất, Bahj thược, Nạch giới tử đều 15g, Cam
thảo 8g, Xuyên ô (chế) 6g, Thủ ô, Thục địa đều 30g, Lộc giác giao 12g. Sắc uống.
TD: Ôn kinh, tán hàn, nhu Can, dưỡng huyết, hoạt lạc, chỉ thống.
Trị 38 ca, khỏi hoàn toàn 17, hiệu quả ít 15, có chuyển biến 5, không hiệu quả 1.
Đạt tỉ lệ 97,37%.
CHÂM CỨU
- CCHT. Hải: Sơ đạo kinh khí.
Châm Thận Du + Bạch Hoàn Du + Hoàn Khiêu + Thừa Phò + Ân Môn + Dương
Lăng Tuyền.
Phối hợp với Giáp Tích eo lưng (L 2-5), Thượng Liêu, Thứ Liêu, Trật Biên, Thừa
Sơn, Côn Lôn, Túc Lâm Khấp và các A Thị huyệt.
Mỗi lần chọn 3-5 huyệt, kích thích mạnh hoặc vừa, làm cho cảm giác tê truyền đi
xa. Khi có cảm giác tê, trướng lan ra thắt lưng và chi dưới rồi thì lưu kim 20 - 30
phút hoặc lâu hơn, cách 3-5 phút lại vê kim 1 lần. Mỗi ngày hoặc 2 ngày trị 1 lần.
- T.Ư. Kinh: Hoàn Khiêu, Phong Thị, Âm Thị, Ủy Trung, Thừa Sơn, Côn Lôn,
Thân Mạch.
- P. Tế: Thượng Liêu, Hoàn Khiêu, Dương Lăng Tuyền, Hạ Cự Hư.
- CCĐ. Thành: Ủy Trung, Nhân Trung.
- TCK. Luận: Hoàn Khiêu, Côn Lôn, Dương Lăng Tuyền, Dưỡng Lão (cứu).
- Trung Y Tạp chí năm 1955:
-Huyệt chính : Hoàn Khiêu, Dương Lăng Tuyền, Ủy Trung, Phong Thị, Thận Du,
Côn Lôn, Tuyệt Cốt, Đại Trường Du.

Phò, Phong Thị, Ủy Trung, Dương Lăng Tuyền, Thừa Sơn, Huyền Chung, Côn
Lôn, Khâu Khư.
- Giang Tây Trung Y Dược số 39/1986: Đại Trường Du, Thừa Phò, Ân Môn, Ủy
Trung, Thừa Sơn.
- Thượng Hải Châm Cứu Tạp Chí số 18/1986: dùng điện châm Hoàn Khiêu,
Dương Lăng Tuyền xuyên Âm Lăng Tuyền.
- Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí: Trật Biên, Hoàn Khiêu, Thừa Sơn, Dương Lăng
Tuyền, Thận Du, Ân Môn, Tuyệt Cốt. (Hoàn Khiêu, Trật Biên, Dương Lăng Tuyền
và Thận Du dùng bổ pháp, các huyệt còn lại châm tả).
- Cát Lâm Trung Y Dược số 27/1985: Hoàn Khiêu, Dương Lăng Tuyền, Trật Biên,
Ủy Trung.
- Trung Quốc Châm Cứu Tạp chí số 38/1986: Túc Tam Lý, Dương Lăng Tuyền,
Huyền Chung, Dương Phụ, Giải Khê, Thái Xung, Khâu Khư, Hoàn Khiêu, Ân
Môn, Trật Biên.
- TDCCĐ. Toàn : Sơ kinh, hoạt lạc. Châm tả Đại Trường Du, Trật Biên, Hoàn
Khiêu, Ủy Trung, Dương Lăng Tuyền, Tuyệt Cốt, Côn Lôn.
+ Đại trường du, Quan nguyên du, Hoàn khiêu, Ân môn, Ủy trung, Thừa sơn,
Dương lăng tuyền, Côn lôn, A thị huyệt. Mỗi lần chọn 4-6 huyệt, châm tả. Do
phong hàn, kết hợp thêm cứu. Lưu kim 20-30 phút. Mỗi ngày hoặc cách ngày
châm một lần, 10 lần là một liệu trình (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
- Nhĩ Châm: Thần kinh tọa, Thần môn,Yêu chùy, Khoan chùy, Bì chất hạ, Thượng
thận tuyến. Kích thích mạnh (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
- Giác Châm: A thị huyệt, Thứ liêu, Thừa phò, Ân môn, Ủy trung. Dùng kim Tam
lăng châm vào các mạch máu nhỏ cho ra máu. Sau khi máu ngưng ra, giác ngay lên
những vùng đó (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
- Châm huyệt kinh nghiệm có tên là L II trị 200 ca Thần kinh tọa đau. Dùng huyệt
L II làm chủ huyệt (huyệt ở khe đốt sống thắt lưng 2 ra ngang 1 thốn. Phphôis hợp
với Dương lăng tuyền. Châm sâu 3-4 thốn. Dùng phương pháp vê kim sao cho cảm
giác lan xuống vùng đùi và chân rồi rút kim. Mỗi ngày châm một lần, 7 lần là một
liệu trình. Ít nhất là 2 liệu trình, các triệu chứng khỏi, cử động lại tốt) 42 ca, có

không đứng được, khi ho cũng đau hơn, không thấy có hiện tượng sưng, nóng, đỏ,
đau ở các khớp. Đã được bệnh viện điều trị bằng thuốc giảm đau, Vitamin B1, B12
nhưng không đỡ, được chuyển đến khoa Đông Y.
khám thấy: người bệnh không cúi được, không kiễng được chân bên phải. Lasègue
300, dấu hiệu Waleix (+ + +).
Tập thể bác sĩ chuyên khoa thần kinh chẩn đoán là đau thần kinh tọa cấp.
Dùng điện châm các huyệt Hoàn khiêu, Thận du, Đại trường du, Ân môn, Ủy
trung, Thừa sơn và Côn lôn. Cơn đau giảm dần, bệnh nhân đi lại được. Châm 29
lần hết đau. Lasègue 900, Walleix âm tính.
Bệnh nhân Lý, nam, 75 tuổi, nông dân, khám lần đầu ngày 6/02/1970.
Bệnh nhân bị đau chân đã hai tháng, tình trạng bệnh ngày càng trở nặng hơn và
đau dữ dội cả ngày lẫn đêm. Bệnh viện huyệt chẩn đoán là viêm dây thần kinh
hông to và việc điều trị được thực hiện bằng thuốc trung y và tây y lẫn châm trị,
nhưng hiệu quả không đạt, vì thế bệnh nhân xin khám tại dưỡng đường của tác giả.
Khám thấy đau lan tỏa từ vùng thắt lưng xuống các chỗ phân nhánh của dây thần
kinh hông to, tại vùng giữa mông, hỏm khoeo, và mặt ngoài cẳng chân, ấn đau rõ,
dấu hiệu Lasègue dương tính. Vùng giữa và dưới cẳng chân và bàn chân sờ thấy
lạnh. Bệnh nhân không thể đi bộ, mạch Trầm Trì, rêu lưới mỏng trắng.
Chẩn đoán là đau dây thần kinh hông to.
Điều trị theo phương pháp trên, bệnh nhân ra nhiều mồ hôi và đã uống 450ml
nước. Sau khi điều trị, bệnh nhân cảm thấy đỡ hơn và có thể đi bộ được 50 mét.
Ngày hôm sau, cơ bản cơn đau khỏi, chỉ còn thấy tê nhẹ.
Bệnh nhân Nghê, nam, 37 tuổi, lái xe, khám lần đầu ngày 7/ 4/1977. Bệnh nhân bị
đau dây thần kinh hông to viêm đa khớp cột sống thắt lưng dạng thấp đã 3 năm.
Cách đây nửùa năm, đau trở nên nặng hơn do bị bong gân thắt lưng, không thể cúi
xuống và rất khó khăn lúc đi và khi nằm. Đau càng trở nên nặng hơn khi ho và hắt
hơi.
Khám thấy điểm ấn đau rõ giữa mông trái và dây cột sống thắt lưng L3 - L5, dấu
hiệu Lasègue dương tính.
Chẩn đoán là viêm dây thần kinh hông to.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status