1 CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING
1. Khái nhiệm và quan điểm chung về việc đổi mới của chiến lược
Marketing
1.1. Khái niệm về chiến lược Marketing
Trước hết chúng ta hãy hiểu về chiến lược là gì?
- "Chiến lược là một tập hợp của các chuỗi họat động được thiết kế
nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững."
- "Chiến lược không chỉ là một kế họach, cũng không chỉ là một ý
tưởng, chiến lược là triết lý sống của một Công ty."
Vậy chúng ta có thể định nghĩa Chiến lược Marketing là mục tiêu mà
Công ty muốn đạt được như khối lượng sản phẩm, thị phần trên những thị
trường tiềm năng, khả năng sinh lợi (lợi nhuận), thế lực trong kinh doanh, an
toàn trong kinh doanh, và có thể gọi là mục tiêu Marketing. Còn con đường mà
Công ty muốn đạt mục tiêu đến thì gọi là chiến lược Marketing. Vậy thì chiến
lược Marketing là hoạt động của một Công ty nói chung và của bộ phận
Marketing nói riêng, nhằm để đạt được mục tiêu của Công ty trong hoạt động
sản xuất kinh doanh.
1.2. Quan điểm chung về việc đổi mới của chiến lược Marketing
Hiện nay thị trường thế giới đang trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng do
khách hàng ngày càng nhạy bén với giá cả và chất lượng sản phẩm, mặt khác sự
xuất hiện không ngừng những khách hàng mới, kênh phân phối mới, kênh
truyền thống mới, và vai trò của Internet, của thương mại điện từ (Wireless
commerce), sự tác động toàn cầu hóa, của tư nhân hóa.
Do đó chiến lược Marketing hiện đại được thiết kế và phát triển phải phù
hợp với chiến lược Công ty, và theo quan điểm: Các hoạt động Marketing phải
tích hợp vào việc tạo ra và phân phối giá trị hàng hóa cho khách hàng, đồng
Sáng tạo
giá trị
Nhận thức
khoảng trống
Khoảng trống
của khả năng
Khoảng trống
của nguồn lực
Lợi ích khách
hàng
Lĩnh vực kinh
doanh
Các đối tác
kinh doanh
Offerings Cho
thị trường
Thiết kế
kinh doanh
Hệ thống tác
nghiệp
Hoạt động
Marketing
Phân
phối giá
tr
ị
Quản trị nguồn
lực bên trong
Quản trị quan
mà còn chú trọng đến mối quan hệ với khách hàng nhằm để tạo ra sự thân thiện,
xây dựng mối quan hệ lâu dài hơn. Mặt khác khi có mối quan hệ lâu dài với
khách hàng sẽ làm cho tổng chí phí về giao dịch lại giảm xuống và hiệu quả
hơn. Vì thu hút khách hàng mới chí phí cao hơn nhiều so với chí phí nhằm duy
trì khách hàng truyền thống.
2.3. Chú trọng giành và giữ khách hàng
Như Philip Kotler đã nhận mạnh: “ Trong Marketing hiện đại, song song
với việc thiết kế một hỗn hợp Marketing tốt nhật để bán được hàng, người ta
ngày càng có xu hướng chú trọng hơn đến việc thiết kế hệ thống các mối quan
hệ khách hàng để giành lấy và giữ khách hàng”
2.4. Thỏa mãn và duy trì sự trung thành của khách hàng
Trước đây đánh giá hiệu quả Marketing là phục vụ cho việc bán được
nhiều hàng, ngày nay các tiêu chí đánh giá quan trọng nhất đối với Marketing
hiện đại là những nhân tố vô hình, đó là "thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của
khách hàng" và "duy trì tối đa lòng trung thành của khách hàng".
3. Các công cụ định hướng chiến lược thị trường
3.1. Tầm nhìn về chiến lược thị trường
Đối với các nhà quản lý thì một tầm nhìn xa về chiến lược thị trường là
rất quan trọng vì chúng sẽ thôi thúc và chỉ dẫn các nhà quản lý xác định được
4 mục tiêu kinh doanh đủ mạnh để định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh tốt
nhất, và đạt hiệu quả cao nhất.
Muốn có được một tâm nhìn về hoạt động kinh doanh tổng thể có tính
chiến lược thì các nhà quản lý phải tự hỏi và giải thích cho mình những câu hỏi
sau đây:
- Chúng ta đã có một tầm nhìn xa cho chiến lược mở rộng thị trường
mà mọi người biết rõ và đã chấp nhận hay không?
Việc đánh giá các chiến lược dự kiến là công việc cuối, có tầm quan
trong quyết định đến mức độ đúng đắn của chiến lược Marketing. Nếu chỉ xác
lập một chiến lược chung thì cần phải đánh giá để biết được là nên thông qua
hay loại bỏ. Nếu có nhiều chiến lược xen kẻ cần phải đánh giá để lựa chọn
chiến lược nào là tốt nhất. Trong cả hai trường hợp việc đánh giá các chiến lược
phải dựa vào các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1: Chiến lược Marketing phải mang tính hiện thực, tức là
trong điều kiện hiện tại với sự nỗ lực của Công ty thì có khả năng thực hiện
chiến lược đã vạch ra.
- Nguyên tắc 2: Chiến lược và chính sách Marketing phải đảm bảo mối
quan hệ biện chứng giữa Công ty và thị trường.
Đây là nguyên tắc đánh giá mức độ hiệu quả của chiến lược Marketing.
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện sự thỏa mãn những yêu cầu của khách
hàng, và hy vọng của Công ty, và thường phải giải quyết mâu thuẫn giữa một
bên là thị trường và một bên là Công ty, đánh giá chiến lược phải dựa trên hai
mặt chất lượng và số lượng hàng hóa cung cấp theo thị trường.
3.4.1. Đánh giá về chất
Ba vấn đề cốt lõi mà chiến lược phải tạo ra là Sự thích ứng, Sự liên kết,
Ưu thế từng phần.
6 - Sự thích ứng: Thích ứng với thị trường được đánh giá qua các mục tiêu
cơ bản của chiến lược dự kiến với các đặc tính của thị trường như: thói quen,
thái độ và động cơ của người tiêu dùng, phân khúc thị trường, cơ cấu và đặc
điểm của bộ máy phân phối.
- Sự liên kết
: Các thành phần khác nhau của Marketing hỗn hợp phải
được so sánh với nhau và hỗ trợ lẫn nhau.
phẩm có thể tạo ra sự quan tâm và chú ý nhiều hơn của khách hàng thì cần xây
dựng những chiến lược phát triển sản phẩm:
4.1.1. Chiến lược phát triển dải sản phẩm
Trên thị trường rất nhiều loại khách hàng, và bàn thân khách hàng cũng
luôn luôn thay đổi theo thời gian, không gian, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp,
thu nhập,…. Để thỏa mãn được những nhu cầu của khách hàng thì các Công ty
phải soạn thảo chiến lược sản phẩm và phát triển dải sản phẩm mới.
4.1.2. Cải tiến chất lượng, đặc điểm, ứng dụng
Công ty cần phải nghiên cứu nhu cầu mong muốn của khách hàng và nhu
cầu của thị trường để xây dựng chiến lược sản phẩm nhằm đáp ứng được sự
thỏa mãn của khách hàng ngày càng cao hơn.
4.1.3. Hợp nhất dải sản phẩm
Bộ phận nghiên cứu và phát triển trường thị trường cần nhắm bắt mong
muốn hoặc nhu cầu của khách hàng theo từng loại sản phảm để quyết định sản
xuất những dòng sản phẩm nào hợp lý nhất.
4.1.4. Quy chuẩn sản phẩm
Các Công ty phải tổ chức sản xuất tại các nhà máy để tạo ra những sản
phẩm đúng quy chuẩn quốc tế mà Công ty đã thiết kế để cho khách hàng tin
tưởng, ngày càng nhiều hơn vào thương hiệu của Công ty. 8 4.2. Chiến lược giá cả(Price)
Giá là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn và quyết định mua hàng
của khách hàng nên cần phải được quản trị một cách linh hoạt. Nhìn chung giá
là một bộ phận gắn liền với kế hoạch sản phẩm thị trường, không phải là một
thực thể riêng lẽ.
Để xây dựng một chính sách giá hợp lý không phải là một vấn đề đơn
: Là một tập hợp của các tổ chức độc lập, tổ
chức thành viên và cá nhân có tham gia vào tất cả các mặt hoạt động, tạo ra nhu
cầu, kích thích và thoả mãn nhu cầu thông qua việc cung cấp và tiêu thụ sản
phẩm, dịch vụ.
- Chuỗi giá trị
: Là phương tiện mà giá trị được chuyển giao và
khách hàng trả tiền để nhận được, thông qua đó các nhà cung cấp bổ sung giá
trị cộng thêm và thu lại giá trị cho mình.
4.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của kênh
phân phối
- Trình độ chuyên môn và hiểu biết về sản phẩm
: Nếu nhà phân
phối không có chuyên môn và sự hiểu biết về sản phẩm sẽ làm cho thị trường
mà Công ty nhắm đến kém hiệu quả.
- Đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp
: Nếu không có một
đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp đủ khả năng để giúp Công ty đưa
sản phẩm ra thị trường thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của
kênh phân phối.
- Khả năng tài chính của Công ty
: Nếu nhà phân phối có lòng nhiệt
thành cao nhưng không đủ khả năng về tài chính thì việc phát triển mạng lưới
phân phối sẽ bị hạn chế. Trong trường hợp đó muốn phát triển mạng lưới phân
phối Công ty phải vay ngân hàng và sẽ chịu mức tín dụng cao hơn bình thường.
10 - Trình độ chuyên môn hóa về sản phẩm: Nếu nhà phân phối cung
cấp nhiều loại sản phẩm khác nhau sẽ không tập trung tốt để bán sản phẩm của
Marketing để kiểm tra được khả năng thích ứng của sản phẩm, sự hợp lý của
chiến lược giá và chiến lược phân phối, thông qua chiến lược xúc tiến người
bán có thể kiểm tra được nhu cầu của thị trường.
Vậy để kích thích được khách hàng mua sản phẩm của Công ty thì có rất
nhiều cách để xúc tiến như:
- Chào hàng bán
- Xúc tiến bán hàng (khuyến mãi)
- Tham gia hội trợ triễn lãm
- Dịch vụ đảm bảo
- Quảng cáo: Là một nội dung quan trọng nhất vì quảng cáo là việc sử
dụng không gian và thời gian để truyền tin, định hướng về sản phẩm, về xí
nghiệp hay về thị trường cho khách hàng.
Trước khi thực hiện quảng cáo, cần phải nghiên cứu, phân tích cụ thể về
môi trường quảng cáo – tức là các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật có
liên quan tại thị trường mục tiêu. Những phương tiện truyền thống thường được
áp dụng là: đài phát thanh, truyền hình, tạp chí, áp phích, bảng hiệu ngoài trời,
rạp chiếu phim và hình thức gửi thư trực tiếp. v.v…
5. Môi trường kinh tế Cambodia và Vài trò của sản phẩm Khung Trần –
Vách ngăn thạch cao trong thị trường Cambodia
5.1. Môi trường kinh tế Cambodia
- Theo số liệu của thống kê, Cămpuchia có dân số khoảng 15 triệu người,
dân số sống bằng nghề nông nghiệp gần 88%, Người khmer 90%, người Trung
quốc là 4%, và 1% Việt nam, còn lại là người Chăm, Miến điện và một số bộ
lạc sống trên núi. Tỷ lệ tăng dân số vào khoảng 2,5-3%/năm. Mật độ dân số
khoảng 59,1 người/km
2
. Hiện này dân thành thị chiếm 10-15% chủ yếu tập
trung ở Phnom Pênh và Kampong Cham. Tỷ lệ biết chữ ở Cămpuchia khoảng
12
13 muốn của khách hàng về mỹ thuật, về an toàn, bền vững, tiết kiệm thời gian lẫn
chí phí,….
Một sản phẩm không thể thiếu trong các công trình xây dựng sản phẩm
Khung trần – Vách ngăn thạch cao:
- Sản phẩm khung trần – Vách ngăn thạch cao có những lợi thế khả đặc
biệt, cụ thể là:
* Khung trần – Vách ngăn thạch cao đảm bao cho các Công trình lớn,
siêu thị, khách sạn, trường đại học, tòa nhà cao tầng, văn phòng sự bền vững,
đẹp, nhẹ nhàng và dễ dàng thảo dỡ, tiết kiệm thời gian khi thi công và sửa chữa,
an toàn, đặc biết Khung trần – Vách ngăn thạch cao góp phần giảm bớt sự ồ
nhiễm môi trường so với các sản sản phẩm cùng loại khác.
* Với mức tiêu thụ Khung trần là 3,9 triệu m
2
trong năm 2007 và sẽ
tăng hơn nữa trong các năm sau. Đã góp phần tạo việc làm cho xã hội rất nhiều
cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Mặt khác có thể sử dụng lao động trong nước không
đòi hỏi trình độ kỹ năng cao.
* Khung trần – Vách ngăn thạch cao sản xuất trong nước sẽ thay thế
hàng nhập khẩu để tiết kiệm ngoại tệ và góp phân hạ giá thành của các công
trình đang xây dựng. Với sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của sản phẩm
Khung trần – Vách ngăn thạch cao trên thị trường nó sẽ thúc đẩy tạo ra những
sản phẩm có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu
dùng.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ MÔI TRƯỜNG
KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1. Giới thiệu sơ qua về Công ty VTJ
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty
Công ty VTJ được hình thành từ 3 Công ty:
- Công ty Cổ phần Công nghiệp Vĩnh tường Việt Nam (VTI)
- Công ty New Production
- Công ty Reaksmey Meangseyla.
Công ty VTJ chuyên sản xuất phẩm Khung trần – Vách ngăn thạch cao.
Sau 05 tháng hoạt động Công ty VTJ đã mua toàn bộ cổ phần của Công ty
Reaksmey Meangseyla, do đó hiện nay Công ty VTJ chỉ 2 cổ đồng (Công ty
VTI và Công ty New Production).
Công ty được chính thực thành lập vào tháng 11 năm 2007, theo quyết
định của Bộ thường mại số Co.10075/07P cấp ngày 28 tháng 05 năm 2007.
Tên chính thức là: VTJ Vĩnh Tường
Tên giao dịch : VTJ
Trụ sở chính tại : 174Eo, đường 271∟432, Phương TuolTumPung2,
Quận ChamKamon, Tp.PhnomPenh.
Email :
Điện thoại : (855-23) 212 373
Fax : (855-23) 212 374
Tên Ngân Hàng giao dịch : ANZ Royal
Số tài khoản : 740488, 730475
Công ty có 3 cửa hàng trực thuộc nằm trong khu trung tâm tại Phnom Penh
để tạo điều kiện thuận lợi cho khách mua hàng.
16
Phó Tổng GĐ
Trưởng BP Trưởng BP
Trưởng BP Trưởng BP
GĐ HC-NS
Phó Tổng GĐ
Tổng Giám đốc
17
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty gồm Tổng giám đốc có
quyền cao nhất và các phó Tổng giám đốc và Giám đốc các phòng ban là những
người cộng sự đắc lực cho Tổng Giám đốc trong việc điều hành Công ty và được
tổ chức theo mô hình trực tuyến.
1.2.2. Tình hình nhân sự của Công ty
Đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty gồm 101 người ( 15
người là người Việt Nam), có trình độ, có sức khỏe trẻ nhiệt huyết, có tình thần
cầu tiến học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, rất thích hợp để phát triển trong
thời điểm hiện tại. Cơ cấu cán bọ công nhân viên của Công ty được thể hiện theo
bảng sau:
Bảng2.1. Cơ cấu nhân sự của Công ty
Cấp quản lý
Số lượng (người) Tỷ lệ %
Quản lý cấp cao 03
13%
Quản lý cấp trung 10
Nhân viên 18 18%
Công nhân 70 69%
Tổng 101 100%
Nguồn: phòng hành chính nhân sự
hàng
1.2.3.1. Những thành tựu đạt được trong hoạt động Marketing của
Công ty
- Do Công ty mới thành lập nên chưa tổ chức bộ phận Marketing
chuyên biệt để thực hiện toàn bộ các chức năng của hoạt động Marketing, nhưng
nhờ vào thương hiệu đã có uy tín của Công ty Vĩnh Tường (VTI) nền hoạt động
Marketing của Công ty cũng đạt được một số thành tựu nhất định, cụ thể là:
Công tác nghiên cứu thị trường, giải pháp thâm nhập vào thị
trường từng khu vực cũng như xác định thị trường mục tiêu thực hiện khá tốt,
đồng thời đã đáp ứng được nhu cầu mong muốn của khách hàng.
Bộ phận Marketing vừa tiếp nhận thông tin phản hồi trực tiếp
từ khách hàng bên ngoài, vừa phối hợp với các phòng bàn khác để tiếp nhận
những thông tin phản hồi gián tiếp từ khách hàng. Đã thực hiện hoạt động
Marketing đạt được kết quả tốt cụ thể là:
* Treo bảng hiệu cho các trung tâm phân phối tại các thành thị
và tỉnh.
1
2
19 * Xúc tiến quảng cáo, tìm hiểu và thiết kế các dòng sản phẩm
cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng, nên càng ngày càng được sự chấp
nhận của người tiêu dùng.
* Thực hiện tốt chiến lược đa dạng hóa sản phẩm là hoạt động
rất quan trọng vì nó thực sự phát huy khả năng của Công ty tăng doanh thu cao,
và lợi nhuận cao hơn.
Đã mở được 3 cửa hàng trực thuộc Công ty trong thành phố và
31 trung tâm phân phối trên cả nước, và đang có kế hoạch mở thêm một số cửa
làm cho nhu cầu sử dụng Khung Trần – Vách ngăn thạch cao không ngừng tăng
lên theo, đặc biệt là trong giai đoạn từ cuối năm 2006 trở đi.
Căn cứ vào kế hoạch của Công ty CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP VĨNH
TƯỜNG (VTI), chúng ta thấy nhu cầu Khung trần – Vách ngăn thạch cao tăng
đều qua các năm với tốc độ bình quân 30% (xem bảng 2.2).
Bảng 2.2: Mực tiêu thụ Khung Trân – Vách ngăn thạch cao tại Cambodia
Đơn vị tính: m
2
Năm 2005 2006 2007 2008
Nhu câu (m
2
) 2.310.000 3.000.000 3.900.000 5.070.000
Tăng trưởng(%) 29,87 30 30
Nguồn: Kế hoạch thành lập Công ty VTJ plc của Công ty Cổ Phần Công nghiệp Vĩnh Tường
Thực tế sản phẩm Khung Trần – Vách ngăn thạch cao bắt đâu được ứa
chuộng và tiêu thụ rộng rãi từ năm 2000, đá số là sản phẩm nhập từ Thái của
Công ty SCT, và sản phẩm nhập khẩu của Vĩnh Tường (Việt Nam) bắt đầu xâm
nhập vào thị trường Cambodia từ năm 2003.
Từ năm 2005 đến năm 2008 qua bảng 2.2 chung ta thấy nhu cầu sử dụng
Khung Trần – Vách ngăn thạch cao tại Cambodia tăng tương đổi ổn định mỗi
năm vào khoảng (30%).
21 Nhưng nếu so với mức tiêu thụ của các nước trong khu vực thì vẫn còn
thấp cụ thể là: Thái lan mức sử dụng sản phẩm Khung Trần – Vách ngăn thạch
cao khoảng 60triệu m
Quý3
(sản xuất)
Quý4
(sản xuất)
Khung Trần chìm
589.715 843.211 624.076 658.690
Khung Trần nổi
117.280 195.218 102.321 101.035
Khung Vách ngăn
24.865 23.475 13.302 12.360
Tổng
731.860 1.061.904 739.699 773.085
Nguồn: nhà máy Công ty VTJ
22 Theo số liệu bảng trên ta thấy hai quý đầu năm là số thanh nhập khẩu chứ
không phải do Công ty sản xuất bởi vì trong những tháng đó Công ty đang thực
hiện xây dựng nhà máy nên các giải đoạn đó hoàn toàn nhập từ Công ty VTI
(Việt Nam). Đến tận giữa tháng 6 nhà máy mới bắt đầu đưa vào sản xuất, nên
công y thực sự bắt tay vào sản xuất từ tháng 7 của quý 3. Qua bảng trên chung ta
thấy vào quý hai thì số lượng nhập vào tăng gần gấp đôi của quý một, bởi vì
trong quý đó thì thị trường của ngành xây dựng tại Cambodia tăng lên rất nhanh
cho nên nhu cầu sử dụng Khung Trần – Vách ngăn thạch cao cũng tăng theo.
tích cực và tồn tại của việc thu chi tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố. Trên cơ sở đó Công ty đã có chiến lược tốt về quản lý thu
nợ của khách hàng, và đề ra các biện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn hiệu quả
sản xuất kinh doanh của Công ty.
2.5. Những thuận lợi và khó khăn trong việc sản xuất tại Công ty hiện
nay
2.5.1. Thuận lợi
- Là Công ty có quan hệ tốt trong việc thu mua nguyên vật liệu từ
nhà cung ứng nước ngoài đặc biệt với Công ty Cổ phần Công nghiệp Vĩnh tường
vì họ đã mua Tole nguyên vật liệu từ BlueScope Stell là tập đoàn sắt nổi tiếng
trên thế giới.
- Có đội ngũ quản lý, kỹ thuật kinh nghiệm trong việc sản xuất
Khung trần chìm, Khung trần nổi, và Khung vách ngăn vì các đội ngũ nhân viên
đã được đào tạo kiến thức kỹ thuật kỹ từ đối tác cung ứng nguyên vật liệu trước
khi thực hiện sản xuất.
- Vấn đề vốn mặc dù Công ty đã đầu tư khá lớn ban đầu trong việc
xây dựng nhà máy nhưng Công ty vẫn chủ động được nguồn vốn và đã hoàn vốn
chi phí để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng nhà máy.
24 - Công ty có mặt bằng nhà xưởng tốt nằm trên PlovLum, Phum
TiTuy, SangKat Prey Sor, Khan DongKor, cách thành phố Phnom Penh chỉ
khoảng 15km nên rất thuận lợi trong việc chuyển chờ hàng và thuận tiện cho
khách hoạt động. Hơn thể nữa nhà máy có một máy xa băng là máy chính để cắt
tole. Tại Cambodia Công ty VTJ là một trong hai Công ty có máy này.
2.5.2. Khó khăn
Hiện tại trong quá trình hoạt động sản xuất của Công ty còn tồn tại
nhà ở của họ cũng cao. Trước kia Khung Trần – Vách ngăn thạch cao chỉ sử
dụng trong khách sạn, restuarant, nhà cao tầng, văn phòng……, đặc biệt chỉ
trong Thành phố Phnom Pênh nhưng ngày nay nó đã được sử dụng cả ngoài
tỉnh và phổ biến trong việc xây dựng nhà ở của dân cư. Điều đó đã tạo thuận lợi
lớn cho Công ty VTJ.
2.6.2. Yếu tố bên trong
- Về dây chuyên sản xuất toàn là thiết bị thô sơ và cũ nên khó đáp
ứng được nhu cầu chất lượng, ảnh hưởng đến giá thành sản xuất do sản xuất
nhiều thành phẩm không đáp ứng chất lượng.
- Về nhân công một số ít đã được đào tạo, đa số còn lại là những
người mới tuyển vào làm nên mất nhiều thời gian đào tạo, điều đó cũng sẽ ảnh
hưởng đến giá thành sản phẩm và làm giảm đi tính cạnh tranh của sản phẩm
Khung Trần – Vách ngăn thạch cao so với các đối thủ cạnh tranh.
- Về bộ phận bán hàng chưa tổng hợp được số liệu thống kê nhu
cầu bán ra để lập kế hoạch từng tháng, quý, và năm cụ thể để cung cấp cho nhà
máy lập kế hoạch sản xuất tổng thể.
- Đối với nguyên vật liệu đầu vào thì Công ty chỉ phụ thuộc chính
vào một nhà cùng ứng nên nó rất dễ dàng gặp tình trạng thiếu nguyên vật liệu
sản xuất khi có sự cố từ nhà cung ứng. Vậy Công ty nên tìm đối tác dự bị khác
để tránh tình trạng trên. Ngoài ra Công ty cũng phải thỏa thuận với đối tác vận
chuyển nguyên vật liệu đúng thời điểm đã quy định.