câu hỏi và đáp án ôn thi tốt nghiệp môn kinh tế chính trị - Pdf 25

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
câu 1: Hai con đường phát triển TBCN trong nông nghiệp. Đặc điểm của tư bản
kinh doanh nông nghiệp. Bản chất và các hình thức đại tô tư bản chủ nghĩa. Sự
tiến bộ của địa tô tư bản chủ nghĩa so với các địa tô phong kiến.
Trả lời:
1. Hai con đường phát triển TBCN trong nông nghiệp
trong chủ nghĩa tư bản nông nghiệp cũng trở thành lĩnh vực đầu tư của tư bản, cũng
được kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản xuất hiện
trong nông nghiệp bằng cả con đường phân hóa của những người nông dân hình
thành lớp giàu có kinh doanh nông nghiệp theo phương thức tư bản chủ nghĩa và
bằng cả sự nhận thức của các nhà tư bản đầu tư vào nông nghiệp. chính vì vậy mà các
nhà tư bản nông nghiệp đã đầu tư vào ruộng đất nhà tư bản kinh doanh ruông đất
được hưởng lợi nhuận bình quaanm địa chủ là chủ sở hữu ruộng đất được hưởng địa
tô.
2. Đặc điểm của tư bản kinh doanh nông nghiệp
Tư bản nông nghiệp đề cập về tư bản kinh doanh nông nghiệp và sản xuất giá trị
thặng dự thông qua việc bóc lột công nhân làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp
( công nhân nông nghiệp) với hình thức thường thấy là địa tô tư bản chủ nghĩa.
Đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp là chế độ
đọc quyền sở hữu ruộng đất và độc quyền kinh doanh ruộng đất. Cả hai loại độc
quyền ruộng đất đã ngăn cản tự do cạnh tranh trong nông nghiệp. Trong nông nghiệp,
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành chủ yếu theo hai con đường:
- thông qua cải cách, dần dần chuyển kinh tế địa chủ phong kiến sang kinh doanh
theo phương thức tư bản chủ nghĩa ( như ở Đức, Ý, Đại Lợi, Nga, Nhật Bản )
- thông qua cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ kinh tế địa chủ phong kiến, phát triển
tư bản chủ nghĩa ( như ở Anh, Mỹ, Pháp )
Về quan hệ xã hội đối với ruộng đất trong chủ nghĩa tư bản bao gồm ba giai cấp: địa
chủ ( độc quyền sở hữu ruộng đất), tư bản kinh doanh nông nghiệp ( độc quyền kinh
doanh ruộng đất) và giai cấp công nhân nông nghiệp.
3. Bản chất và các hình thức địa tô TBCN

Địa tô TBCN có các hình thức cơ bản:
Địa tô chênh lệch: trong ngành nông nghiệp cũng như công nghiệp đã xảy ra lợi
nhuận siêu ngạch. Nếu như trong công nghiệp lợi nhuận siêu ngạch chỉ là hiện tượng
tạm thời đối với các nhà tư bản cá biệt nào đó có được do điều kiện sản xuất tốt hơn
điều kiện sản xuất trung bình của xã hội thì trái lại, trong nông nghiệp nó luôn tồn tại
tương đối dài và ổn định.
Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản, nó có đặc điểm là
có diện tích giới hạn, vị trí cố định và tốt xấu khác nhau, mà điều kiện đại bộ phận là
xấu. Người ta không thể chế tạo thêm được ruộng đất tốt có điều kiện canh tác thuận
lợi. Trong khi đó hầu hết ruộng đất đã bị độc quyền kinh doanh. Do đó những người
kinh doanh trên ruộng đất tốt, có điều kiện sản xuất thuận lợi sẽ sử dụng được sức tự
nhiên một cách độc quyền nên luôn thu được lợi nhuận siêu ngạch ổn định lâu dài.
- Khác với trong lĩnh vực công nghiệp, trong nông nghiệp giá cả sản xuất chung của
nông phẩm do điều kiện sản xuất xấu quyết định. Bởi vì, chỉ có canh tác trên ruộng
đất tốt và trung bình thì sẽ không đủ nông phẩm cho nhu cầu xã hội. Do đó giá cả sản
xuất chung phải đảm bảo cho tư bản đầu tư trên ruộng đất xấu cũng thu được lợi
nhuận bình quân. Do đó không chỉ là các nhà tư bản kinh doanh trên ruộng đất tốt,
xấu cũng thu được lợi nhuận bình quân mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh đều thu
được lợi nhuận siêu ngạch tương đối ổn định và lâu dài. Nó là kết quả của việc sử
dụng sức tự nhiên đã bị độc chiếm sẽ thuộc về sở hữu ruộng đất dưới hình thức địa tô
chênh lệch.
Như vậy địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch thu được trên những ruộng
đất có điều kiện canh tác tốt. Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của nông
phẩm được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất giá cả sản xuất
cá biệt của nông phẩm trên ruộng đất trung bình và tốt. Nguồn gốc của địa tô chênh
lệch và địa tô nói chung là do lao động của công nhân nông nghiệp tạo ra. Từ những
sự phân tích trên, chúng ta viết ra những điều nhận xét về địa tô chênh lệch, vì nó số
chênh lệch giữa giá cả sản xuất cá biệt của nông phẩm. Địa tô chênh lệch gắn liền với
độc quyền kinh doanh TBCN về ruộng đất. Nói cách khác nó sinh ra là do có sự độc
quyền kinh doanh ruộng đất theo lối TBCN. Không có sự độc quyền về sức tự nhiên

cũng vì lẽ đó mà các nhà tư bản không muốn bỏ tư bản lớn đầu tư thâm canh, họ tìm
cách khai thác triệt để độ màu mỡ của ruộng đất trong thời hạn hợp đồng. C. Mác đã
chỉ ra rằng: mỗi một bước tiến của nền nông nghiệp TBCN không những là một
bước tiến trong nghệ thuật bọc lột công nhân, đồng thời còn là một bước tiến trong
nghệ thuật bóc lột đất đai.
Địa tô tuyệt đối dưới CNTB không phải chỉ các nhà tư bản kinh doanh trên ruộng đất
thuận lợi mới phải nộp tô, mà kinh doanh trên ruộng đất xấu cũng phải nộp tô cho địa
chủ. Đó là thực tế C. Mác gọi là loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nông
nghiệp tuyệt đối phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất đó là tốt hay xấu là địa tô tuyệt
đối vậy thì tư bản kinh doanh trên ruộng đất xấu lấy gì để nộp tô? Hiển nhiên không
thể lấy trong số lợi nhuận bình quân, mà phải là số lợi nhuận ngoài lợi nhuận bình
quân, là lợi nhuận siêu ngạch? Dưới chủ nghĩa tư bản lĩnh vực nông nghiệp lạc hậu
hơn so với lĩnh vực công nghiệp về kinh tế và kỹ thuật, nên cấu tạo hữu cơ của tư bản
trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp. Vì vậy, nếu tỷ suất giá trị thặng dư
bằng nhau thì tư bản bằng nhau đầu tư trong nông nghiệp sẽ thu được nhiều giá trị
thặng dư hơn trong công nghiệp. Do sự độc quyền tư hữu ruộng đất đã ngăn cản quá
trình tự do di chuyển tư bản vào nông nghiệp, do đó đã ngăn cản việc hình thành lợi
nhuận bình quân chung giữa công nghiệp và nông nghiệp. Nông sản được bán theo
giá thị trường vì thế số giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân (200m)
không bị bình quân hóa mà được giữ lại trong công nghiệp để nộp cho địa chủ. Độc
quyền tư hữu ruộng đất là nguyên nhân làm cho lợi nhuận siêu ngạch hình thành
trong nông nghiệp và làm cho nó chuyển thành địa tô. Do đó nếu không còn chế độ
độc quyền tư hữu ruộng đất nữa thì địa tô này sẽ bị xóa bỏ, giá cả nông sản sẽ bị hạ
xuống có lợi cho người tiêu dùng. Vậy địa tô tuyệt đối cũng là phần lợi nhuận ngoài
lợi nhuận bình quân hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong công nghiệp thấp
hơn trong công nghiệp, mà bất cứ nhà tư bản thuê lại ruộng đất nào cũng đều phải
nộp cho địa chủ. Nó là số chênh lệch giữa giá trị của nông phẩm với giá cả sản xuất
chung của nông phẩm.
Chúng ta cần thiết phải phân biệt, địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối chúng giống
nhau ở chỗ: cả hai đều là lợi nhuận siêu ngạch, đều có chung nguồn gốc và bản chất

dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông nghiệp, lâm nghiệp, không gì thay thế được,
và là tài nguyên quý giá của quốc gia. Nhà nước chuyển quyền sử dụng ruộng đất lâu
dài cho nông dân, và người sử dụng đất phải nộp thuế sử dụng đất; cho người nước
ngoài thuê đất để lập doanh nghiệp hay để xây dựng trụ sở ngoại giao; cho phép các
tổ chức, cá nhân người Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh với người nước
ngoài được góp vốn pháp định bằng giá trị đất sử dụng. Tuy hình thức địa tô tuyệt đối
không còn, nhưng ruộng đất vẫn là một tư liệu sản xuất có giá trị và người sử dụng
vẫn phải trả giá như là một loại địa tô.
Cơ sở của địa tô TBCN là quyền sở hữu ruộng đất. Đó là « hình thái dưới đó quyền
sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập » (C.Mác-
Ph. Ang hen - toàn tập- NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997, tr246). Đây là một
điểm giống với địa tô phong kiến.
Song địa tô TBCN có nhiều điểm khác hoàn toàn với địa tô phong kiến, đó là:
Thứ nhất, địa tô phong kiến biểu hiện quan hệ giữa hai giai cấp địa chủ và nông dân
thì địa tô TBCN biểu hiện giữa ba giai cấp. Tư bản kinh doanh nông nghiệp, địa chủ
và công nhân nông nghiệp.
Thứ hai, địa tô phong kiến dựa trên sự cưỡng bức siêu kinh tế của địa chủ với nông
dân, thì địa tô TBCN dựa trên cơ sở quan hệ kinh tế giữa địa chủ và tư bản, giữa tư
bản với người lao động làm thuê.
Thứ ba, địa tô phong kiến bao gồm toàn bộ những sản phẩm thặng dư của nông dân,
còn địa tô TBCN chỉ là một phần của nông dân, địa tô TBCN chỉ là một phần của giá
trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra.
Qua đó ta thấy rằng địa tô TBCN là bộ phận siêu ngạch do công nhân làm thuê trong
nông nghiệp tạo ra ( tức bộ phận giá trị thặng dư sau khi trừ đi lợi nhuận bình quân
của tư bản đầu tư vào nông nghiệp) và do nhà tư bản thuê đất nộp cho người sở hữu
ruộng đất.
4. Vì sao C.Mác khẳng định rằng : » Công lao lớn của phương thức sản xuất
TBCN là làm cho quyền sở hữu ruộng đất trở thành một điều phi lý ».
Quyền sở hữu ruộng đất về nguyên tắc chỉ liên quan trực tiếp đến việc thu địa tô.
CNTB đã hoàn thành việc tách rời quyền sở hữu khỏi quyền sử dụng đất đai và người

công bố Luật đất đai- Được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày
26/11/2003. Luật này được sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh hơn.
Về vấn đề sở hữu đất đai, trước khi có Luật đất đai và sau khi có Luật này đều khẳng
định: « Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện sở hữu ». Nhà nước thực
hiện quyền định đoạt đối với đất đai: quyết định mục đích sử dụng đất, quy định về
hạn mức giao đất, thời hạn sử dụng đất, định giá đất. Nhà nước thực hiện quyền điều
tiết các nguồn lợi đất đai thông qua các chính sách tài chính.
Trong thời gian dài sống trong thời kỳ cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp;
ruộng đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho chủ sử dụng đất là hợp tác xã Nông
nghiệp. Với suy nghĩ của xã viên hợp tác xã là: ruộng đất của hợp tác xã, đi làm theo
cách « đánh kẻng ghi tên » vì vậy không phát huy được năng suất của ruộng đất,
năng suất của cây trồng, bỏ phí nhiều ruộng hoang không khuyến khích được người
nông dân dám đầu tư, thâm canh để tăng năng suất cây trồng, sử dụng đất có hiệu
quả.
Mấy năm ngần đây, Đảng và Nhà nước có chủ trương đổi thửa, dồn nhiều ô thửa nhỏ
thành nhiều ô thửa lớn; chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp đặc biệt là
chuyển ruộng đất cấy lúa kém hiệu quả sang sản xuất đa canh nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế trên một đơn vị diện tích
Những việc làm trên của Đảng và Nhà nước ta đối với nông nghiệp, nông thôn và
nông dân đã làm rõ hai vấn đề về sở hữu đất và quyền sử dụng đất, giúp cho nông dân
đầu tưu có hiệu quả trên những thửa ruộng của mình, áp dụng các ứng dụng khoa học
kỹ thuật để tăng năng suất
Chính vì vậy, năng suất lúa , cây trồng tăng lên; diện tích đất nông nghiệp được sử
dụng hết và giao cho nông dân. Đất nước ta, trước đây là nước thiếu gạo, dân còn đói
ăn. Những năm gần đây, Việt Nam đã đủ gạo và thừa gạo để xuất khẩu, là nước đứng
thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.
Về vấn đề đất đai, đất nông nghiệp đã được Nhà nước quản lý chặt chẽ hơn, đề ra các
chính sách phù hợp với thời kỳ kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế có định
hướng XHCN như giá đất, các chính sách tài chính về đất: thu tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, điều tiết phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status