Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG ANH ĐỆ NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA THỜI VỤ,
PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG
GIỐNG NGÔ NẾP LAI HN88 TẠI CẨM PHẢ
- QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG Thái Nguyên, năm 2014Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các
thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Nông học,
Phòng Quản lý đào tạo sau đại học và Nhà trường về các thông tin, số liệu trong
đề tài.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Ngƣời viết cam đoan
Hoàng Anh Đệ
Hoàng Anh Đệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
4.1. Ý nghĩa khoa học 3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 8
1.2.3. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Quảng Ninh 11
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô của Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 16
1.3. Nghiên cứu về thời vụ trồng ngô trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.3.1. Nghiên cứu về thời vụ trồng ngô trên thế giới 17
1.3.2. Nghiên cứu về thời vụ gieo trồng ngô ở Việt Nam 20
1.4. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới và ở Việt Nam 22
3.1.5. Ảnh hưởng của thời vụ tới năng suát bắp tươi và năng suất thân lá
của giống ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 55
3.1.6. Ảnh hưởng của thời vụ tới chất lượng thử nếm của giống ngô nếp
lai HN88 tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 57
3.1.7. Ảnh hưởng của thời vụ đến trạng thái cây, trạng thái bắp, độ che
kín bắp của giống ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 58
3.1.8. Ảnh hưởng của thời vụ đến các yếu tố cấu thành năng suất của
giống ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 59
3.1.9. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất hạt khô của giống ngô
nếp lai HN88 tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 63
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến sinh trưởng, phát triển, năng
suất và chất lượng giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân (2013 và 2014) tại Cẩm Phả
- Quảng Ninh 64
3.2.1. Ảnh hưởng của các công thức phân bón vô cơ khác nhau đến các
giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân
(2013 và 2014) tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 64 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
3.2.2. Ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến các đặc điểm hình thái của giống
ngô nếp lai HN88 vụ Xuân (2013 và 2014) tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 65
3.2.3. Ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến khả năng chống chịu sâu, bệnh
hại và khả năng chống đổ của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân (2013 và
2014) tại Cẩm Phả - Quảng Ninh 68
3.2.4. Ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến năng suất bắp tươi và năng
suất thân lá của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân (2013 và 2014) tại
Cẩm Phả - Quảng Ninh 70
3.2.5. Ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến chất lượng thử nếm của giống
ĐK bắp : Đường kính bắp
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
IRRI : International Rice Research Institute (Viện Nghiên cứu
chương trình lương thực thế giới)
KL1000 hạt : Khối lượng 1000 hạt
LSD
.05
: Least significant difference (Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa 95%)
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
NXB : Nhà xuất bản
P : Probability (Xác suất)
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TB : Trung bình
TCN : Tiêu chuẩn ngành
TGST : Thời gian sinh trưởng
Tr : Trang
TW : Trung ương
X2013 : Vụ Xuân 2013
X2014 : Vụ Xuân 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2004- 2013 5
viii
Bảng 3.9b. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến các yếu tố cấu thành năng
suất của giống ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 61
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến năng suất thực thucủa giống
ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 63
Bảng 3.11. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống ngô nếp lai HN88
qua các tổ hợp phân bón vụ Xuân 2013 và 2014 tại Cẩm Phả, Quảng
Ninh 64
Bảng 3.12a. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô nếp lai HN88
qua các tổ hợp phân bón vụ Xuân 2013 và Xuân 2014 tại Cẩm Phả
Quảng Ninh 66
Bảng 3.12b. Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của giống ngô nếp lai HN88 qua các tổ
hợp phân bón vụ Xuân 2013 và Xuân 2014 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 67
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng chống đổ của giống HN88
tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 69
Bảng 3.14. Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của giống HN88 qua các tổ hợp phân
bón tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 69
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất bắp tươi và năng suất thân
lá của giống ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 71
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng thử nếm của giống HN88
tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 72
Bảng 3.17a. Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
giống HN88 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 72
Bảng 3.17b. Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của
giống ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh 74
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của phân bón đến năng suấtgiống ngô nếp lai HN88 tại
Cẩm Phả, Quảng Ninh 74
Bảng 3.19. Hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón khác nhau 75
ngô nếp địa phương có chất lượng thay đổi khi được trồng vào các vùng hoặc các
mùa vụ khác nhau. Còn đối với ngô nếp lai, liệu chất lượng có thay đổi khi được
trồng vào các thời vụ khác nhau và các mức phân bón khác nhau. Những nghiên cứu
về kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến chất
lượng sản phẩm của ngô nếp hầu như chưa được nghiên cứu ở nước ta. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
Quảng Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam với hơn 80% đất đai
là đồi núi. Đất nông nghiệp đang sử dụng là 75.370 ha chiếm 12,3% diện tích đất tự
nhiên (611.081,3 ha). Như vậy, quĩ đất nông nghiệp của tỉnh rất thấp, phải lựa chọn
cây trồng phù hợp, có hiệu quả kinh tế cao và áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật
canh tác. Cây ngô nếp là cây trồng đáp ứng được các yêu cầu trên, đồng thời phù
hợp với một tỉnh có tiềm năng phát triển du lịch. Hiện nay, người nông dân trong
tỉnh trồng ngô nếp áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác đơn giản theo truyền
thống nên năng suất và chất lượng còn thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Trong các
biện pháp kỹ thuật canh tác thì thời vụ gieo trồng và phân bón ảnh hưởng rất lớn
đến năng suất và chất lượng ngô nếp.
Xuất phát từ nhũng cơ sở khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ, phân bón đến năng suất
và chất lượng giống ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả - Quảng Ninh”.
2. Mục đích của đề tài
Xác định được thời vụ gieo trồng và công thức phân bón phù hợp với giống
ngô nếp lai HN88 tại Cẩm Phả - Quảng Ninh.
3. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn phát dục của giống ngô nếp
lai HN88 qua các thời vụ và các tổ hợp phân bón khác nhau.
- Đánh giá đặc điểm hình thái và sinh lý của giống ngô nếp lai HN88 qua các
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện
thời tiết, khí hậu cũng như đất đai. Tùy từng giống cụ thể mà yêu cầu điều kiện sinh
thái khác nhau. Do vậy mà việc nghiên cứu xác định thời vụ thích hợp nhằm đạt
năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất, để cây trồng phát triển trong điều kiện thuận
lợi nhất để phát huy hết tiềm năng của giống là hết sức cần thiết.
Ngoài ra, ngô cũng là cây phàm ăn, muốn đạt năng suất cao thì cần xác định
được nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong suốt thời gian sinh trưởng và trong mỗi
giai đoạn. Bên cạch đó phải hiểu rõ mối quan hệ giữa nước – phân, đất – phân,
giống – phân cũng như điều kiện sinh thái của từng vùng, từng vụ, chế độ canh tác,
mật độ trồng.
Thời vụ gieo trồng và công thức phân bón thích hợp là một trong những yếu tố
quan trọng của ngành trồng trọt. Vì vậy, nghiên cứu và thực hiện chế độ thời vụ và
lượng phân bón hợp lý đối với mỗi loại cây trồng, loại giống, mỗi công thức luân
canh trong từng vùng khí hậu đất đai là vấn đề hết sức quan trọng. Việc xác định
thời vụ và lượng phân bón thích hợp cho từng giống sẽ tận dụng được tối đa tiềm
năng cho năng suất của giống. Cùng một vùng sinh thái, cùng một giống và biện
pháp kỹ thuật chăm sóc giống nhau được so sánh qua những thời vụ gieo trồng khác
nhau, lượng phân bón khác nhau sẽ biểu hiện khả năng sinh trưởng, phát triển và
cho năng suất khác nhau.
Là một tỉnh phát triển mạnh về du lịch, Quảng Ninh được xem là tỉnh có rất
nhiều tiềm năng để phát triển những cây trồng phục vụ khách du lịch mang lại hiệu
quả kinh tế, trong đó đáng quan tâm hiện nay đó chính là ngô nếp. Với diện tích đất
nông nghiệp không nhiều đòi hỏi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo an ninh lương thực
của vùng và hơn thế nữa là có thể mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân.
Xuất phát những cơ sở khoa học trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài này.
2005
147,44
48,42
713,91
2006
148,61
47,53
706,31
2007
158,60
49,63
788,11
2008
161,01
51,09
822,71
2009
156,93
50,04
790,18
2010
162,32
51,55
820,62
2011
170,39
51,84
883,46
2012
178,55
Châu Mỹ
70,84
73,82
522,90
Châu Âu
18,97
61,92
117,48
Châu Phi
34,93
20,33
71,01
(Nguồn: FAOSTAT, 2014)[57]
Qua bảng 1.2 ta thấy Châu Á là khu vực có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 sau
Châu Mỹ với 59,40 ha, năng suất ngô đạt 51,23 tạ/ha, sản lượng đạt 304 triệu tấn và
thấp hơn châu Mỹ 218 triệu tấn. Châu Mỹ năm 2013 năng suất ngô đạt 73,82 tạ/ha,
là năng suất ngô cao nhất thế giới. Châu Âu đứng thứ 2 trên thế giới về năng suất
đạt 61,92 tạ/ha nhưng lại là khu vực có diện tích trồng ngô thấp nhất (chỉ 18,97 triệu
ha), châu Phi có diện tích đứng thứ 3 trên thế giới nhưng có năng suất ngô rất thấp,
chỉ đạt 20,33 tạ/ ha thấp hơn gần 3 lần so với năng suất bình quân của thế giới, do
đó sản lượng ngô của khu vực này cũng thấp nhất. Nguyên nhân của sự phát triển
không đồng đều giữa các châu lục trên thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình
độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế chính trị … Ở châu Mỹ
có trình độ khoa học phát triển cao trong khi Châu Phi nền kinh tế kém phát triển
cộng thêm tinh hình chính trị an ninh không đảm bảo đã làm cho sản xuất nông
nghiệp ở khu vực này tụt hậu so với nhiều khu vực trên thế giới (Nguồn FAOSTAT,
2014)[57].
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô, lúa mì, gạo lúa
của thế giới năm 2013
Loại cây trồng
745,17 triệu tấn (FAOSTAT, 2014) [57]. Điều đó chứng tỏ vai trò và vị trí của cây
ngô ngày càng được coi trọng trong nền kinh tế.Công tác nghiên cứu lai tạo giống
ngô hiện nay đang có bước chuyển biến mới, đó là ứng dụng công nghệ sinh học
trong chọn tạo dòng thuần. Những năm gần đây, việc nghiên cứu chọn ra những
dòng đơn bội kép (Double haploid), bằng nuôi cấy invitro đã giúp cho công việc
chọn tạo dòng thuần một cách nhanh chóng, tiết kiệm được hơn nửa thời gian so với
việc tạo dòng bằng các phương pháp invitro cụ thể dựa vào kỹ thuật nuôi cấy một
trong ba bộ phận sinh sản của cây ngô là bao phấn, hạt phấn tách rời và noãn chưa
được thụ tinh. Gần đây người ta nghiên cứu thành công phương pháp mới tạo dòng
thuần bằng cách dùng dóng kích tạo đơn bôi. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về đơn
bội ngô đã bắt đầu tại Viện Di Truyền Nông Nghiệp Việt Nam từ năm 1995. Viện
đã xây dựng hoàn chỉnh quy trình nuôi cấy bao phấn ngô để tạo dòng đồng hợp tử
phục vụ cho công tác chọn tạo giống. Hiện nay kỹ thuật nuôi cấy bao phấn là một
trong những hướng nghiên cứu tạo dòng thuần có triển vọng, phương pháp này cho
kết quả khá ổn định và có hiệu quả, tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng giống, Viện
Di Truyền Nông Nghiệp đã phát triển các phương pháp khác để tạo dòng thuần, như
phương pháp nuôi cấy noãn chưa thụ tinh và dung dòng kích thích tạo đơn bội.
Trung tâm cải tạo ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT), đã xây dựng, cải thiện và
phát triển khối lượng nguồn nguyên liệu, vốn gen, các quần thể và giống thí
nghiệm, cung cấp cho khoảng hơn 80 nước trên thế giới thông qua mạng lưới khảo
nghiệm giống quốc tế. Các nguồn nguyên liệu mà chương trình ngô CIMMYT cung
cấp cho các nước là cơ sở cho chương trình tạo dòng và giống lai. Năm 1985,
chương trình ngô lai của CIMMYT được tiến hành với mục tiêu phát triển các vật
liệu mới phục vụ chọn tạo giống lai, tích lũy và công bố KNKH và các nhóm ưu thế
lai của các vật liệu nhiệt đới và cận nhiệt đới mà CIMMYT đã có, đồng thời tiến
hành tạo dòng thuần. Gần đây, CIMMYT đẩy mạnh chương trình tạo giống ngô
chất lượng Protein cao và đạt được những kết quả quan trọng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(tạ/ ha)
Sản lƣợng
(nghìn tần)
2004
991,1
34,6
3.430,9
2005
1.052,6
36,2
3.787,1
2006
1.033,1
37,3
3.854,5
2007
1.096,1
39,3
4.303,2
2008
1.140,2
40,2
4.573,1
2009
1.086,8
40,8
4.431,8
2010
1.126,9
40,9
44,3 tạ/ha. Điều này đặt ra cho ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và
khó khăn to lớn, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay. Đòi
hỏi đội ngũ chuyên môn cũng như các nhà khoa học trong cả nước tiếp tục lỗ lực,
nghiên cứu ra những giống ngô va biện pháp kỹ thuất canh tác hiệu quả để nâng cao
năng suất và chất lượng của sản xuất ngô Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của
ngành nông nghiệp Việt Nam (FAOSTAT, 2014) [57].
Năm 1991 diện tích trồng giống ngô lai chưa đến 1% trong tổng số 400.000
ha, năm 2004 diện tích trồng ngô của cả nước là 991,1 nghìn ha, năng suất đạt 34,9
tạ/ha và sản lượng là 3.430,9 triệu tấn. Tỷ lệ diện tích trồng bằng giống lai là 84%,
năm 2007 giống lai đã chiếm khoảng 95% trong số hơn 1 triệu ha. Để đạt được
thành quả này trong thời gian qua là nhờ những tiến bộ và việc chọn được nguồn
nguyên liệu ban đầu phù hợp cho việc tạo dòng thuần là các giống lai ưu tú của
chương trình phát triển giống ngô lai ở nước ta.
Sự phát triển ngô ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng như các nước
trong khu vực đánh giá cao. Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ
nghiên cứu tạo giống ngô và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao (công nghệ
gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu Tình, 2003)[37].
Một thực trạng đặt ra hiện nay là mặc dù diện tích, năng suất và sản lượng ngô
của nước ta đều tăng nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giới năng suất ngô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
nước ta còn rất thấp, mặt khác nhu cầu sử dụng ngô của Việt Nam ngày càng lớn.
Vấn ðề này ðặt ra nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết cho các cõ quan nghiên cứu
chọn tạo giống là tạo ra các giống ngô có nãng suất cao, chống chịu tốt ðồng thời ðáp
ứng ðýợc cả yêu cầu về chất lýợng.
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô ở các vùng năm 2013
Vùng
ĐB sông Cửu Long
40,3
56,1
226,1
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2014)[38]
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy diện tích sản xuất ngô lớn nhất (505,8
nghìn ha) nhưng năng suất lại thấp nhất trong cả nước (37,6 tạ/ha). Ngược lại vùng
đồng bằng sông Cửu Long diện tích sản xuất nhỏ nhất (40,3 nghìn ha), nhưng lại cho
năng suất cao (56,1 tạ/ha) thứ 2 chỉ sau Đông Nam Bộ (57,6 tạ/ha). Sự trái ngược này
có thể được giải thích do nhiều nguyên nhân: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy
có diện tích lớn song chủ yếu tập trung ở các vùng miền núi, diện tích rải rác nhỏ lẻ
thuộc các vùng dân tộc ít người. Họ không có đủ điều kiện đầu tư về vốn cũng như các
biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp mà chủ yếu canh tác theo lối truyền thống lạc hậu.
Cộng thêm vào đó là các điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng, khí hậu khắc nghiệt với
hạn hán và rét kéo dài vào mùa đông, lượng mưa phân bố không đều trong năm dẫn tới
năng suất thấp. Tuy nhiên, với ưu thế về diện tích (chiếm 43,14% diện tích của cả
nước) nên sản lượng chung của vùng vẫn cao hơn các vùng khác, đạt 1.904,2nghìn tấn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
chiếm 36,67% sản lượng của cả nước và trở thành một trong những vùng sản xuất ngô
trọng điểm cung cấp lượng ngô lớn nhất cả nước.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có năng suất cao nhất đạt 56,1 tạ/ha bằng
126,7% năng suất trung bình của cả nước do vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi,
phù hợp với yêu cầu sinh trưởng, phát triển của cây ngô như: nhiệt độ bình quân cao
25 - 30
o
C, nguồn ánh sáng dồi dào, hệ thống thủy lợi đảm bảo nhu cầu tưới tiêu, nền
toàn tỉnh tăng nhanh.
Qua bảng 1.6 cho thấy: Từ năm 2003 đến năm 2010 diện tích ngô của tỉnh
Quảng Ninh tăng từ 5,5 nghìn ha đến 6,6 nghìn ha. Nhưng đến năm 2013 diện tích lại
giảm xuống còn 5,8 nghìn ha. Năng suất ngô của tỉnh tăng đều từ 30,2 tạ/ha năm
2003 lên 38,6 tạ/ha vào năm 2013, tăng 8,4 tạ/ha so với năm 2003. Sản lượng tăng từ
16,7 nghìn tấn năm 2003 lên 22,4 nghìn tấn vào năm 2013, tăng 5,7 nghìn tấn. Tuy nhiên
năng suất ngô trung bình của tỉnh Quảng Ninh vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất ngô
của cả nước, năng suất ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng 87% năng suất ngô của cả
nước.Sản xuất ngô ở Quảng Ninh cần được quan tâm và đầu tư phát triển nhiều hơn,
mạnh hơn nữa như: Tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo trồng ngô trên
đất đồi, đất bãi ở vụ hè thu. Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất nhằm khai
thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của tỉnh đặc biệt là những huyện vùng thấp.
Bảng 1.6. Sản xuất ngô của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2003 - 2013
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(nghìn tấn)
2003
5,5
30,2
16,7
2004
5,9
33
19,4
2005
6,5
2013
5,8
38,6
22,4
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2014)[38]
Ngoài việc trồng thâm canh ngô ở những vùng thuận lợi, cần tăng cường sử
dụng các giống ngô thụ phấn tự do cải tiến ở những vùng khó khăn, nhằm tăng năng
suất, sản lượng và chất lượng ngô, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần xóa đói giảm
nghèo cho nông dân. Đặc biệt phải tiến hành nghiên cứu các tổ hợp phân bón cho
ngô, kết hợp nghiên cứu các phương thức trồng xen và mở rộng những nghiên cứu ra
sản xuất nhằm đảm bảo nhu cầu an ninh lương thực, đồng thời nâng cao được chất
lượng lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, đặc biệt góp phần giảm giá
thành sản phẩm ngành chăn nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế của tỉnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
Bảng 1.7. Sản xuất ngô của Tỉnh Quảng Ninh chia theo các huyện, thị xã, thành phố giai đoạn 2003 – 2013
Năm
Toàn tỉnh
Hạ
Long
Móng
Cái
Cẩm
Phả
Uông
Bí
Quảng
15
2003
Diện tích
5.515,00
30
300
100
200
150
600
350
850
1.300
400
100
4.810,00
812,00
250,00
780,00
2.100,00
92,75
2004
Diện tích
5.871,00
50
289
100
300
200
600
705
660
1752
1200
3240
6000
660
240
630
2960
86,4
2005
Diện tích
6.478,00
48
Lượng
22.349,10
99,84
714,00
235,00
496,00
1.029,00
1.734,00
1.595,00
3.770,00
6.880,00
600,00
204,00
788,00
4.400,00
82,50
2006
18,9
19,5
22,1
30
Sản
Lượng
18.478,20
95,85
968,00
250,00
500,00
704,00
1.284,00
1.650,00
3.540,00
6.320,00
609,00
189,00
780,00
1.547,00
105,00
2007
30
36,4
38
43,9
22,7
22,1
21,6
22,1
33,5
Sản
Lượng
21.517,45
100
1104
247
795
672
1800
2184
4180
7463
681
221
648
1326
117,25
2008
400
500
30
Năng suất
34,9
20
26,9
25
26,6
34,5
30,7
39,6
39,3
45,2
21,8
25
25,4
22
30
Sản
Lượng
23.662,20
100,00
1.076,00
250,00
798,00
690,00
1.842,00
2.772,00
5.109,00
720
1.300
1.650
350
60
400
210
35
Năng suất
35,9
20,3
25,9
27
30,4
34,6
31,8
40,7
39,2
45,2
20,2
24,3
25,1
25,4
30,6
Sản
Lượng
22.670,85
121,80
1.087,80
162,00
400
100
200
200
600
700
1.200
1.800
300
100
400
300
40
Năng suất
36,6
20
27,7
28,5
28
34,4
32,7
42,1
38,8
43,1
26,5
22,3
26,7
37,5
35
Sản
Diện tích
6.538,00
100
400
100
200
200
600
800
1.200
1.800
300
100
400
300
38
Năng suất
37,9
20,4
27,9
35
30,8
34,4
32,9
43,7
39,9
45
28,4
Diện tích
6.575,00
100
400
100
185
200
600
800
1.250
1.800
300
100
400
300
40
Năng suất
37,5
26
27
33
30
35
Diện tích
6.620,00
100
400
100
200
200
600
800
1.200
1.780
380
100
400
320
40
Năng suất
37,4
140,00
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2014 [7]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15