Hà Nội
Tháng 08/2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
MÔN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
PGS.TS Đặng Thị Nhàn
Nghiên cứu về EMU - Đồng EURO và
khả năng hình thành liên minh tiền tệ và một
đồng tiền chung Châu Á
Nhóm học viên :
Trần Thị Mai Anh
Trần Tuấn Nhã
Trần Văn Thắng
Lớp cao học : Thương mại 6ANỘI DUNG
1.Triển vọng về một đồng tiền chung Châu Á 3
2.Lợi ích của việc thống nhất tiền tệ 4
3.Chi phí của việc thống nhất tiền tệ 6
4.Thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành đồng tiền chung 7
5.Định giá đồng tiền chung Châu Á 8
2
Trong vài thập kỉ trở lại đây, xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa nổi lên như
là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển, đã và đang khuyến khích sự ra đời của các
liên minh tiền tệ. Sau sự ra đời của Liên minh tiền tệ châu Âu, lý thuyết và thực
tiễn đều cho thấy rằng ở Châu Á (ASEAN) có thể và có đủ khả năng hình thành
một liên minh tiền tệ của khu vực.
Nhận thức được điều đó, các nước Châu Á, đặc biệt là những nước trong khu
vực Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc đang từng bước thực hiện những bước đi
vững chắc tạo tiền đề cho sự hình thành một liên minh tiền tệ của khu vực mà ban
3
chung ra đời, Châu Á sẽ có tiền đề cho những triển vọng lớn hơn nữa trên bình diện
toàn cầu. Rất có thể trên thế giới sẽ xuất hiện một trung tâm tài chính thứ ba (sau
Mỹ và châu Âu) liên kết các nền kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương,
mà chất kết dính nó chính là đồng AMU.
Châu Á được lợi nhờ tham khảo kinh nghiệm của quá trình hình thành đồng
tiền chung châu Âu (đồng EURO kéo dài 40 năm). Đến nay, việc công bố sử dụng
đồng AMU (2006) khá tương tự như đồng ECU, thành lập Quĩ châu Á, cho ra đời
thị trường trái phiếu Châu Á, qui định các điều kiện chuẩn bị gia nhập khu vực…
dường như mô phỏng lại quá trình hình thành Eurozone. Theo đánh giá của các
chuyên gia tài chính Châu Á, việc ra đời của đồng AMU sẽ nhanh hơn đồng Euro.
Tuy nhiên quá trình hình thành và đưa vào sử dụng đồng AMU cũng sẽ gặp
một số khó khăn. Khó khăn lớn nhất cho việc ra đời đồng tiền chung là sự khác biệt
lớn giữa các thành viên và cốt lõi của quá trình chuẩn bị cho Aszone là đạt được sự
thống nhất trong sự khác biệt quá lớn này. Do tính đa dạng về kinh tế, văn hóa,
chính trị giữa các quốc gia Châu Á cũng hình thành nhiều cấp độ phát triển kinh tế
khác nhau trong khu vực, tạo nên khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển của
quốc gia, dẫn đến việc xác định khác nhau giữa các lợi ích và vấn đề ưu tiên trong
hợp tác. Khoảng cách chênh lệch trên cũng tạo bất lợi đối với các nước kém phát
triển trong phân công lao động quốc tế, do các nước lớn có lợi thế hơn về vốn, công
nghệ và khả năng cạnh.
2. Lợi ích của việc thống nhất tiền tệ
− Kích thích phát triển thương mại
Việc sử dụng đồng tiền chung giúp hạn chế chi phí giao dịch liên quan đến
chuyển đổi các đồng tiền khác nhau, góp phần kích thích tăng khối lượng thương
mại, thúc đẩy mối liên kết kinh tế, tài chính, tiền tệ, thậm chí cả về chính trị, từ đó
đẩy mạnh phồn vinh kinh tế của các nước thành viên. Ngoài ra, việc thống nhất tiền
tệ giúp tạo môi trường đầu tư ổn định hơn với chi phí rủi ro giảm đáng kể.
− Các yếu tố sản xuất được phân bổ hiệu quả
Việc các nước áp dụng các biện pháp kiểm soát chu chuyển vốn và phân biệt
Việc tất cả hàng hóa và dịch vụ trong khu vực đều được yết giá bằng đồng
tiền chung gây ra khó khăn đối với các nhà sản xuất mong muốn duy trì chênh lệch
giá giữa các thị trường khác nhau. Quy luật cạnh tranh buộc các công ty đa quốc
gia phải áp dụng chính sách định giá hàng hóa thống nhất trên cơ sở mức giá thấp
nhất trong khu vực khối => người tiêu dùng được lợi, trong khi đó các công ty đa
quốc gia giảm lợi nhuận.
− Lợi ích ngăn ngừa, kiểm soát khủng hoảng của khu vực
Sự hợp tác tiền tệ giúp các nước có sự liên hệ chặt chẽ hơn về kinh tế cũng
như các chính sách điều tiết vĩ mô, giúp giảm thiểu sự lây lan ra các nước trong khu
vực khi một nước gặp khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 đã cho thấy rằng các cơ chế quốc tế
để hỗ trợ tài chính hiện có (do IMF phối hợp) là không đủ đối với các nước. Các
nguồn vốn do IMF nỗ lực cung cấp chưa đủ về quy mô, tốc độ giải ngân quá chậm
và thường đi kèm với những điều kiện kinh tế vĩ mô không phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể của các quốc gia bị khủng hoảng. Việc một số nước tích luỹ các nguồn dự
trữ ngoại tệ lớn để đối phó với các cuộc tấn công của giới đầu cơ trong tương lai là
một việc làm rất tốn kém, do đó các nước có thể tiết kiệm các nguồn vốn đó bằng
cách kết hợp các quỹ dự trữ của các nước trong khu vực với nhau.
Bên cạnh đó, cạnh tranh kinh tế giữa các nước có thể gây khó khăn cho sự
phát triển ổn định của từng nước cũng như khu vực. Gần đây, các nước ASEAN
tăng tỷ lệ thương mại nội bộ và cũng do các sản phẩm xuất khẩu của họ thường
5
cạnh tranh với nhau trên các thị trường thứ ba. Điều này khiến cho một số nước có
động cơ để phá giá nhằm tăng khả năng cạnh tranh. Do đó thay vì phá giá để tăng
khả năng cạnh tranh cho riêng hàng hoá nước mình, một cơ chế phối hợp tỷ giá hối
đoái trong khu vực có thể sẽ mang lại thế cân bằng hợp tác tốt hơn và đem lại lợi
ích cho cả hai bên.
− Lợi ích ổn định tỷ giá hối đoái
Khi thống nhất tiền tệ các nước với nhau có thể khắc phục được những hạn
chế của chế độ tỷ giá cố định hay thả nổi mà các nước Châu Á hiện đang sử dụng.
này tạo ra hậu quả xã hội khá nghiêm trọng vì lực lượng lao động ở đây là lao động
chính có tầm quan trọng trong khu vực.
− Chi phí thời kỳ quá độ
Khi quyết định sử dụng đồng tiền chung các quốc gia thành viên phải chịu chi
phí gọi là chi phí thời kì quá độ bao gồm chi phí thu hồi đồng bạc hiện hành, in
đồng bạc chung, thay đổi hệ thống thông tin phù hợp với đồng tiền chung.
4. Thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành đồng tiền chung
Thuận lợi:
Hiện nay, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vào tháng 06/2006 đã khởi
động đơn vị tiền tệ châu Á - một chỉ số có trọng số của rổ tiền tệ Châu Á, theo đó
coi đây là công cụ để giám sát những biến động về giá trị của các đồng tiền trong
khu vực. Đây là lần đầu tiên mà một tổ chức quốc tế như ADB tạo ra một chỉ số
như vậy cho Châu Á. ADB hiện đang nghiên cứu để 40 nước Châu Á đều được
tính trong chỉ số của đồng tiền chung. Tuy nhiên, ban đầu, ADB có kế hoạch để tạo
ra một chỉ số của tiền tệ Đông Á bao gồm chỉ có 15 nền kinh tế: 10 nước ASEAN
cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong và Đài Loan. Chỉ số này
có thể sau đó được mở rộng để bao gồm các quốc gia khác như Ấn Độ, Australia
và New Zealand.
Bên cạnh đó, các hội nghị và hiệp định trong khu vực về vấn đề đồng tiền
chung cũng đã và đang được tiến hành, mà gần đây nhất là hội nghị giữa các Bộ
trưởng tài chính và các thống đốc ngân hàng trung ương của các thành viên
ASEAN10+3 và Cơ quan tiền tệ Hồng Kông tại Manila vào ngày 3/5/2012. Tiền tệ
khu vực và hợp tác tài chính cũng đã tăng lên rõ rệt kể từ khi cuộc khủng hoảng tài
chính châu Á năm 1997-1998. Tỷ lệ phần trăm của dòng vốn FDI trong khu vực đã
tăng từ khoảng 50% năm 2000 lên 79% vào năm 2005. Tương tự như vậy, tỷ lệ
phần trăm tài sản danh mục đầu tư trong khu vực được tổ chức bởi các nước trong
khu vực đã tăng gấp đôi từ 8% tổng tài sản đầu tư năm 2002 lên 16% trong năm
2007. Đông Á đã tiến nhất trong các điều khoản của hợp tác tiền tệ và tài chính.
Các nước Châu Á, đặc biệt là khối ASEAN10+3 cũng đang từng bước tiến
hành các tiền đề cho một khu vực tiền tệ chung như cắt giảm các hàng rào thuế
(năm 2011) và khoảng cách về mức sống: thu nhập bình quân đầu người các nước
như Singapo, Brunây, Malaysia gấp 10-16 lần các nước như Lào, Campuchia, Việt
Nam. Cư dân các nước trong khu vực cũng ít hiểu biết về dân tộc, văn hóa các
nước láng giềng, trình độ dân trí, khoa học kĩ thuật các nước cũng chênh lệch quá
lớn.
Để khắc phục những khác biệt, bất đồng, mâu thuẫn như trên cần các quốc gia
phải có thiện ý hợp tác và tốn một khoảng thời gian dài nên việc hình thành đồng
tiền chung AMU sẽ còn xa, có thể 20 năm, 50 năm tùy thuộc tình hình kinh tế,
chính trị và sự hợp tác của các nước khu vực.
5. Định giá đồng tiền chung Châu Á
Tính giá đồng AMU theo phương pháp tính đồng ECU (đồng tiền chung
Châu Âu):
Theo phương pháp này, ta chọn đồng tiền của các nước ASEAN10+3 làm
thành phần cấu tạo nên đồng AMU. Các nước ASEAN10+3 gồm có Brunei,
Campuchia, Inđônêxia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái
Lan, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc. Đồng AMU sau này có thể
được mở rộng thêm, gồm các nước Hồng Kông, Đài Loan và có thể cả Úc,
Newzealand, Ấn Độ.
8
Đồng AMU được coi là đại diện cho giá trị trung bình tiền tệ của các nước
ASEAN10+3. Ta tính toán đồng AMU theo các phương pháp được sử dụng để tính
toán đơn vị tiền tệ Châu Âu (ECU) được các nước EU thông qua theo Hệ thống
Tiền tệ châu Âu (EMS) trước khi có sự ra đời của đồng Euro vào năm 1999.
Tương tự cách mà ECU được định nghĩa là một rổ tiền tệ của các nước thành
viên EU, đồng AMU được coi là một rổ tiền tệ của ASEAN10 +3. Trọng lượng của
mỗi đồng tiền trong rổ được tính toán dựa trên tỷ trọng GDP tương ứng của các
quốc gia dựa vào ngang giá sức mua của tiền tệ (PPP), và khối lượng thương mại
(tổng lượng xuất khẩu và nhập khẩu) trong tổng số các nước lấy mẫu cho các quốc
gia có liên quan.
Giá trị của đồng AMU được tính so với bình quân gia quyền của đồng USD
%
Tỷ trọng trung
bình %
Tỷ giá
chuẩn***
Tỷ trọng
AMU
(a) (b) (c) = (a+b)/2 (d) (c)/(d)
Brunei BN$ 0.35 0.12 0.24 0.589114 0.0040
Campuchia CBR 0.18 0.16 0.17 0.000270 6.2017
Trung Quốc CNY 27.14 49.84 38.49 0.125109 3.0765
Indonesia IDR 5.42 5.25 5.34 0.000113 472.2701
Nhật JPY 21.89 26.30 24.10 0.009065 26.5817
Hàn Quốc KRW 13.46 7.87 10.67 0.000859 124.1471
Lào LOK 0.14 0.08 0.11 0.000117 9.4017
Malaysia MLR 7.21 2.21 4.71 0.272534 0.1729
Myanma MYK 0.42 0.24 0.33 0.159215 0.0208
Philipin PLP 2.08 1.97 2.03 0.021903 0.9247
Singapo SP$ 12.27 1.45 6.86 0.589160 0.1165
Thái Lan THB 6.53 3.11 4.82 0.024543 1.9639
Việt Nam VND 2.91 1.39 2.15 0.000072 298.7892
Các số liệu tính đến thời điểm tháng 10/2011
*Khối lượng thương mại của từng nước được tính bằng trung bình của tổng lượng nhập khẩu và
xuất khẩu trong 3 năm 2007, 2008, 2009 (nguồn IMF)
**GDP đo bằng PPP của từng nước là trung bình của GDP đo bằng PPP vào năm 2007, 2008,
2009 theo số liệu từ Báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới
***Tỷ giá chuẩn (US$-EURO/đồng tiền tính) là trung bình các tỷ giá hàng ngày của US$-EURO
năm 2000 và 2001
Do chưa cập nhật được số liệu năm 2010-2011 nên ta lấy số liệu trung bình trong 3 năm 2007-
2009 là 3 năm gần nhất, phản ánh các mối quan hệ thương mại gần đây nhất và điều kiện kinh tế
Năm chuẩn: 2000/2001
Đóng góp vào
CMIM*
(Tỷ USD)
Tỷ trọng
CMIM %
Tỷ giá chuẩn** Tỷ trọng AMU
(a) (b) (c) (b)/(c)
Brunei 0.03 0.025 0.589114 0.0004
Campuchia 0.12 0.100 0.000270 3.6969
Trung Quốc 34.20 28.500 0.125109 2.2780
Hồng Kông 4.20 3.500 0.132842 0.2635
Indonesia 4.77 3.975 0.000113 352.8940
Nhật 38.40 32.000 0.009065 35.3024
Hàn Quốc 19.20 16.000 0.000859 186.1856
Lào 0.03 0.025 0.000117 2.1368
Malaysia 4.77 3.975 0.272534 0.1459
Myanma 0.06 0.050 0.159215 0.0031
Philipin 3.68 3.067 0.021903 1.4001
Singapo 4.77 3.975 0.589160 0.0675
Thái Lan 4.77 3.975 0.024543 1.6196
Việt Nam 1.00 0.833 0.000072 116.4928
Tổng 120.00
*Đóng góp vào CMIM được quyết định trong Hội nghị Bộ trưởng tài chính Asean+3 lần thứ 12
vào ngày 2/5/2010. Tổng lượng đóng góp là 120 tỷ USD.
(http://www.mof.go.jp/english/international_policy/financial_cooperation_in_asia/100324press_re
lease.pdf)
**Tỷ giá chuẩn (US$-EUR/đồng tiền tính) là trung bình của tỷ giá hàng ngày của US$-EUR năm
2000 và 2001
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Tiến: Tài chính quốc tế hiện đại- Xuất bản lần thứ tư; Nhà xuất
bản thống kê, Hà Nội, 2005.
2. TS. Lê Phan Thị Diệu Thảo, Khủng hoảng Hy Lạp -thách thức cho đồng
Euro; 13/5/2010;
http://www.thesaigontimes.vn/Home/thegioi/kinhtecacnuoc/34359/
3. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
4. Các website:
− http://www.mof.go.jp/english/international_policy/financial_cooperatio
n_in_asia/100324press_release.pdf
− http://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/10/100726.html
− http://www.rieti.go.jp/users/amu/en/cmi.html
− http://fx.sauder.ubc.ca/ECU.html
− http://www.imf.org/external/index.htm
− http://www.worldbank.org/
− http://www.aseansec.org/about_ASEAN.html
− http://www.adb.org/
15