tiểu luận môn sở hữu trí tuệ quyền bảo hộ giống cây trồng ở việt nam - Pdf 25

Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hộ giống cây trồng là hệ thống sở hữu trí tuệ đặc thù liên quan tới giống
cây trồng. Bảo hộ giống cây trồng có những nét đặc thù riêng so với các dạng sở hữu
trí tuệ khác do cây trồng là một cơ thể sống, có sự biến đổi trong quá trình tồn tại. Việc
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng đã xuất hiện ở một số quốc gia
trên thế giới gần 100 năm trước. Trên cơ sở đó, Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây
trồng được ra đời lần đầu tiên tại Paris vào năm 1961. Trải qua thời gian, sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nghiên cứu nói chung và trong chọn tạo
giống cây trồng nói riêng cùng với sự phát triển của xã hội đòi hỏi một cơ chế bảo hộ
chặt hơn để ngăn chặn sự vi phạm quyền tác giả giống cây trồng.
Việt Nam quan tâm đến bảo hộ giống cây trồng từ 1995, khi xuất hiện nhu cầu
bảo hộ giống cây trồng của các tác giả Việt Nam. Mặt khác, việc chuyển đổi kinh tế từ
bao cấp sang kinh tế thị trường với sự tham gia của thành phần kinh tế tư nhân trong
đó có các công ty nước ngoài tạo nên nhu cầu cần phải xây dựng một hệ thống bảo hộ
giống cây trồng quốc gia để khuyến khích nhiều giống tốt, chất lượng cao ra đời nhằm
phục vụ lợi ích xã hội tốt hơn.
Sau hơn 11 năm nỗ lực xây dựng và phát triển hệ thống bảo hộ giống cây trồng
quốc gia, tới nay bảo hộ giống cây trồng của Việt Nam gồm hệ thống các văn bản
pháp lý tương thích với Luật 1991, Công ước UPOV và hệ thống cơ quan thực thi các
văn bản pháp luật này. Vì vậy, nhóm học viên chọn đề tài liểu luận “Luật sở hữu trí tuệ
về bảo hộ giống cây trồng” nhằm đưa ra những nội dung cơ bản trong luật bảo hộ
giống cây trồng ở Việt Nam và trên thế giới cũng như thực trạng bảo hộ giống cây
trồng tại Việt Nam.
Trang 2
I. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LUẬT BẢO HỘ GIỐNG CÂY
TRỒNG TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về giống cây trồng
Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật
thấp nhất. Quần thể này đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có
thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của

bất kỳ quốc gia nào;
c) Giống cây trồng là đối tượng trong đơn đăng ký bảo hộ hoặc đơn đăng ký
vào Danh mục giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia nào, nếu các đơn này không bị từ
chối.
1.3.3. Tính đồng nhất của giống cây trồng
(Điều 161, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Giống cây trồng được coi là có tính đồng nhất nếu có sự biểu hiện như nhau về
các tính trạng liên quan, trừ những sai lệch trong phạm vi cho phép đối với một số tính
trạng cụ thể trong quá trình nhân giống.
1.3.4. Tính ổn định của giống cây trồng
(Điều 162, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Giống cây trồng được coi là có tính ổn định nếu các tính trạng liên quan của
giống cây trồng đó vẫn giữ được các biểu hiện như mô tả ban đầu, không bị thay đổi
sau mỗi vụ nhân giống hoặc sau mỗi chu kỳ nhân giống trong trường hợp nhân giống
theo chu kỳ.
1.3.5. Tên của giống cây trồng
(Điều 163, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Người đăng ký phải đề xuất một tên phù hợp cho giống cây trồng với cơ
quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng, tên đó phải trùng với tên đã
đăng ký bảo hộ ở bất kỳ quốc gia nào có ký kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thỏa thuận về bảo hộ giống cây trồng.
2. Tên của giống cây trồng được coi là phù hợp nếu tên đó có khả năng dễ dàng
phân biệt được với tên của các giống cây trồng khác được biết đến rộng rãi trong cùng
một loài hoặc loài tương tự.
3. Tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp trong các trường hợp sau
đây:
a) Chỉ bao gồm các chữ số, trừ trường hợp chữ số liên quan đến đặc tính hoặc
sự hình thành giống đó;
Trang 4
b) Vi phạm đạo đức xã hội;

Trang 5
1. Tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 157 của Luật này nộp đơn đăng ký quyền
đối với giống cây trồng (sau đây gọi là đơn đăng ký bảo hộ) trực tiếp hoặc thông qua
đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
2. Tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây được kinh doanh dịch vụ đại diện
quyền đối với giống cây trồng với danh nghĩa tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với
giống cây trồng:
a) Là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa
học và công nghệ Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật,
trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam;
b) Có chức năng hoạt động dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng được
ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt
động (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh);
3. Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức uỷ quyền
phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này được hành nghề
dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.
4. Cá nhân được phép hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây
trồng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng;
b) Hoạt động trong một tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.
5. Cá nhân đáp ứng các điều kiện sau đây được cấp chứng chỉ hành nghề dịch
vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng:
a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Thường trú tại Việt Nam;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học;
d) Đã trực tiếp làm công tác pháp luật về quyền đối với giống cây trồng liên tục
từ năm năm trở lên hoặc đã trực tiếp làm công tác thẩm định các loại đơn đăng ký
quyền đối với giống cây trồng tại cơ quan quốc gia hoặc quốc tế về quyền đối với
giống cây trồng liên tục từ năm năm trở lên hoặc đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật
về quyền đối với giống cây trồng được cơ quan có thẩm quyền công nhận;

cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,… thuật ngữ này
bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái.
2.1.2. Lịch sử ra đời
Để có thể bảo tồn và sử dung hiệu quả đa dạng sinh học nông, lâm nghiệp trong
đó tài nguyền di truyền thực vật là hạt nhân, Hội Nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất về
môi trường họp tại Stockholme, Thụy Điển năm 1972 đã kêu gọi khẩn cấp nhiệm vụ
bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật.
Tháng 05/1992, Công ước đa dạng sinh học (CBD) đã được thông qua tại
Nairobi và được đưa ra để các nước ký kết trong Hội nghị về Môi trường và Phát triển
của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro (Brazin) vào ngày 05/06/1992. Công ước bắt đầu
có hiệu lực từ ngày 29/03/1993.
Tính đến tháng 10/2010, số thành viên tham gia CBD là 192. Việt Nam trở
thành thành viên của công ước vào ngày 16/11/1994.
CBD gồm 42 điều khoản và 02 phụ lục. CBD là một công ước khung, các điều
khoản của công ước chỉ đưa ra các mục tiêu tổng quát cần đạt được chứ không phải là
các hoạt động cụ thể và bắt buộc.
2.1.3. Mục tiêu của Công ước
Điều 1 đặt ra 3 mục tiêu chính của công ước, đó là (i) bảo tồn đa dạng sinh học,
(ii) sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học, và (iii) chia sẻ công bằng
và hợp lý lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên di truyền.
2.1.4. Nội dung của Công ước
Chủ quyền quốc gia và mối quan tâm chung của nhân loại:
Công ước thừa nhận chủ quyền của các quốc gia đối với đa dạng sinh học của
mình. Đồng thời công ước cũng khẳng định rằng bảo tồn đa dạng sinh học là mối quan
Trang 8
tâm chung của nhân loại. Do vậy, mặc dù có chủ quyền đối với tài nguyên của mình,
các quốc gia cũng có trách nhiệm phải bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đó.
Bảo tồn và sử dụng bền vững:
Công ước đặt ra một loạt các điều khoản về bảo tồn và sử dụng bền vững đa
dạng sinh học. Về mặt chính sách, CBD kêu gọi các bên tham gia xây dựng các chiến

trong 3 nhóm đối tượng mà CBD kêu gọi các bên tham gia tiến hành điều tra và giám
sát sự biến động (Điều 7a,b). Công tác điều tra bao gồm tiến hành những nghiên cứu
mới và thu thập các thông tin đã có sẵn. Những thông tin này sẽ phục vụ cho công tác
bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. Do đó, việc sắp xếp, lưu trữ và chia sẻ
thông tin là hết sức quan trọng. Các bên liên quan cần được tiếp cận với các thông tin
chính xác, thuận lợi và kịp thời. Kết quả điều tra và giám sát cũng rất quan trọng trong
quá trình thực hiện các nội dung khác của công ước như xây dựng chiến lược, kế
hoạch và chương trình; lồng ghép bảo tồn và sử dụng bền vững vào các chiến lược, kế
hoạch và chương trình ngành khác, đánh giá tác động môi trường, và thương lượng các
thoả thuận về tiếp cận và chia sẻ lợi ích.
Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích:
Vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trong khuôn khổ CBD phải được
thực hiện dựa trên các điều khoản đồng thuận chung (MAT) và trên cơ sở đồng ý với
sự thông báo trước (PIC). Điều này có nghĩa là, giữa bên cung cấp và bên tiếp nhận
nguồn gen phải có sự thương lượng để thống nhất được các điều khoản về việc tiếp
cận nguồn gen cũng như chia sẻ lợi ích thu được. Quá trình thương lượng này phải dựa
trên nguyên tắc PIC, tức là bên cung cấp nguồn có quyền yêu cầu bên tiếp nhận cung
cấp các thông tin cần thiết về việc tiếp nhận, chẳng hạn như ai sẽ sử dụng và phát triển
nguồn gen đó, nguồn gen được sử dụng vào mục đích gì.v.v. Dựa trên những thông tin
này và qua quá trình thương lượng, bên cung cấp sẽ quyết định có cho phép tiếp cận
nguồn gen của mình hay không, tiếp cận ở mức độ nào và lợi ích sẽ được chia sẻ ra
sao. Một điểm cần lưu ý là quá trình thương lượng và nguyên tắc PIC phải được thực
hiện ở mọi cấp liên quan, nhất là phải đến tận cộng đồng địa phương, nơi có nguồn
gen đó. Hơn nữa, tuy vấn đề tri thức truyền thống không được đề cập trong các điều
khoản về tiếp cận và chia sẻ lợi ích mà nằm ở một điều khoản riêng (điều 8(j)), hai vấn
đề này luôn song hành với nhau. Việc tiếp cận nguồn gen luôn đi kèm với việc tiếp cận
với tri thức truyền thống về sử dụng nguồn gen đó. Vì vậy, quá trình tiếp cận nguồn
gen luôn phải đi kèm với việc tôn trọng và bảo vệ các tri thức truyền thống liên quan
và việc chia sẻ lợi ích thu được cũng cần tính đến lợi ích của những người sở hữu các
tri thức đó, mà trong hầu hết các trường hợp là cộng đồng địa phương.

vào cây trồng có nguồn gốc từ nơi nào đó cho lương thực và nền nông nghiệp
của mình.
Trang 11
Thành tựu chính của Hiệp ước là đề xuất được hệ thống tiếp cận và chia sẻ lợi
ích đa phương, trong đó danh mục cây trồng được chọn dựa trên 7 tầm quan trọng đối
với an ninh lương thực và sự tương hỗ nhau; thỏa thuận đa phương về luật đối với tiếp
cận ưu tiên và chia sẻ lợi ích. Theo các qui định của thỏa thuận tiêu chuẩn này, lợi ích
sẽ được cùng chia sẻ đa phương dưới các hình thức: trao đổi thông tin; tiếp cận và
chuyển giao công nghệ; xây dựng năng lực; chia sẻ tiền tệ và các lợi ích khác khi
thương mại hóa chuyển giao công nghệ, tập huấn, nâng cao năng lực… theo cơ chế tài
trợ của Hiệp ước.
Cả CBD và ITPGRFA đều cho phép đăng ký sở hữu tri thức đối với những sản
phẩm tạo thành từ việc sử dụng nguồn gen được cung cấp, với điều kiện việc bảo hộ
này không cản trở việc tiếp cận nguồn gen, hoặc những phần và bộ phận của nguồn
gen nguyên trạng ban đầu. Điều này cho phép người sử dụng nguồn gen được đăng Cả
hai văn bản quốc tế quan trọng này đều thừa nhận quyền nông dân, ghi nhận đóng góp
của cộng đồng trong việc lưu giữ và phát triển TNDTTV nhưng lại đều không có
điều khoản đảm bảo việc thực thi quyền nông dân, mà chỉ đề cập “Chính phủ các Quốc
gia có nghĩa vụ thực hiện các quyền của nông dân”. Điều này có nghĩa là trên thực tế
quyền của các nhà chọn tạo giống thì được thực thi và bảo hộ, còn quyền nông dân thì
không. ITPGRFA cho phép nông dân giữ giống, sử dụng trao đổi và gieo trồng trên
diện tích đất của mình tùy thuộc luật quốc gia trong điều kiện hợp lý.
2.3. Nghị định thư Cartagena
2.3.1. Lịch sử ra đời
Nghị định thư về an toàn sinh học được thực hiện theo các điều khoản trực tiếp
liên quan đến sinh vật biến đổi gen (living modified organisms - LMO) của CBD. Điều
19(3) dẫn đến các đàm phán hình thành Nghị định thư Cartagena, Điều 8(g) và 19(4)
quy định các nghĩa vụ bắt buộc áp dụng cho tất cả Bên tham gia CBD dù các Bên này
có tham gia Nghị định thư hay không. Điều 8(g) nhìn chung đề cập đến các biện pháp
cần thực hiện ở cấp quốc gia và yêu cầu các bên tham gia quy định và quản lý những

quyền và nghĩa vụ của các chính phủ tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (World
Trade Organization – WTO) cũng như các hiệp định quốc tế hiện có.
2.4. Hiệp định TRIPS
Hiệp định TRIPs là hiệp định đa phương toàn diện nhất liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ. Hiệp định điều chỉnh các đối tượng sở hữu trí tuệ như: quyền tác giả và các
quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế (bao gồm cả bảo hộ giống cây trồng
mới), kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí
Trang 13
mật. Hiệp định được thông qua năm 1994, có hiệu lực vào năm 1995, là thỏa thuận bắt
buộc tất cả các thành viên WTO phải tuân theo.
Việc bảo hộ các giống cây được đề cập trong điều 27 của Hiệp định TRIPS,
phần liên quan đến sáng chế quy định:
i)Bằng sáng chế phải cung cấp cho bất kỳ phát minh nào dù là sản phẩm hay
qui trình trong tất cả các lĩnh vực công nghệ miễn phát minh đó là mới, có bước
sáng tạo và có khả năng ứng dụng công nghiệp;
ii) Nghĩa vụ thực hiện Bảo hộ giống cây trồng mới UPOV (Điều 27.3
(b) theo TRIPS: các thành viên phải bảo hộ giống cây trồng bằng hệ thống
bảo hộ sáng chế hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu (sui generis) hoặc bằng sự
kết hợp giữa 2 hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào;
iii) Thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu - không là một hệ thống đồng nhất về bảo
hộ;
iv) Các thành viên có thể loại bỏ cây trồng, vật nuôi khỏi việc đăng
ký bản quyền;
v) Các thành viên phải bảo hộ vi sinh vật;
vi) Bảo vệ các thông tin mật;
vii) Thương mại gắn liền với tên loài của giống;
viii) Chỉ dẫn địa lý.
Như vậy, các nước thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới có thể loại trừ
các giống cây và giống con có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế ngoài các
loại vi sinh vật và các quy trình sinh học cơ bản để sản xuất giống cây và giống động

kiện 1991”). Văn kiện mới 1991 này có hiệu lực khi năm quốc gia tham gia văn kiện.
Văn kiện chỉ ràng buộc các quốc gia đã chọn tham gia. Các quốc gia hiện thời chỉ bị
ràng buộc bởi Văn kiện 1991 khi các quốc gia này sửa đổi luật hiện hành của họ và gửi
một văn bản xin tham gia Văn kiện mới.
Tính đến ngày 08/12/2011, UPOV có tất cả 70 thành viên. Việt Nam tham gia
ngày 24/12/2006.
2.4.2. Mục tiêu
Cung cấp và hỗ trợ hệ thống bảo hộ giống cây trồng mới hoạt động một cách
có hiệu quả, với mục tiêu khuyến khích việc phát triển các giống cây trồng mới vì lợi
ích cộng đồng”.
Những yếu tố cơ bản của UPOV liên quan đến CBD, ITPGRFA, TRIPS: bảo
tồn nguồn gen cây trồng (Khuyến khích chọn tạo giống cây trồng mới, làm tăng giá trị
nguồn gen, chọn tạo giống cần duy trì các giống hiện có, phát triển các giống mới);
Trang 15
Tiếp cận nguồn gen cây trồng (coi việc tiếp cận nguồn gen là yêu cầu cơ bản hỗ trợ
công tác chọn tạo giống, cho phép sử dụng giống đã bảo hộ để tạo ra giống cây trồng
khác); Công khai về nguồn gốc( khuyến khích thông tin về nguồn gốc vật liệu đã sử
dụng để chọn tạo giống mới, DUS); Chia sẻ lợi ích (Giống mới đem lại lợi ích cho
Nông dân); Nghĩa vụ thực hiện BHGCT của thành viên WTO.
2.4.3. Vấn đề bảo hộ giống cây trồng theo văn kiện 1978
Tiêu chuẩn bảo hộ:
Văn kiện 1978 đưa ra một hệ thống bảo hộ giống cây trồng mới, tức là bộ phận
vật liệu của cây được lựa chọn bởi nhà tạo giống với các đặc tính hình thái và sinh lý
học. Khi kết luận rằng liệu vật liệu của giống cây cụ thể có tạo nên hoặc thuộc một
“giống”, người phân loại phải quyết định về phạm vi phân biệt vật liệu đó với vật liệu
khác, về tính đồng nhất theo một ý nghĩa nào đó rằng các thay đổi so với mô tả chuẩn
là thuộc giới hạn hợp lý, và sự ổn định của vật liệu giống về một ý nghĩa nào đó sẽ giữ
các đặc trưng phân biệt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều 6 yêu cầu các quốc gia
thành viên phải chấp nhận ba tiêu chuẩn phân biệt, tính thống nhất và sự ổn định về cơ
sở kỹ thuật cho việc bảo hộ các giống cây trồng, và bổ sung thêm hai yêu cầu về tính

trong trường hợp giống ngũ cốc, nhà tạo giống không được độc quyền bán ngũ cốc
giống đó mà chỉ được bán hạt. Quyền của nhà tạo giống chỉ liên quan đến việc sản
xuất vì các mục đích kinh doanh thương mại. Nếu việc sản xuất vật liệu cây non không
vì mục đích đó, hoặc nếu các vật liệu đó không được đưa vào thị trường thì điều này
không được bao gồm trong quyền của nhà tạo giống. Ví dụ, một người nông dân,
người thu hoạch hạt trên cánh đồng của họ với mục đích gieo lại hạt trên cánh đồng
của mình, có thể được tự do làm điều đó mà không có nghĩa vụ đối với nhà tạo giống.
Văn kiện 1978 chỉ xây dựng phạm vi tối thiểu của quyền mà quốc gia đó phải
cấp. Các quốc gia thành viên được cho phép, theo luật riêng của họ, trao cho nhà tạo
giống của nhiều loài cây hoặc một loại cây cụ thể một quyền rộng hơn quyền được mô
tả trên đây, thậm chí mở rộng đến sản phẩm của giống đã được đưa vào thị trường.
Tuy nhiên, trong thực tế rất ít quốc gia đã sử dụng quyền này.
Điều 5 quy định thêm rằng bất kỳ sự cho phép nào do nhà tạo giống đưa ra liên
quan đến việc sản xuất hoặc đưa vào thị trường giống cây của họ có thể là đối tượng
của các điều kiện mà người đó đề ra. Bởi vậy, nhà tạo giống được tự quyết định liệu có
khai thác độc quyền của mình bằng việc sản xuất và bán tất cả cây con hoặc vật liệu
nhân giống thực vật mà thị trường cần hoặc liệu nhà tạo giống có cấp li xăng cho
người khác, có lẽ trao đổi để lấy tiền thù lao. Thực tiễn vấn đề này thay đổi theo từng
quốc gia. Ở nhiều nước, đối với nhiều loài cây mà số lượng lớn về hạt phải được sản
Trang 17
xuất và bán, và nếu việc dễ dàng lưu giữ hạt của riêng họ ảnh hưởng đến giá cả mà
những người nông dân chuẩn bị trả, thông lệ của các nhà tạo giống là lựa chọn phương
pháp sản xuất và phân phối ít tốn kém nhất. Ví dụ trong trường hợp ngũ cốc nhỏ, ở
hầu hết các nước châu Âu, li xăng được cấp rất rộng rãi cho các tổ chức như các hợp
tác xã địa phương và những người bán ngũ cốc - người cung cấp nhiều loại dịch vụ và
cung cấp cho nông dân. Các tổ chức này sản xuất hạt tại địa phương theo hợp đồng và
bán lại cho nông dân địa phương, bởi vậy tối thiểu hóa chi phí. Trong trường hợp sản
xuất chuyên môn hóa hơn như việc sản xuất một số loài cây thụ phấn chéo, sản xuất
giống lai, hạt rau chất lượng cao hoặc các giống cây hoặc cây leo mới, thông lệ của các
nhà tạo giống là có thể kiểm soát rất chặt chẽ việc sản xuất hạt hoặc cây để duy trì chất

không đáp ứng tính mới về mặt thương mại và yêu cầu về tính phân biệt khi các quyền
đã được cấp, hoặc không được xóa bỏ trừ khi nhà tạo giống không duy trì giống cây
hoặc không trả các khoản phí cần thiết.
Hình thức bảo hộ (Điều 2): Một quốc gia thành viên có thể bảo hộ cho các
giống cây trồng theo hình thức bảo hộ giống cây trồng hoặc hình thức bằng độc quyền.
Khi đã chọn bảo hộ giống cây của các loài bằng quyền của nhà tạo giống, quốc gia
thành viên đó có thể không bảo hộ tiếp theo cho các giống của cùng loài bằng bằng
độc quyền. Đây được gọi là sự ngăn cấm về “bảo hộ kép”.
Đãi ngộ Quốc gia (Điều 3): Mỗi quốc gia thành viên phải dành cho công dân
và những người cư trú của các quốc gia thành viên khác sự đối xử tương tự như đối
với công dân nước mình.
Điều kiện cấp bảo hộ (Điều 7): Các quốc gia thành viên sẽ chỉ cấp bảo hộ sau
khi xét nghiệm giống cây theo tiêu chuẩn tính phân biệt, tính đồng nhất, tính ổn định
và tính mới về mặt thương mại được đề cập trên đây. Quy định này được hiểu với ý
nghĩa rằng các quốc gia thành viên cần quy định việc kiểm tra tăng dần được nhà nước
hoặc nhà tạo giống tiến hành với điều kiện là việc kiểm tra tuân theo các hướng dẫn
liên quan và nhà tạo giống phải cung cấp mẫu của giống vào thời điểm nộp đơn và cho
phép những người được nhà nước cho phép đến xem xét việc thử nghiệm.
Điều 14 quy định rằng việc cấp hay từ chối quyền của nhà tạo giống cho một giống
cây phải độc lập đối với các quy định tại bất kỳ quốc gia thành viên nào của UPOV
nơi có liên quan đến việc sản xuất, xác nhận và đưa vào thị trường hạt giống.
Hạn chế quyền của nhà tạo giống (Điều 9): Các quốc gia thành viên của
UPOV có thể hạn chế việc thực thi độc quyền được cho phép của nhà tạo giống vì các
lý do vì lợi ích công cộng và khi bất kỳ hạn chế nào như vậy được áp dụng, quốc gia
Trang 19
thành viên liên quan sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo đảm rằng nhà tạo
giống nhận được khoản tiền thù lao hợp lý.
2.4.3. Vấn đề bảo hộ giống cây trồng theo văn kiện 1991
Nhóm thực vật và các loại cây được bảo hộ:
Các quốc gia thành viên hiện thời bảo hộ tất cả các giống thực vật và loài cây

tra cần thiết và có thể thấy cần phải yêu cầu nhà tạo giống thực hiện các công việc
kiểm tra hoặc xem xét dữ liệu xuất phát từ nhà tạo giống. Việc kiểm tra được thực hiện
bởi nhà tạo giống có thể được chấp nhận với điều kiện là các dữ liệu thắc mắc phải
được thể hiện ở dạng thông thường, và được tạo ra bởi việc kiểm tra theo các nguyên
tắc được thiết lập trong phần Chỉ dẫn chung về Hướng dẫn của UPOV để kiểm tra tính
phân biệt, tính đồng nhất và tính ổn định, và phải cung cấp cho cơ quan chức năng một
mẫu của giống vào ngày nộp đơn.
Phạm vi quyền của nhà tạo giống:
Sự cho phép trước của nhà tạo giống “sẽ được yêu cầu để: sản xuất cho các mục
đích kinh doanh thương mại; chào bán; kinh doanh; vật liệu sinh sản hoặc vật liệu
nhân giống thực vật của giống cây”.
“Vật liệu nhân giống sẽ được xem là gồm toàn bộ các loài thực vật” và “quyền
của nhà tạo giống sẽ mở rộng đến các cây dùng cho trang trí hoặc các bộ phận của
chúng, thông thường được đưa vào thị trường cho các mục đích không phải là nhân
giống, khi chúng được sử dụng thương mại như vật liệu nhân giống trong quá trình
sản xuất cây trang trí hoặc cây hoa được cắt tỉa”.
Thực tế chỉ được đòi hỏi sự cho phép của nhà tạo giống để sản xuất vật liệu
nhân giống “cho các mục đích kinh doanh thương mại” có nghĩa rằng việc sản xuất vật
liệu nhân giống không nhằm để kinh doanh mà chỉ để sử dụng trên đồng ruộng nơi vật
liệu được sản xuất, không thuộc phạm vi bảo hộ.
Đối với vật liệu nhân giống của một giống được bảo hộ, bất kỳ việc sản xuất,
tái sản xuất (nhân bản), điều kiện đối với mục đích nhân giống, chào bán, bán hoặc các
hình thức kinh doanh khác, xuất khẩu, nhập khẩu, hoặc lưu kho vì bất kỳ mục đích
nào, sẽ đòi hỏi sự cho phép của nhà tạo giống. Theo đó, phạm vi bảo hộ cơ bản mở
rộng đến tất cả việc sản xuất, tái sản xuất (nhân bản) mà không cần đề cập đến mục
đích của việc đó và không có tác động tạo ra “đặc quyền của người nông dân” bởi sự
liên quan.
Điều 14(2) đưa ra quy định đối với phạm vi quyền của nhà tạo giống đối với vật
liệu đã thu hoạch, gồm toàn bộ các loại thực vật và các phần của thực vật khi chúng
được thu thông qua việc sử dụng không được phép vật liệu nhân giống của giống đã

hộ sở hữu trí tuệ quốc tế.
- Tiểu sử anh Phan Trọng Dũng và quá trình nghiên cứu, lai tạo giống lan:
Anh Phan Trọng Dũng là một học trò nghèo miền núi tỉnh Đaklak. Anh Dũng đã
theo học và tốt nghiệp Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng niềm đam mê vẻ
đẹp của lan rừng đã dần gắn bó anh với loài hoa đài các này. Anh đến với hoa lan ban
đầu chỉ như một người yêu lan và chơi lan thuần túy. Ý nghĩ tự tạo ra những giống lan
cho riêng mình thôi thúc anh phải làm một điều gì đó lớn lao hơn. Được sự hướng dẫn
của người thân và sự động viên của bạn bè, năm 1997 anh Dũng bắt đầu trồng lan trên
diện rộng. Không có kiến thức chuyên môn về phong lan cũng như các cách thức lai
tạo, nuôi trồng, anh Dũng đã tự tìm đến các tài liệu chuyên ngành về hoa lan và thực
hành những gì mình tiếp thu được. Anh cũng tự trau dồi thêm ngoại ngữ để có thể hiểu
được những tài liệu chuyên ngành về lan đa phần của nước ngoài.
Anh Dũng có trang trại hoa lan Kim Ngân – Phương Trang ở thôn 8, xã Hòa
Khánh, thành phố Buôn Mê Thuột, tự đầu tư gồm phòng thí nghiệm nhân giống với
các hóa chất và dụng cụ cần thiết, vườn cấy mô, vườn ươm cây con, vườn nuôi cây
trưởng thành và khu bảo tồn nguồn gen lan rừng Việt Nam. Vườn lan của anh được
trang bị hệ thống tưới tự động giúp cho việc chăm sóc lan dễ dàng và đồng bộ hơn.
Tổng vốn đầu tư trên 3 tỉ đồng.
Quá trình lai tạo mất nhiều năm liền với nhiều công đoạn khác nhau.
Bắt đầu từ công đoạn pha chế môi trường cấy mô bằng nước cất đảm bảo tinh
khiết. Các hóa chất được tính toán, cân đo kĩ lưỡng và pha trộn theo tỉ lệ thích hợp.
Hóa chất sau khi đun sôi được cho vào chai, đậy nắp kín và tiếp tục hấp trong nồi áp
suất để đảm bảo môi trường hoàn toàn vô trùng. Mô được cấy vào từng môi trường
thích hợp và được theo dõi trong phòng nhân giống. Trong phòng có thiết bị kích thích
lan mau lên mầm. Chỉ riêng công đoạn lắc ống nghiệm để kích thích mầm lan phát
triển cũng đã mất 3 tháng.
Trang 23
Mô phát triển thành cây con, tùy theo độ lớn lại được chuyển qua các chai môi
trường khác nhau. Cây con đủ lớn được lấy ra khỏi chai, rửa trong dung dịch sát trùng
sau đó được đặt vào các chậu nhỏ và mang ra vườn. Xơ dừa được bọc xung quanh để

+ Rsc. Kim Ngân Beauty var Hạnh Trang ra hoa lần đầu ngày 16 tháng 10 năm
2007, đường kính hoa 17cm.
+ Rsc. Kim Ngân Beauty var Grand Lady ra hoa lần đầu ngày 25 tháng 9 năm
2007, đường kính hoa 19,5cm.
1.2. Rsc. Daklak Sunrise được lai tạo ngày 15 tháng 6 năm 2003 từ loài Sc.
Orglade’s Royal Lady và Rsc. Binghamvich, ra hoa lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 2007
thành chùm từ 3 đến 5 hoa, đường kính hoa 10cm.
1.3. Phương Trang Beauty được lai tạo ngày 20 tháng 6 năm 2001 từ loài C. Louis
and Carla và Rsc. Star of Bethlehem, cho 2 loại hoa khác nhau:
+ Rsc. Phương Trang Beauty var Happy ra hoa lần đầu ngày 12 tháng 9 năm
2007 với đường kính 16cm.
+ Rsc. Phương Trang Beauty var :#1 ra hoa lần đầu ngày 20 tháng 10 năm 2006,
đường kính hoa 16,5cm.
1.4. Serepok River được lai tạo ngày 20 tháng 6 năm 2001 từ loài Rsc. Star of
Bethlehem và Rsc. Island Sunset, ra hoa lần đầu ngày 25 tháng 11 năm 2006, đường
kính hoa 16cm.
1.5. Phalaenopsis. Hạnh Trang Beauty được lai tạo ngày 14 tháng 5 năm 2003 từ
loài P. Coolwhip và P. Ever Spring King, ra hoa lần đầu ngày 25 tháng 10 năm 2006,
đường kính hoa 8cm.
1.6. Phalaenopsis. Phương Trang Stripes được lai tạo ngày 13 tháng 4 năm 2000
từ loài P. Sweet Nothing và P. Chih Shang’s Stripe, ra hoa lần đầu ngày 26 tháng 1
năm 2004, đường kính hoa 8cm.
1.7. Dendrobium. Phương Trang được lai tạo ngày 13 tháng 4 năm 2000 từ loài D.
Mount Kelly Beauty và D. Taysweekeng, ra hoa lần đầu ngày 24 tháng 6 năm 2003.
1.8. Renanthera. Phương Trang’s Flamboyant được lai tạo ngày 3 tháng 4 năm
2002 từ loài Ren. Kilauer và Ren. Fire Coral, ra hoa lần đầu ngày 2 tháng 6 năm 2006,
hoa phân nhánh.
1.9. Renanthera. Phương Trang Volcano được lai tạo ngày 3 tháng 4 năm 2002 từ
loài Ren. Nancy Chandler và Ren. Fire Coral, ra hoa lần đầu ngày 10 tháng 8 năm
2007, hoa phân thành 6 nhánh.

sâu bệnh Thời gian này bà đã mày mò, nghiên cứu cho ra đời nhiều giống lúa mới,
được phổ biến rộng rãi như NN-9, NN-10, NN-23…
Sau khi tốt nghiệp nghiên cứu sinh ở Liên Xô, bà Trâm trở về dạy ở ĐH Nông
nghiệp. Vừa giảng dạy, bà vừa nghiên cứu cho ra đời nhiều giống lúa mới năng suất

Trích đoạn Giá bản quyền giống cây trồng quá rẻ GIẢI PHÁP BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG TẠI VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status