1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
BÀI THẢO LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: “TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ CÁC TRIẾT GIA ĐỂ MINH
HỌA”
Giảng viên: PGS.TS Đoàn Văn Khái
Thực hiện: Nhóm 2 – Lớp cao học 8B – QTKD
Hà Nội, 12/2011
Hà Nội, 12/2011
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
Lời mở đầu
1. Điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm của triết học Tây Âu thời
trung cổ
1
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
1
1.2 Đặc trưng của triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ
2
2. Phân tích các đặc trưng triết học Tây Âu thời Trung Cổ
3
2.1 Triết học Tây Âu thời trung cổ bị chi phối mạnh bởi tư tưởng
thần học và tôn giáo của thiên chúa giáo
3
2.1.1 Tư tưởng thần học và tôn giáo của Tec-lu-liêng 3
2.1.2 Tư tưởng tôn giáo và thần học của Tomat dacanh 6
2.1.3 Quan điểm về thần học và triết học của Duns Scotus 7
2.2. Triết học kinh viện là đặc trưng bao trùm triết học thời kỳ này 8
2.2.1 Giăngxicốt Ơrigiennơ (810 - 877)
9
2.2.2 Tomatđacanh
cổ
2. Phân tích các đặc trưng Triết học Tây Âu thời Trung cổ
3. Kết luận
1. Điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm của triết học Tây Âu thời trung cổ
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Về kinh tế: đây là giai đoạn thực hiện bước chuyển từ chế độ chiếm hữu nô
lệ sang xã hội phong kiến:
Từ thế kỷ thứ V những cuộc nổi dậy của nô lệ và những cuộc đấu tranh giai
cấp khác bên trong cùng với sự tiến công của các man tộc bên ngoài đã dẫn tới
sự sụp đổ của đế quốc La mã phương Tây - chế độ nô lệ chấm dứt, chế độ phong
3
kiến ra đời trên sự hoang tàn của kinh tế và văn hoá. Nghề thủ công suy sụp,
thương nghiệp giảm bớt, các thành phố cổ đại tiêu điều nhường chỗ cho nền
kinh tế nông nghiệp, trung tâm của cuộc sống chuyển về nông thôn với việc xác
lập nền kinh tế tự nhiên, nô lệ trở thành những nông dân tự do.
Đặc điểm của nền kinh tế phong kiến là nền kinh tế mang tính tự nhiên, tự
cung tự cấp, đóng kín và trì trệ dựa trên lao động thủ công thô sơ với hình thức
bóc lột phát canh thu tô của địa chủ đối với nông dân. Nhìn chung đây là nền
kinh tế thụt lùi so với thời cổ đại.
Song, cuối thời kỳ phong kiến (thế kỷ XII -XIV) nền kinh tế bắt đầu có sự
phát triển: kinh tế tiền tệ dần thay thế nền kinh tế tự nhiên, thủ công nghiệp và
thương nghiệp phát trỉển, nhiều thành phố thương cảng mọc lên, một số ngành
kỹ thuật khá phát triển. Sự tiến bộ này tạo tiền đề cho thời kỳ phục hưng, cho sự
quá độ từ phong kiến lên Tư bản.
Về chính trị-xã hội: xã hội phân hóa thành hai giai cấp lớn là địa chủ và
nông dân. Quyền chiếm hữu ruộng đất, các tư liệu sản xuất khác cũng như sản
phẩm làm ra thuộc về địa chủ phong kiến. Cuối thời kỳ này diễn ra các cuộc
thập tự chinh thúc đẩy công thương nghiệp phát triển, tạo ra một tầng lớp thị dân
đương đầu với lãnh chúa đồng thời giúp cho văn hoá phương tây giao lưu với
văn hoá phương Đông.
được nghiên cứu sáng tạo chủ yếu bởi các nhà triết học thần học trong các cơ sở
giáo dục của cơ đốc giáo (tu viện, trường dòng), do đó nó xa rời thực tiễn của xã
hội và con người.
Triết học tập trung giải quyết một vấn đề xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết
học Tây Âu khoảng một nghìn năm và cũng là vấn đề trung tâm: đó là mối quan
hệ giữa niềm tin tôn giáo và trí tuệ lý trí của con người và họ coi niềm tin tôn
giáo giữ vị trí vai trò hàng đầu trong quan hệ với lý trí.
Thứ ba, Các nhà triết học đều giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái
riêng (giữa khái niệm và các sự vật riêng lẻ), trên cơ sở đó nảy sinh hai khuynh
5
hướng triết học phổ biến là chủ nghĩa Duy thực và chủ nghĩa Duy danh. Cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa Duy thực và chủ nghĩa Duy danh là biểu hiện của cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa Duy vật và chủ nghĩa Duy tâm của thời Trung cổ.
Thứ tư, triết học thời kỳ này chứa đựng chủ nghĩa tự nhiên thần luận và
phiến thần luận.
Thứ năm, Triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ là bước thụt lùi so với thời kỳ
cổ đại trong lịch sử Triết học.
2. Phân tích các đặc trưng triết học Tây Âu thời Trung Cổ
2.1 Triết học Tây Âu thời trung cổ bị chi phối mạnh bởi tư tưởng thần học
và tôn giáo của thiên chúa giáo.
Triết học thời kỳ này mang đậm tính tôn giáo, hầu hết các nhà triết học là
thần học, và một trong những đặc điểm nổi bật là chứng minh sự tồn tại của
thượng đế, và chứng minh cho những tín điều tôn giáo của nhà thờ. Đây là thời
kỳ thụt lùi so với thời kỳ cổ đại.
2.1.1 Tư tưởng thần học và tôn giáo của Tec-lu-liêng
Cơ bản về Tertullian có thể gói gọn trong 2 ý sau:
Tư tưởng: hạ thấp trí tuệ, ca ngợi lòng tin mù quáng vào những điều phi lý
“tôi tin, bởi vì đó là phi lý”, là cha cố ông hết lòng ca ngợi dạo Cơ-đốc và cho
rằng tôn giáo bao hàm hết thảy mọi giá trị.
Lý trí chỉ nhận thức được thế giới tự nhiên, còn niềm tin tôn giáo vượt ra
của mình, cho thấy tính chất riêng và thần linh của Ngài: “Chúng ta tin rằng,
theo lời hứa của mình, Chúa Giê-su đã từ Cha sai Thánh Thần là Đấng An Ủi,
Đấng Thánh Hóa theo đức tin của tất cả những ai tin kính Cha, Con và Thánh
Thần” (ibid., 2: 1).
Có nhiều bản văn về Giáo Hội được Tertullian bao giờ cũng nói đến như là
“người mẹ”. Cho dù sau khi đã tham gia phái Montanism, ông vẫn không bao
7
giờ quên rằng Giáo Hội là Mẹ đối với niềm tin của chúng ta và đời sống Cơ-đốc
Giáo của chúng ta.
Từ quan điểm của nhân loại thì người ta có thể nói không chút hoài nghi về
vai trò của Tertullian. Theo giòng thời gian, ông đã tiến đến chỗ đòi hỏi nhiều
hơn nơi những người Cơ-đốc. Ông mong muốn họ, vào bất cứ lúc nào, nhất là
trong thời kỳ bị khủng bố, phải hành động một cách anh hùng.
Cuối cùng, Tertullian vẫn là một nhân chứng đáng kể trong những năm đầu
của Giáo Hội, khi mà những người Cơ-đốc thấy mình trở thành những chủ thể
thực sự của một “nền văn hóa mới” giữa di sản cổ điển và sứ điệp Phúc Âm.
Câu nổi tiếng của ông nói rằng linh hồn của chúng ta “bẩm sinh là Cơ-đốc
Giáo” (Apologeticus 17:6), một câu được Tertullian muốn dùng để khơi lên cái
liên tục giữa các giá trị về nhân bản đích thực với những giá trị của Cơ-đốc
Giáo. Và một ý tưởng khác của ông, được trích từ các Phúc Âm, nói rằng
“những người Cơ-đốc không thể hận ghét, không thể thậm chí đối với cả những
kẻ thù của mình” (Apologeticus 37), một câu hàm ý về luân lý liên quan tới việc
chọn lựa theo đức tin, cho rằng “vấn đề bất bạo động” là lề luật của cuộc sống:
Thực vậy, không ai có thể thoát được sự thích đáng sâu sắc của giáo huấn này.
Tóm lại, trong các bản văn của Tertullian có nhiều đề tài mà chúng ta ngày
nay vẫn còn được kêu gọi để đối diện. Chúng kêu gọi chúng ta hãy thực hiện
một cuộc sát hạch nội tâm cách hiệu quả, một việc làm tôi muốn kêu gọi tất cả
mọi tín hữu, để nhờ đó họ biết cách bày tỏ, một cách thuyết phục hơn bao giờ
hết, “Qui Luật Đức Tin” là những gì – trở lại với Tertullian – “qui định niềm tin
tưởng rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, và Ngài chính là Đấng Hóa Công
nhiên tuyệt đối làm cơ sở cho mọi cái ngẫu nhiên xảy ra trong thế giới, vì cần có
một thực thể hoàn thiện tuyệt đối với tư cách là mục đích cuối cùng của mọi quá
trình hoàn thiện xảy ra trong thế giới, vì cần có một lý trí siêu nhiên nhằm điều
chỉnh tính hợp lý của giới tự nhiên.
2.1.3 Quan điểm về thần học và triết học của Duns Scotus
9
Về mặt triết học, cũng như các nhà tư tưởng khác thời trung cổ, Duns
Scotus coi vấn đề mối quan hệ giữa triết học và thần học là vấn đề chủ yếu.
Theo ông, đối tượng của thần học là nghiên cứu Thượng đế, còn đối tượng của
triết học (siêu hình học) là tồn tại (hiện thực khách quan- vật chất, giới tự nhiên).
Trong học thuyết triết học của mình, ông cho rằng ngoài Thượng đế là hình
thức thuần túy phi vật chất ra thì mọi thực thể còn lại (kể cả tinh thần và thiên
thần) đều là vật chất hoặc bao gồm cả hình thức và vật chất. Song về căn bản,
triết học của ông vẫn là duy tâm, chưa phải duy vật.
Về vấn đề tồn tại của Thượng đế, Duns Scotus đã giải quyết từ lập trường
thần học. Theo ông, vì thượng đế là một tồn tại bất tận, cho nên chứng minh về
sự tồn tại của thượng đế có nghĩa là chứng minh rằng “cái tồn tại bất tận” đó là
có. Ông đã phát biểu rằng ” Thiên Chúa tạo dựng một cách ngẫu nhiên, nghĩa là
Chúa tạo dựng bằng một hành vi ý chí”. Quan điểm này của ông được thể hiện
rất rõ ràng trong các tác phẩm như: Lectura 1, d.2, q.1, nn.38-135; Ordinatio 1,
d.2, q.1, nn.39-190; Reportatio 1, d.2, q.1; and De primo principio.
Duns Scotus để lại nhiều tác phẩm thuộc lãnh vực thần học và triết học,
trong đó đáng kể nhất là các sách bình giải bộ Tổng luận các chủ đề thần học
(The Sentences) của PierreLompard, gọi là Ordinatio hay Opus Oxonienoe, các
tác phẩm nổi danh như Lectura, Reportationes, Reportata Parisiensis và một số
tác phẩm đáng giá khác.
Hệ thống tư tưởng của Duns Scotus có giá trị và ảnh hưởng mạnh mẽ có
thể nói sánh ngang với thánh Thomas Aquinas và William Ockham, vì thế các
học giả đã xếp ông vào vị trí giữa hai nhà tư tưởng lớn này. Như Aquinas,
Scotus đồng ý rằng có những nguyên tắc luân lý không thể nào thay đổi và toàn
Các nhà Kinh viện đề xuất một số ý kiến giải quyết vấn đề này. Ý kiến thứ
nhất khẳng định các "khái niệm phổ biến" tồn tại thật trong trí năng của Chúa và
có trước sự vật. Quan điểm này được gọi là "thuyết duy thực" do triết gia thần
học Origiennơ (810 – 877) đưa ra. Ý kiến thứ hai khẳng định "khái niệm phổ
11
biến" tồn tại sau sự vật, chúng chỉ là tên chung và quan niệm này gọi là "chủ
nghĩa duy danh".
2.2.1 Giăngxicốt Ơrigiennơ (810 - 877)
Triết học của Ơrigiennơ là một hệ thống duy tâm tìm cách kết hợp chủ
nghĩa Pla-tôn với Thiên chúa giáo. Ông nói: "Triết học chân chính và tôn giáo
chân chính là một". Trung tâm trong học thuyết của ông là chứng minh cho sự
tồn tại và vai trò tối cao của Thượng đế đối với đời sống con người và giới tự
nhiên. Theo ông, bản thân quá trình thế giới là sự giáng thế liên tục của Thượng
đế. Như vậy đã bao hàm những nhân tố phiếm thần luận. Trong tác phẩm "Về sự
phân chia giới tự nhiên", ông đã chia sự phát triển của giới tự nhiên qua 4 giai
đoạn:
Giai đoạn một: giới tự nhiên biểu hiện như là vật vừa được sáng tạo - đó là
"con" của Thượng đế - là kẻ trung gian giữa Thượng đế và thế giới;
Giai đoạn hai: giới tự nhiên biểu hiện như là vật vừa sáng tạo, vừa được
sáng tạo;
Giai đoạn ba: giới tự nhiên biểu hiện như là vật được sáng tạo - đó là thế
giới các sự vật cụ thể, thế giới muôn loài trong đó có con người;
Giai đoạn bốn: giới tự nhiên biểu hiện là vật không phải sáng tạo, cũng
không được sáng tạo - đó là Thượng đế, nhưng ở đây Thượng đế được xem như
mục đích của quá trình thế giới.
Triết học của G. Ơrigiennơ đã trình bày mối quan hệ giữa lòng tin và lý trí -
một vấn đề trung tâm của triết học Trung cổ. Theo ông, giữa lòng tin và lý trí là
hoàn toàn có thể dung hợp được, nếu phủ nhận lý trí đề cao tôn giáo hoặc đề cao
lý trí phủ nhận tôn giáo đều là nguy hiểm cho nhà thờ.
Về nhận thức luận, ông cho rằng cái chung có trước cái riêng và cơ sở của
Áp dụng về học thuyết Arixtot về hình dạng, một tiến bộ của Triết học kinh
viện, nhưng chỉ khôi phục về hình thức, chứ không lấy cái sinh khí, sống động,
13
cái tìm tòi chân lý tiến bộ trong học thuyết. Trong quá trình nhận thức sự vật,
người ta không tiếp nhận bản thân sự vật ,mà chỉ tiếp nhận hình dạng của nó. Và
phân hình dạng làm 2 loại là hình dạng cảm tính và hình dạng lý tính. Hình dạng
lý tính cao hơn hình dạng cảm tính.
2.2.3 John Duns Scotus
John Duns Scotus cũng là một nhà triết học Kinh viện chính hiệu. Ông đã
khởi đi từ các ý tưởng của triết gia Aristote, thánh Augustinô, và các nhà kinh
viện thời trước, để xây nên một hệ thống triết học cho riêng mình. Thật vậy,
sống trong một thời kỳ ở đó người ta nghiêm túc phê bình các trào lưu triết học
mới và những khả năng ứng dụng của chúng vào các lĩnh vực khác nhau của
hoạt động con người, Scotus nỗ lực suy nghĩ lại mối tương quan giữa triết học
và thần học, một mặt nhằm để bảo vệ các yếu tố chính của mạc khải Kitô giáo
và xem xét lại những tư tưởng của Aristote tuy nhiên vẫn không thể thoát khỏi
những tư tưởng thần học và quy kết mọi tu tưởng của Aristote nhằm chứng minh
cho sự đúng đắn của triết học kinh viện.
2.3. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa Duy thực và chủ nghĩa Duy danh
Các nhà triết học đều giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
(giữa khái niệm và các sự vật riêng lẻ), trên cơ sở đó nảy sinh hai khuynh hướng
triết học phổ biến là chủ nghĩa Duy thực và chủ nghĩa Duy danh.
2.3.1 Tư tưởng của Tômát đacanh về cuộc đấu tranh giữa hai phái Duy
thực và Duy danh.
Phái duy danh cho rằng, các sự vật riêng lẻ, cá biệt là những cái có thực;
còn những cái phổ biến chỉ là những tên gọi do con người đặt ra rồi gán cho
chúng. Chẳng hạn, "con người" là tên gọi dùng để chỉ tất cả những con người
riêng lẻ chứ không có con người nói chung; cái nhà chỉ là tên gọi của những cái
nhà riêng lẻ, không có cái nhà nói chung.
Phái duy thực lại cho rằng, cái chung mới là cái có thực vì nó tồn tại độc
15
2.4 Triết học thời kỳ này chứa đựng chủ nghĩa tự nhiên thần luận và
phiến thần luận.
Chủ nghĩa tự nhiên thần luận: Họ cho rằng Thượng đế tạo ra giới tự nhiên
và giới tự nhiên vận động theo quy luật của mình, do đó đã hạn chế vai trò của
Thượng đế.
Chủ nghĩa tự nhiên phiếm thần luận: Họ cho rằng Thượng đế và giới tự
nhiên là một. Thượng đế hòa vào giới tự nhiên.
Scotus theo chủ nghĩa tự nhiên thần luận. Ông bắt đầu bằng việc đưa ra
rằng đó là những thực thể đầu tiên (sự hình thành nhân quả đầu tiên trên thế
giới), coi như nó được sinh ra do sự khác biệt của những yếu tố cần thiết và
ngẫu nhiên. Trong một loạt các yếu tố ngẫu nhiên, trên thực tế tự thân những
yếu tố đó tương tác với nhau ở trong bản thân của sự vật đó. Ví dụ, như ông nội
có một người con trai, là bố B, người sau đó sẽ sinh ra đứa con của mình là C. B
tạo ra C không phụ thuộc vào A và A có thể đã chết vào lúc mà B sinh ra C, vậy
sự thật B là nguyên nhân sinh ra A không có liên quan gì tới hành động nhân mà
B tạo ra sau này. Đó chính là chuỗi các sự kiện ngẫu nhiên hoạt động. Như vậy
theo ông Thượng đế đầu tiên sinh ra và duy nhất, sau đó người tạo ra những sự
vật những vật chất giới tự nhiên.
2.5 Triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ là bước thụt lùi so với thời kỳ cổ đại
trong lịch sử Triết học.
Sự tồn tại và phát triển của triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ không phải là
sự đứt đoạn tuyệt đối với triết học cổ đại, mặc dù nó là bước lùi rất xa so với
triết học Tây Âu cổ đại, nhưng đây là bước lùi hợp quy luật của sự phát triển, là
đoạn đứt trong tính liên tục của sự phát triển đúng quy luật, cuối thời kỳ này đã
bắt đầu xuất hiện những tư tưởng triết học tiến bộ đóng vai trò chuẩn bị cho sự
phát triển mới của triết học ở thời kỳ Phục hưng với hai đại biểu là R.Bêcơn và
U. Ôccam.
3. Kết luận:
16