sử dụng mô hình camels đánh giá mức độ lành mạnh của hệ thống ngân hàng việt nam - Pdf 25

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Đảm bảo đầy đủ vốn hay an toàn vốn – Capital Aquadecy: 3
Đảm bảo đầy đủ vốn hay an toàn vốn – Capital Aquadecy: 3
Chất lượng tài sản – Asset quality: 4
Chất lượng tài sản – Asset quality: 4
Tập trung tín dụng khu vực: 4
Tập trung tín dụng khu vực: 4
Bảng 2.2: Tổng hợp danh mục cho vay theo ngành nghề 6
Bảng 2.2: Tổng hợp danh mục cho vay theo ngành nghề 6
Tín dụng ngoại tệ: 6
Tín dụng ngoại tệ: 6
Khoản vay không hoàn thành – Nợ quá hạn: 7
Khoản vay không hoàn thành – Nợ quá hạn: 7
Bảng 2.3: Bảng thống kê tỷ lệ nợ quá hạn 7
Bảng 2.3: Bảng thống kê tỷ lệ nợ quá hạn 7
Quản trị lành mạnh – Management soundness: 7
Quản trị lành mạnh – Management soundness: 7
Tỷ lệ chi phí trên tổng doanh thu: 7
Tỷ lệ chi phí trên tổng doanh thu: 7
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp tỷ lệ chi phí trên doanh thu 8
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp tỷ lệ chi phí trên doanh thu 8
Bảng 3.4: Bảng tổng hợp mức gia tăng chi nhánh và phòng giao dịch 8
Bảng 3.4: Bảng tổng hợp mức gia tăng chi nhánh và phòng giao dịch 8
Thu nhập – Earning 9
Thu nhập – Earning 9
Bảng 4.1: tổng hợp các chỉ tiêu thu nhập của hệ thống ngân hàng 10
Bảng 4.1: tổng hợp các chỉ tiêu thu nhập của hệ thống ngân hàng 10
Khả năng thanh khoản – Liquidity 11
Khả năng thanh khoản – Liquidity 11
Độ nhạy đối với thị trường – Sensitivity to market risk 13

hàng thương mại đều rất chú ý đến mức độ an toàn vốn của chính mình. Cũng phải
nói thêm, ngoài các ngân hàng lớn như ACB hay Đông Á, các ngân hàng còn lại
đa phần là các ngân hàng nông thôn mới chuyển thành ngân hàng đô thị và các
ngân hàng nhỏ từ chịu kiểm soát đặc biệt trong một thời gian dài. Do đó khả năng
phát triển dư nợ có phần hạn chế hơn các ngân hàng lớn.
Một điểm đáng lưu ý, số CAR bình quân của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh
lại thấp hơn so với quy định. Trong đó cần chú ý là BIDV và MHB. Cả hai ngân
hàng này đều có CAR thấp hơn 9%. Trong năm 2009, dư nợ cho vay của BIDV
tăng hơn 28% trong khi đó vốn tự có chỉ tăng gần 21%. Chỉ số CAR ba năm gần
nhất của BIDV đều thấp hơn 8%, như vậy có khả năng BIDV đã chấp nhận tăng
dư nợ quá nóng nhằm mở rộng thị phần và cạnh tranh với các định chế tài chính
khác.
Bảng 1.1: Chỉ số an toàn vốn bình quân của hệ thống ngân hàng Việt
Nam qua các năm.
2009 2008 2007
Nhóm NH TM quốc doanh 6,99% 7,52% 9,27%
Nhóm NH TM ngoài quốc doanh 16,74% 32,51% 17,31%
Nhóm NH Liên Doanh 18,13% 12,70% 9,03%
Toàn ngành ngân hàng 15,40% 28,94% 16,02%
(nguồn: do nhóm tác giả tổng hợp)
Ngoài ra, hiện tại thời hạn tăng vốn của các ngân hàng thương mại đang đến gần.
Với tiềm lực của các ngân hàng nhỏ như hiện tại thì khả năng tăng vốn điều lệ lên
3000 tỷ trong vòng 6 tháng tới sẽ rất khó khăn. Tuy nhiên với yêu cầu này, Ngân
hàng Nhà nước cho thấy nỗ lực của mình trong việc nâng cao khả năng chịu đựng
rủi ro cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Chất lượng tài sản – Asset quality:
Các chỉ số về chất lượng tài sản sẽ hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro trong cơ cấu tài
sản cũng như danh mục đầu tư của ngân hàng.
Tập trung tín dụng khu vực:
Việc tập trung dư nợ vào một vài ngành có thể gây ra nhiều rủi ro cho ngân hàng

hình ngân hàng bán lẻ, hướng đến nhóm khách hàng cá nhân và SMEs. Đây là một
lựa chọn hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro khi mà tiềm lực vốn của các ngân hàng
này còn yếu.
Riêng các nhóm ngân hàng quốc doanh, tỷ trọng dư nợ của các tổ chức kinh tế nhà
nước khá cao vì chỉ có nhóm ngân hàng với tiềm lực vốn lớn mới có thể đáp ứng
nhu cầu vay của các đơn vị như các thành viên của Tập đoàn dầu khí, Tập đoàn
viễn thông… Với các ngân hàng này, việc tập trung dư nợ vào số ít đối tượng hoàn
toàn có thể xảy ra. Như vậy rủi ro xảy ra sẽ gây ra tổn thất lớn. đây chính là điểm
hạn chế của các ngân hàng quốc doanh.
Đối với từng ngành nghề, dư nợ thường tập trung vào nhóm ngành công nghiệp
chế biến, thương mại và hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng. Theo bảng tổng
hợp, có thể thấy nhóm ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh chủ yếu cho vay
các ngành nghề như thương nghiệp, sửa chữa nhỏ, dịch vụ và các đối tượng cho
vay tiêu dùng. Giá trị các món vay này thường không lớn, đối tượng cho vay nhiều
nên rủi ro cũng được phân tán. Tuy nhiên với các đối tượng có nhu cầu vay để đầu
tư chứng khoán thì mức độ rủi ro các khoản này khá cao trong tình hình thị trường
chứng khoán như hiện nay. Với hạn mức 3% tổng dư nợ, Ngân hàng Nhà Nước đã
phần nào hạn chế việc cho vay kinh doanh, đầu tư chứng khoán, hạn chế một phần
rủi ro cho các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh.
Nhóm các ngân hàng quốc doanh lại tập trung cho các ngành công nghiệp, đòi hỏi
quy mô đầu tư lớn. Đương nhiên sẽ làm tăng rủi ro cho ngân hàng khi dư nợ lớn
chỉ tập trung vào một số khách hàng ở một vài ngành hàng nhất định.
Bảng 2.2: Tổng hợp danh mục cho vay theo ngành nghề
Toàn ngành Nhóm NHTMQD
Nhóm NHTM ngoài quốc
doanh
CAMELS 2009 2008 2007 2009 2008 2007 2009 2008 2007
Theo ngành nghề kinhdoanh
Tỷ trọng ngành nông nghiệp 5,27% 4,45% 6,10% 3,85% 3,19% 3,19% 5,43% 4,88% 5,91%
Tỷ trọng ngành Công nghiệp

Tỷ trọng các ngành khác 2,79% 5,37% 3,30% 24,43% #DIV/0! 46,86% 5,64% 5,29% 4,91%
(nguồn: nhóm tác giả tổng hợp)
Tín dụng ngoại tệ:
Đặc biệt, đối với một số ít ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối mới có thể
được cho vay ngoại tệ đối với các đối tượng có nguồn thu ngoại tệ. Các ngân hàng
này phải gánh chịu thêm rủi ro về tỷ giá vì tỷ trọng dư nợ ngoại tê tương đối lớn.
Ví dụ như tỷ lệ dư nợ nước ngoài của Vietcombank trong năm 2009 là 37% tổng
dư nợ tương đương với 52.333 tỷ đồng, cao nhất so với các ngân hàng trong hệ
thống.
Khoản vay không hoàn thành – Nợ quá hạn:
Bảng 2.3: Bảng thống kê tỷ lệ nợ quá hạn
2009 2008 2007
Nhóm NH TM quốc doanh
3,02% 3,04% 6,00%
Nhóm NH TM ngoài quốc doanh
1,97% 2,19% 2,02%
Nhóm NH Liên Doanh
2,28% 1,97% 2,20%
Toàn ngành ngân hàng
2,06% 2,24% 2,58%
(nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp)
Tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành năm 2009 ở mức 2,06%. Đây là một tỷ lệ thấp, cho
thấy tình hình cho vay hiện nay nói chung tương đối tốt. các ngân hàng đã chú
trọng đến thẩm định và lựa chọn khách hàng. Tuy nhiên ta có thể thấy tỷ lệ nợ quá
hạn của các ngân hàng quốc doanh cao hơn so với toàn ngành. Đây là một dấu
hiệu không tốt. Cho dù với tiềm lực vốn lớn nhưng tỷ lệ nợ quá hạn cao hơn trung
bình chứng tỏ công tác thẩm định và quản lý khoản vay còn kém hiệu quả so với
mặt bằng chung. mặc dù các hầu hết các khoản vay đều có tài sản đảm bảo nhưng
chi phí để xử lý các khoản nợ nhóm năm có thể rất cao. Thêm vào đó thời gian xử
lý kéo dài sẽ làm chôn vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng trong khi

Nhóm NH TM ngoài quốc doanh
47 37 34
Nhóm NH Liên Doanh
0 0 0
Toàn ngành ngân hàng
47 37 34
(nguồn: nhóm tác giả tổng hợp)
Mặc dù trải qua một năm khó khăn, nhưng số chi nhánh/phòng giao dịch của hệ
thống ngân hàng Việt Nam tăng bình quân 47 định chế/năm. Các ngân hàng quốc
doanh chỉ chiếm chưa đến 10% tổng số ngân hàng, nhưng số lượng chi nhánh tăng
trong năm lên đến 32 định chế trên khắp cả nước. Có thể thấy một sự nỗ lực để mở
rộng thị phần trước sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thương mại cổ phần
và ngân hàng nước ngoài.
Thu nhập – Earning
Trong các bộ chỉ tiêu CAMELS, nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận có vai trò quan trọng
khi đánh giá hoạt động của ngân hàng. Một ngân hàng không sinh lời sẽ không thể
tránh được việc mất khả năng thanh khoản, dẫn đến phá sản.
Tỷ suất Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu:
Bảng tổng hợp dưới đây cho thấy tỷ suất ROE của các ngân hàng thương mại
ngoài quốc doanh có sự suy giảm trong 3 năm vừa qua. Nguyên nhân chủ yếu là
do chi phí hoạt động tăng cao, lợi nhuận giảm. Trong khi đó vốn chủ sở hữu của
các ngân hàng này buộc phải nâng lên theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và
sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong năm 2009, ROE của nhóm
ngân hàng đã tăng trở lại, điều này cho thấy lợi nhuận của nhóm ngân hàng này
đang được cải thiện so với năm 2008.
Đối với các ngân hàng quốc doanh, do quy mô vốn lớn nên ROE của nhóm ngâ
hàng này tương đối thấp so với trung bình ngành. Chỉ số ROE bình quân 2009 có
giảm so với năm 2008. Điều này có thể giải thích bởi 2 lý do. Thứ nhất việc được
IPO của hai ngân hàng lớn là Vietcombank và Vietinbank đã tăng thêm vốn chủ sở
hữu của 2 ngân hàng này. Thứ hai, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại

doanh. Đây là yếu tố quan trọng giúp nhóm ngân hàng này ổn định thu nhập lãi của mình.
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên:
Tương tự tỷ số NIM, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên của các ngân hàng quốc
doanh vẫn cao hơn so với các trung bình toàn ngành. Điều này là do phần lợi
nhuận thu được hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh, thanh toán thẻ…đặc biệt
là thanh toán thẻ quốc tế. hiện tại chỉ có Vietcombank được độc quyền phát hành
thẻ American Express tại Việt Nam cũng như là đầu mối thanh toán các thẻ Visa,
Master, JCB, Dinner Club… Hoạt động ngoại hối, thanh toán quốc tế từ lâu vẫn là
thế mạnh của Vietcombank nói riêng và các ngân hàng quốc doanh nói chung. Tuy
nhiên, với sự lớn mạnh của các ngân hàng ngoài quốc doanh, các ngân hàng quốc
doanh đang vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ trên nhiều mảng dịch vụ thế mạnh
của mình. Sự gia tăng của NIRR cũng phần nào cho thấy nỗ lực đa dạng hóa dịch
vụ, phát triển các gói sản phẩm ngoài tín dụng của hệ thống ngân hàng nói chung
để hạn chế rủi ro lãi suất, củng cố hệ thống ngân hàng.
Khả năng thanh khoản – Liquidity
Rủi ro thanh khoản là yếu tố mà bất kỳ hệ thống ngân hàng cũng cố gắng tránh né
trong khả năng của mình. Các nhà quản trị sử dụng nhiều chỉ tiêu như Tín dụng
của ngân hàng Trung ương cho các định chế tài chính; Phân khúc lãi suất; Các
khoản tiền gửi như một phần trong tổng khối lượng tiền tệ; Tỷ lệ tín dụng trên huy
động; Cấu trúc kỳ hạn thanh toán các tài sản và các khoản nợ của định chế tài
chính; Tính thanh khoản của thị trường thứ cấp. Do hạn chế về số liệu nên trong
phạm vi bài viết, người viết chỉ đề cập đến 2 chỉ tiêu: Tỷ lệ tín dụng trên huy
động; và Tỷ số thanh toán ngay.
Tỷ lệ tín dụng trên huy động
Tỷ số này cho thấy mức độ sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay. Trường
hợp tỷ số này lớn hơn 1 cho thấy ngân hàng đã phải sử dụng đến vốn chủ sở hữu
của mình để cho vay nhằm duy trì mức lợi nhuận đã cam kết với cổ đông. Khi xảy
ra rủi ro thanh khoản, lượng tiền tại ngân hàng sẽ phải sử dụng đến vốn tự có dể
đáp ứng nhu cầu rút vốn của người dân.
Mặt khác, khi tỷ số này càng cao thì khả năng huy động vốn để đáp ứng nhu cầu

Toàn ngành ngân hàng 1,21 2,28 na
(nguồn: nhóm tác giả tổng hợp)
Theo tổng hợp từ bảng 5.2, có thể thấy tổng tài sản có có thể thanh toán ngay của
hệ thống ngân hàng nói chung hoàn toàn có thể đáp ứng cho việc thanh toán các
tài sản nợ tại cùng thời điểm. Theo quan điểm của người viết, tỷ số này nên thấp
hơn 2. Như vậy ngân hàng có thể sử dụng hiệu quả phần vốn huy động mà không
ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản.
Độ nhạy đối với thị trường – Sensitivity to market risk
Đây là nhóm các chỉ tiêu thể hiện độ nhạy của ngân hàng đối với những thay đổi
liên quan đến ngoại hối, lãi suất, chứng khoán…Trong phạm vi bài viết , người
viết chỉ đề cập đến yếu tố rủi ro lãi suất. Chỉ số này xác định bằng tỷ số giữa tài
sản nhạy cảm với lãi suất và nợ nhạy cảm với lãi suất.
- Tài sản nhạy cảm với lãi suất bao gồm: các loại chứng khoán ngắn hạn và
các khoản cho vay ngắn hạn.
- Nợ nhạy cảm với lãi suất: các khoản vay liên ngân hàng và các khoản tiết
kiệm ngắn hạn.
Bảng 6.2: Tỷ số độ nhạy với lãi suất:
2009 2008 2007
Nhóm NH TM quốc doanh 0,61 0,59 0,66
Nhóm NH TM ngoài quốc doanh 2,07 1,41 na
Nhóm NH Liên Doanh 1,13 0,91 0,91
Toàn ngành ngân hàng 2,01 1,38 na
(nguồn: nhóm tác giả tổng hợp)
Qua bảng 6.1cho thấy, các ngân hàng quốc doanh chịu ảnh hưởng khá mạnh từ
biến động lãi suất. Nguyên nhân có thể là do các ngân hàng này thu hút được một
lượng lớn tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn trong khi đó các khoản cho vay ngắn hạn có
tỷ trọng thấp. Điều này cũng phù hợp với tỷ số tín dụng trên huy động đã phân tích
ở trên. Như vậy khi có biến động lãi suất thì thu nhập lãi của các ngân hàng quốc
doanh sẽ bị ảnh hưởng. Khi lãi suất tăng các ngân hàng này sẽ chịu thiệt và ngược
lại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status