skkn TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC TRUYỆN HIỆN ĐẠI NGỮ VĂN 9” - Pdf 25

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THANH OAI
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ PHƯƠNG TRUNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
“TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC
TRUYỆN HIỆN ĐẠI – NGỮ VĂN 9”
Môn: Ngữ văn

Tên tác giả : NguyễnThị Hoàn
Chức vụ : Giáo viên
Tổ chuyên môn : Khoa học Xã hộiNĂM HỌC: 2013 - 2014
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
PHÒNG GD & ĐT THANH OAI
TRƯỜNG THCS PHƯƠNG TRUNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2013-2014
SƠ YẾU LÍ LỊCH
Họ và tên : Nguyễn Thị Hoàn
Ngày, tháng, năm sinh : 16 – 03 - 1976
Quê quán : Kim Thư - Thanh Oai – Hà Nội.
Trú quán : Bình Minh - Thanh Oai – Hà Nội.
Nghề nghiệp : Dạy học.
Chức vụ : Giáo viên.

Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì ở tất cả các cấp học, ngành học đều phải áp
dụng phương pháp dạy học theo hướng “Phát huy tính tích cực của người học”
bởi đây là nhân tố mới có vai trò thúc đẩy nhà trường phát triển gắn kết, hòa
nhập với sự phát triển của công nghệ, tạo nguồn lực đem lại lợi ích to lớn cho
toàn xã hội.
1.2. Cơ sở thực tế:
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp trong công
tác giáo dục cũng như đối với yêu cầu chung của xã hội nên trong tất cả các giờ
dạy học nói chung và giờ dạy học văn nói riêng, người giáo viên đặc biệt quan
tâm đến việc phát huy tính tích cực của học sinh, giúp học sinh chủ động khám
phá nghệ thuật văn chương, phát huy ngôn ngữ, tạo lập văn bản.
Một nhà phê bình đã nói: “Cảm thụ đã khó mà làm cho học sinh cảm thụ
lại càng khó hơn”. Làm thế nào để học sinh hứng thú và yêu thích môn văn ? Đó
là câu hỏi không dễ trả lời bởi đặc trưng của môn văn là một loại hình nghệ
thuật tiêu biểu (Nghệ thuật ngôn từ). Ngoài việc cung cấp kiến thức như các
môn học khác, môn Ngữ văn còn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm, nhân cách cho các em học sinh và bước đầu các em có năng lực cảm
thụ các tác phẩm có giá trị nhân văn.
Tuy nhiên học văn là cả một quá trình tích lũy lâu dài, không thể học qua
loa, đối phó hay miễn cưỡng mà phải cập nhật từng ngày, từng vấn đề, từng tác
phẩm. Để làm được điều này thì người dạy phải có phương pháp phù hợp và
người học phải có hứng thú tiếp nhận.
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
3
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
Truyện hiện đại Việt Nam ở lớp 9 chiếm một vị trí không nhỏ trong
chương trình Ngữ văn 9, với số lượng là năm tác phẩm và hơn nữa là một nội
dung lớn trong cấu trúc đề thi vào lớp 10.
Lứa tuổi học sinh lớp 9 là lứa tuổi mà các em có sự thay đổi lớn cả về tâm
và sinh lý, các em ít tập trung vào học tập, nhiều em không thích học, đặc biệt là

4
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
PHẦN B: NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
1.1 Giải thích các thuật ngữ khoa học
- Hứng thú: là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó
có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình
hoạt động.
Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung
hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt
động nhận thức, tăng sức làm việc.
- Truyện hiện đại: Ra đời vào đầu thế kỷ XX, được viết bằng tiếng Việt
hiện đại, đã có cốt truyện với nhiều hư cấu. Về nhân vật đã chú trọng miêu tả
ngoại hình, tính cách, kiểu nhân vật có tính cách phức tạp. Về nghệ thuật, hướng
vào khắc họa hình tượng, phát hiện bản chất.
1.2 Mục tiêu , ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu.
- Nâng cao chất lượng giảng dạy truyện hiện đại trong chương trình Ngữ
văn 9.
- Học sinh biết cách tóm tắt, phân tích tác phẩm, trả lời được những câu
hỏi xoay quanh tác phẩm.
1.3 Yêu cầu cần đạt của vấn đề nghiên cứu.
- Về kiến thức: Học sinh được trang bị những kiến thức về đặc trưng của
thể loại truyện hiện đại, cách phân tích, cảm thụ một tác phẩm truyện hiện đại,
những điểm cần lưu ý khi phân tích tác phẩm truyện hiện đại.
- Về kĩ năng: Học sinh vận dụng những kiến thức trên vào quá trình phân
tích, cảm thụ một tác phẩm truyện hiện đại trong giờ học Ngữ văn ở trên lớp và
viết bài nghị luận về tác phẩm.
- Về thái độ: Biết cách phân tích, cảm thụ một tác phẩm truyện hiện đại và
yêu hơn môn văn. Từ đó có thái độ nghiêm túc trong học tập.

2.2.2. Những bất cập
Chúng ta đã và đang thực hiện cuộc vận động “Hai không” với 4 nội
dung: nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, nói
không với việc học sinh ngồi nhầm lớp và vi phạm đạo đức nhà giáo. Song, một
thực tế đáng buồn là còn nhiều thầy cô giáo chưa thật quan tâm đến cải tiến
phương pháp giảng dạy cho phù hợp đối tượng và đặc trưng bộ môn, nhất là đối
với môn Ngữ văn. Giờ học văn diễn ra rất tẻ nhạt. Văn bản không được phân
tích theo thông điệp nghệ thuật vốn có, ngược lại nó bị băm nát, gán ghép, mổ
xẻ theo một loạt những câu hỏi rời rạc, trò thay nhau đọc, thầy giải thích ý nghĩa
nội dung, nghệ thuật, rồi rút ra bài học. Nhiều thầy cô quên mất đặc trưng của
văn học, dạy văn mà cứ như dạy chính trị, Giáo dục công dân hay Lịch sử, Địa
lí Các văn bản truyện hiện đại ở lớp 9 nhìn chung nội dung kiến thức hơi nhiều
dẫn đến tình trạng giáo viên dạy luôn có tâm lí sợ cháy giáo án nên nhiều giáo
viên chỉ cung cấp ý cho học sinh mà bỏ qua lời bình…Một số giáo viên còn loay
hoay với giáo án điện tử, chỉ chú trọng đến hình ảnh không khai thác được điểm
sáng thẩm mĩ của văn bản . Học sinh chưa cảm, hiểu truyện sâu sắc qua cách
giải mã nghệ thuật xây dựng truyện, không nắm được đặc trưng nghệ thuật
truyện ngắn như: cốt truyện, nhân vật, lời kể, kết cấu, tình huống, ngôn ngữ
Nhiều giáo viên không trang bị cho học sinh lí luận, không chú ý phát triển tư
duy cho học sinh mà chỉ rèn trí nhớ, một trí nhớ máy móc, rập khuôn đến mức
sao chép. Cách ra đề thi cũng chưa buộc giáo viên phải đổi mới cách dạy, học
sinh phải đổi mới cách học. Học sinh chưa có thói quen tự học, tự làm, chưa biết
vận dụng sáng tạo kiến thức đã học để giải quyết vấn đề có liên quan… Nhiều
em không phân biệt được các ý chính, ý phụ. Nhiều thầy cô giáo quá lo đối phó
với thi cử nên cứ đọc cho học sinh chép bài văn mẫu đã soạn theo ý thầy mà đa
phần là ghi lại các ý của sách giáo viên. Điều này dẫn đến tình trạng các em ít
mặn mà với môn Văn, vì không cảm được nó hay ở chỗ nào. Hậu quả là bài viết
của học khi phân tích, cảm nhận…về nhân vật hoặc tác phẩm thường không làm
rõ được đặc điểm, tính cách, tâm trạng, hay tình huống của truyện để làm nổi bật
vẻ đẹp phẩm chất, số phận nhân vật cũng như những đặc trưng cơ bản của mỗi

Không thích Bình thường Thích
27/42 10/42 5/42
(64%) (24%) (12%)
Nhận xét:
Ta thấy tỉ lệ học sinh yêu thích học văn quả là rất thấp, tỉ lệ học sinh
không thích học môn văn là rất cao.
b. Điều tra qua vở soạn của học sinh:
Tôi thu và kiểm tra 42 vở soạn của học sinh.
Kết quả:
Không soạn bài Soạn bài qua loa, đối phó Soạn bài
32/42 5/42 5/42
(76%) (12%) (12%)
Nhận xét:
Tỉ lệ học sinh soạn bài trước khi đến lớp cũng rất thấp, học sinh không
soạn bài chiếm tỉ lệ rất cao.
c. Điều tra qua thực tế giờ dạy:
* Kiểm tra phần đọc- tóm tắt văn bản.
- Kiểm tra việc đọc của học sinh, tôi hỏi: “ Truyện có những nhân vật
nào?”
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
7
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
Kết quả:
Học sinh không biết Học sinh biết
37/42 5/42
(88%) (12%)
- Kiểm tra tóm tắt tác phẩm, tôi yêu cầu học sinh: “ Em hãy tóm tắt tác
phẩm “Làng” của Kim Lân ?”
Kết quả:
Học sinh không biết tóm tắt Học sinh biết tóm tắt

- Truyện ngắn là một thể loại văn học. Nó thường là các câu chuyện kể
bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, xúc tích và hàm nghĩa.
- Truyện ngắn có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.
- Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ
xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người.
- Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không
gian, hạn chế, chức năng của nó là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và
tình người.
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
8
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
- Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà
thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng.
- Truyện ngắn thường tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất
định. Tình huống của truyện ngắn là một sự kiện đặc biệt trong đó chứa đựng
một tình thế bất thường của quan hệ đời sống. Tình huống có vai trò đặc biệt
quan trọng, nó là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn. Nghĩa là nó quyết
định đến sự sống còn của một truyện ngắn. Đọc truyện ngắn, phân tích truyện
ngắn mà chưa nắm được tình huống thì coi như chưa nắm được chiếc chìa khóa
vàng để mở vào thế giới bí ẩn của truyện ngắn ấy.
- Người kể chuyện có vai trò không thể thiếu trong truyện ngắn. Người kể
chuyện luôn ẩn mình ngay cả những truyện ngắn với người kể xưng tôi, nhà văn
cũng muốn làm mất cái tôi cá nhân để có cái tôi nghệ thuật.
3.1.2 So sánh khái quát truyện trung đại và truyện ngắn hiện đại:
Về các mặt Truyện trung đại Truyện ngắn hiện đại
- Thời gian xuất hiện
- Về chữ viết
- Về cốt truyện
- Về nhân vật
- Về dụng ý nghệ thuật

học.
3.3 Tổ chức giờ học khoa học, lôi cuốn.
3.3.1 Giới thiệu bài – tiền đề cho sự tiếp nhận.
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
9
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
Như chúng ta đã biết, tiếp nhận tác phẩm là một hoạt động nhằm chiếm
lĩnh giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Để học sinh có thể
tiếp nhận tác phẩm văn học một cách hào hứng, có hiệu quả thì giáo viên phải
chuẩn bị tốt lời giới thiệu bài để khêu gợi tâm lí cảm thụ bài văn, tạo dần tâm
thế văn học cho học sinh.
Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Làng” của Kim Lân, giáo viên tạo tâm thế cho
học sinh bằng cách đặt câu hỏi: “Kể tên các bài các bài thơ, ca dao viết về đề
tài: Tình yêu quê hương , đất nước mà em biết?” Từ đó giới thiệu vào bài mới:
Mỗi người dân Việt Nam đều rất yêu và gắn bó với làng quê của mình. Đã
có biết bao những câu ca dao, bài thơ hay viết về tình cảm này như: “Anh đi anh
nhớ quê nhà – Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”(Ca dao) hay “Quê
hương tôi có con sông xanh biếc – Nước gương trong soi tóc những hàng
tre”(Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh), thật dung dị mà ngọt ngào sâu sắc.
Với tác phẩm “Làng”, nhà văn Kim Lân cũng sẽ cho ta thấy và cảm nhận được
tình yêu làng quê, yêu đất nước sâu sắc của người nông dân trong những năm
đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp qua nhân vật ông Hai.
Ví dụ 2. Khi giới thiệu bài “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang
Sáng, giáo viên giới thiệu bằng cách đi thẳng vào đề tài:
Tình cảm gia đình là một tình cảm thân thuộc đối với mỗi người dân Việt
Nam. Tình cảm ấy không chỉ đi vào thơ ca mà cả truyện ngắn một cách tự nhiên.
Đến với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tình cảm này lại càng trở nên đặc biệt và
sâu sắc hơn. Vậy điều đặc biệt ấy là gì? Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu truyện
ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn nhé!
Ví dụ 3: Khi giới thiệu bài “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê,

nhất thiết phải từ đọc. Âm vang của lời đọc sẽ kích thích quá trình tri giác, tưởng
tượng và tái hiện hình ảnh. Cảm xúc bắt đầu từ đọc và được tư duy phát triển
trong quá trình đọc. Nhập thân vào tác phẩm chỉ có thể bắt đầu bằng đọc diễn
cảm. Đọc kích thích quá trình tâm lý cảm thụ, tri giác tưởng tượng, xúc cảm.
Đọc diễn cảm còn là phương tiện giáo dục bồi dưỡng đạo đức, thẩm mỹ
cho các em học sinh, giúp các em cảm thụ được cái hay, cái đẹp của văn học làm
cho các em yêu thích văn học từ đó có ý thức rèn luyện đọc diễn cảm.
Khi đọc diễn cảm tác phẩm truyện, bắt đúng giọng nhân vật là bắt đúng cái
tình của nhân vật, chỉ cần một câu thôi là tức khắc người đọc đặt được mình vào
tâm trạng nhân vật, hiểu được tiếng nói nhà văn. Từ đó giờ giảng văn trở thành
một công việc tâm tình, một cuộc trao đổi thật sự cho cuộc sống không còn là
một giờ bàn luận về chính trị, luân lý nặng nề.
Bằng sức mạnh riêng của đọc diễn cảm, người giáo viên dẫn dắt học sinh
đi vào thế giới của tác phẩm một cách dễ dàng, phù hợp với qui luật cảm thụ văn
học. Để làm được điều đó, giáo viên phải hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm
trước khi đi vào phân tích tác phẩm truyện hiện đại ở lớp 9. Song, tùy yêu cầu,
tùy từng bài cụ thể mà giáo viên có thể hướng dẫn đọc dưới nhiều hình thức và
với những mức độ khác nhau: đọc cả bài, đọc từng đoạn, đọc để gây không khí,
đọc để sáng tỏ lời bình, đọc để chứng minh cho lời giảng, đọc đầu giờ và đọc ở
phần kết thúc bài giảng.
Ví dụ: Khi học văn bản “Chiếc lược ngà”, giáo viên hướng dẫn cách đọc:
đọc to, rõ ràng, chú ý giọng kể của tác giả (nhân vật anh Ba xưng tôi ở ngôi thứ
nhất) trầm tĩnh, cảm động, hơi buồn, những đoạn miêu tả tâm trạng của bé Thu,
ông Sáu cần phân biệt và đọc giọng phù hợp.
Sau khi hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên đọc mẫu, gọi học sinh đọc và
nhận xét, điều chỉnh cách đọc cho phù hợp để đạt hiệu quả cho việc tiếp nhận
tác phẩm của học sinh. Trên cơ sở học sinh đã chuẩn bị bài ở nhà, giáo viên có
thể cho học sinh tường thuật văn bản hoặc tóm tắt văn bản.
* Tóm tắt văn bản – một khâu không thể thiếu trong giờ học truyện hiện
đại.

- Khi nghe tin làng theo Tây tâm trạng của ông ra sao?
- Khi nghe tin cải chính ông có hành động và tâm trạng gì?
Cụ thể HS cần tóm tắt được văn bản :
Truyện kể về nhân vật ông Hai- người làng Chợ Dầu ở Bắc Ninh.Ông là
người luôn tự hào, kiêu hãnh về làng Chợ Dầu và “mắc tật” khoe làng với mọi
người. Kháng chiến bùng nổ, ông Hai phải đưa vợ con đi tản cư. Ở nơi tản cư,
ông luôn nhớ làng , mong muốn được trở về cùng du kích kháng chiến. Nghe
tin làng Chợ Dầu làm “Việt gian” theo giặc, ông Hai đau đớn, phẫn nộ và tủi
nhục, không dám gặp ai, nhìn ai. Ông rơi vào tâm trạng đầy mâu thuẫn: vừa yêu
thương, vừa căm giận, vừa tin tưởng, vừa ngờ vực. Nghe tin cải chính về làng
Chợ Dầu không theo giặc, ông Hai vui mừng khôn xiết, lại hớn hở đi khắp nơi
khoe nhà mình bị Tây đốt.
Với cách tóm tắt ngắn gọn văn bản, học sinh không còn sợ “dài lắm, em
không tóm tắt được” từ đó học sinh có ý thức hơn khi tóm tắt văn bản và sẽ hào
hứng hơn khi xung phong tóm tắt để lấy điểm và nhận lời khen gợi của cô giáo.
* Sử dụng hệ thống câu hỏi linh hoạt – yếu tố tạo nên thành công cho mỗi
bài giảng.
Trong giờ học văn, câu hỏi có thể dùng ở tất cả các giai đoạn dẫn dắt học
sinh chiếm lĩnh tác phẩm, song hỏi như thế nào, hỏi vào lúc nào và ra sao, thì
lại là điều trăn trở, suy nghĩ của người giáo viên. Bởi trong giờ học văn, không
phải học sinh nào cũng cảm thụ tốt tác phẩm. Để kích thích và phát huy tính
tích cực của học sinh, giáo viên phải dùng hệ thống câu hỏi linh hoạt đối với
mỗi tác phẩm, mỗi nội dung tác phẩm và với mỗi đối tượng học sinh. Câu hỏi
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
12
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
phải vừa sức và có tính chất phân loại đối tượng học sinh. Câu hỏi phải xây
dựng theo cấp độ từ dễ đến khó. Có như vậy, giờ học văn mới đảm bảo sự sáng
tạo và hứng thú cho các em.
a. Câu hỏi phân loại đối tượng học sinh:

toát lên ý nghĩa gì? (Ca ngợi tình phụ tử sâu sắc, thiêng liêng, lên án chiến
tranh xâm lược)
+ Dạng 3: (Học sinh giỏi) Được sống trong hòa bình, em mong ước điều
gì cho những người như cha con ông Sáu? Hãy bình về hình ảnh chiếc lược
ngà?
( Học sinh thể hiện mong ước)
Giáo viên chốt: Không có chiến tranh, đó là mong ước không chỉ của
riêng các em mà là của tất cả mọi người. Chúng ta mong ước mỗi gia đình đều
có cuộc sống sum vầy hạnh phúc, cha con không bị xa cách, không phải sống
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
13
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
trong nhớ nhung, mong đợi… Chiếc lược ngà là kỉ vật thiêng liêng, chiếc lược
ngà là tình cha ấm áp, yêu thương, chiếc lược của hi vọng, của niềm tin.
b. Kết hợp linh hoạt các dạng câu hỏi .
- Câu hỏi tái hiện: Ở dạng câu hỏi này, giáo viên đặt những câu hỏi yêu
cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy
luận. Loại câu hỏi này giúp học sinh tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm
như: các hình ảnh, hình tượng, chi tiết nghệ thuật, nhân vật…Các câu hỏi này có
khả năng khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình tếp nhận ở học sinh.
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, giáo
viên có thể hỏi: “Không gian mặt đường được nhà văn miêu tả qua các chi tiết
nào trong tác phẩm? Hãy tái hiện lại không gian đó? Sau khi học sinh điểm qua
một vài chi tiết như: Con đường bị đánh lở loét, máy bay rít, phản lực gầm gào,
bom nổ…xé không khí, lao và rít vô hình trên đầu. Giáo viên hướng dẫn học
sinh phân tích cái hiện thực của các chi tiết trên và cho các em liên hệ một số tác
phẩm khác để tái hiện lại không gian cuộc chiến tranh tàn khốc( Ví dụ: “Bài thơ
về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật)
- Câu hỏi tìm tòi: (Vấn đáp, phát hiện) Đây là câu hỏi trọng tâm trong
giờ học văn. Sự cảm thụ tác phẩm của học sinh qua con đường nhận thức, để

tác phẩm, phải gây hứng thú cho học sinh và phải động viên, khuyến khích học
sinh giải quyết vấn đề đã nêu.
Ví dụ: Khi dạy bài “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng,
giáo viên có thể hỏi: “Có ý kiến cho rằng: “Bé Thu có tình yêu cha sâu sắc,
mãnh liệt”, có ý kiến lại cho rằng: “Bé Thu là đứa trẻ ngang ngạnh, cứng
đầu”,có ý kiến cho rằng: “Bé Thu ngang ngạnh cứng đầu như vậy vì em rất yêu
thương cha”. Câu hỏi này đặt ra khi phân tích nhân vật bé Thu. Để giúp học sinh
giải quyết được câu hỏi trên, giáo viên có thể gợi mở? Vì sao bé Thu nhất định
không gọi ông Sáu là ba?(Vì ông Sáu có vết thẹo dài trên má- không giống
người cha em đã thấy trong ảnh) Vậy vết thẹo ở đây- chi tiết nghệ thuật đặc sắc,
gây kịch tính là thắt nút của vấn đề khiến bé Thu không nhận cha.Việc bé nhất
định không gọi ông Sáu là cha và có hành động “hất tung cái trứng cá” không
phải là bé Thu ngang ngạnh, cứng đầu mà vì bé muốn dành tình yêu cho người
cha đích thực của mình.
- Câu hỏi phân tích, nhận xét, đánh giá: Sau khi nêu ra các câu hỏi tái
hiện, giáo viên nên đặt những câu hỏi để tìm ra những lí do: Tại sao lại xây
dựng, sử dụng những hình ảnh, hình tượng, chi tiết nghệ thuật đó? Ý nghĩa của
vấn đề? Loại câu hỏi này giúp học sinh phân tích, đánh giá và khái quát vấn đề
về hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng của tác phẩm. Ví dụ: Khi giảng bài
“Làng” của Kim Lân, giáo viên có thể hỏi: “Tại sao tác giả không mở đầu tác
phẩm của mình bằng sự việc ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây? Phân
tích tình huống ấy? Đối với loại câu hỏi này, giáo viên hướng dẫn học sinh vào
nghệ thuật tạo dựng tình huống của tác giả. Nếu để cho ông Hai nghe tin làng
Chợ Dầu theo giặc ở đầu câu chuyện thì truyện ngắn của Kim Lân không tạo
được tình huống gay cấn – một nghệ thuật đặc sắc, để bộc lộ sâu sắc tình yêu
làng, yêu nước của nhân vật ông Hai.
- Câu hỏi khái quát, tổng hợp: Đây là loại câu hỏi nhằm khái quát, tổng
hợp lại vấn đề sau mỗi mục, mỗi phần để học sinh có thể thâu tóm được toàn bộ
nội dung và nghệ thuật của mỗi mục, mỗi phần đó.Ví dụ: Khi giảng bài “Những
ngôi sao xa xôi”, để chốt lại phần phân tích nhân vật Phương Định, giáo viên có

góp quan trọng cho đất nước như thế nhưng anh thanh niên hiếu khách, sôi nổi
ấy lại rất khiêm tốn. Anh luôn cảm thấy mình bình thường như bao người khác.
Anh hiểu được ý nghĩa công việc mình làm là lớn lao nhưng lại cho những đóng
góp của mình là vô cùng nhỏ bé so với bao nhiêu người khác. Khi ông họa sĩ
phác họa bức chân dung anh nhưng anh đã khẩn khoản từ chối và cho rằng còn
có rất nhiều người đáng vẽ hơn anh Có thể nói, qua cuộc gặp gỡ và trò chuyện
ngắn ngủi giữa ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ, ta thấy người thanh niên ấy thật
đáng yêu biết bao”.
Phân tích tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm truyện hiện đại ở lớp
9 nói riêng, giáo viên phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa giảng và bình. Nhờ bình
mà lời giảng thêm sâu nhưng bình phải dựa trên giảng. Để đi đến lời bình này,
giáo viên phải giảng cho học sinh hiểu công việc của anh thanh niên và những
đóng góp của những người lao động đang âm thầm cống hiến hết mình cho đất
nước. Cũng từ đó học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về con người, đặc biệt là thế
hệ trẻ Việt Nam.
- So sánh trong phân tích tác phẩm truyện hiện đại.
So sánh trong phân tích tác phẩm truyện hiện đại là phương pháp đối
chiếu giữa các hiện tượng có ý tương đồng hoặc tương phản thuộc một tác phẩm
hoặc những tác phẩm của cùng tác giả hay khác tác giả, giữa tác phẩm với thời
đại mục đích là để làm sáng tỏ tác phẩm.
Vận dụng phương pháp này sẽ giúp cho việc phân tích tác phẩm được sâu
hơn. Giờ học sẽ trở nên sinh động, phát huy được tính tích cực của học sinh.
Để phương pháp này đạt được hiệu quả cao, giáo viên phải biết lựa chọn
nội dung (đối tượng) so sánh. Bởi không phải tác phẩm nào khi giảng dạy cũng
cần áp dụng phương pháp so sánh; mặt khác, ngay cả những tác phẩm có vấn đề
cần so sánh thì cũng không thể so sánh tùy tiện các chi tiết, hay hiện tượng nghệ
thuật nào.
Ví dụ: Khi giảng dạy tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh
Khuê, giáo viên có thể áp dụng phương pháp so sánh để làm nổi bật những giá
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung

của tư duy, đặc biệt là tư duy sáng tạo. Theo Rubinxten “yếu tố đầu tiên của quá
trình tư duy thường là tình huống có vấn đề. Con người bắt đầu tư duy khi có
nhu cầu hiểu biết một cái gì”, vì vậy, để học sinh có thể tiếp nhận, lĩnh hội vững
chắc kiến thức trong mỗi giờ học, giáo viên phải xây dựng được tình huống có
vấn đề và hệ thống câu hỏi nêu vấn. Hơn nữa, tình huống có vấn đề sẽ có tác
dụng lôi cuốn học sinh vào quá trình tư duy. Một bài văn, một tác phẩm văn
chương, số phận nhân vật chỉ trở thành đối tượng suy tư của mỗi người khi
chính người đó nhận ra trong đó một tình huống, một vấn đề, một tâm trạng có
liên quan với tầm suy nghĩ hay rung động của mình. Tác phẩm nào cũng có vấn
đề, nhưng không phải vấn đề nào cũng trở thành tình huống có vấn đề. Sự khéo
léo của người giáo viên là phải tạo ra được những tình huống ấy.
Ví dụ: Khi dạy tác phẩm “Làng” của Kim Lân, giáo viên có thể đặt câu
hỏi: Vì sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng về làng Chợ
Dầu nhưng Kim Lân lại đặt tên truyện ngắn của mình là “Làng” mà không phải
là “Làng Chợ Dầu”?
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
17
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
Câu hỏi phải sát với tác phẩm và khêu gợi hứng thú của học sinh. Giáo
viên phải tính toán để xây dựng câu hỏi vừa phản ánh bản chất của tác phẩm vừa
nằm trong tầm cảm nghĩ của học sinh.
3.3.3. Sử dụng đa dạng các phương tiện – kĩ thuật dạy học.
Trong giờ học truyện hiện đại, việc góp phần không nhỏ tạo nên thành
công là giáo viên sử dụng đa dạng các phương tiện – kĩ thuật dạy học.
* Ứng dụng công nghệ thông tin :
Công nghệ thông tin là một công cụ hỗ trợ vô cùng tích cực và hiệu quả
trong dạy học, đặc biệt là môn Ngữ văn. Nó mang lại cho cả thầy và trò không
gian mới nhiều hứng thú trong giờ học, tạo sự sinh động, hấp đẫn, lôi cuốn.
Song ứng dụng công nghệ thông tin như thế nào để đem lại hiệu quả thì lại là
việc không hề đơn giản đối với nhiều giáo viên.

Tùy theo từng nội dung bài học mà giáo viên có thể đưa hình minh họa hoặc
đoạn băng hình sao cho hợp lí, có hiệu quả. Điều này có tác dụng rất lớn đến quá
trình nhận thức của học sinh trong mỗi tác phẩm và bài học càng trở nên sinh
động hấp dẫn, lôi cuốn hơn.
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
19
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
* Kĩ thuật dạy học.
Ngoài việc ứng dụng công nghệ thông tin, để kích thích tinh thần sáng tạo
và làm việc theo nhóm, giáo viên có thể sử dụng các kĩ thuật dạy học như kĩ
thuật khăn phủ bàn hay lập sơ đồ tư duy sau mỗi bài học.
- Kĩ thuật khăn phủ bàn:
Với kĩ thuật khăn phủ này, giáo viên có thể áp dụng linh hoạt vào các
phần của bài giảng sao cho hợp lí. Cụ thể khi thực hiện phần tổng kết bài
“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, giáo viên cho học sinh làm việc
theo nhóm trong ba phút với câu hỏi: “ Khái quát lại toàn bộ nội dung và nghệ
thuật chính trong bài Những ngôi sao xa xôi?” Để thực hiên tốt kĩ thuật này,
giáo viên chia lớp thành bốn nhóm( tùy thuộc số lượng học sinh trong một lớp
có thể chia nhiều hơn hoặc ít hơn bốn nhóm) và phải hướng dẫn cụ thể cho các
em và yêu cầu chuẩn bị:
- Dụng cụ: hai tờ giấy A0 cắt làm bốn phần( mỗi nhóm ½ tờ), bút dạ.
- Cách thức: Các nhóm cùng trao đổi, thảo luận, và đưa ra ý kiến cụ thể
của từng thành viên, các em ghi lại ý kiến của mình ở bốn góc xung quanh tờ
giấy đã chuẩn bị câu hỏi. Sau khi các thành viên trong nhóm trả lời xong câu
hỏi, nhóm trưởng tổng hợp lại vào ô trung tâm.
Mô hình cụ thể cho kĩ thuật này:
Cuối cùng giáo viên nhận xét và khái quát lại trên màn hình phần tổng kết như
sau:

Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung

Ví dụ: Sau khi học xong văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, giáo
viên có thể cho học sinh khái quát lại kiến thức bằng sơ đồ tư duy sau:
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
21
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
- Dùng SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, bài học và hệ thống
kiến thức sau mỗi chương, phần… Giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự
hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ
SĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
22
Đề tài SKKN:Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học truyện hiện đại – Ngữ văn 9
tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách
nhanh chóng, dễ dàng.
Ví dụ: Để củng cố kiến thức sau khi học xong văn bản “Chiếc lược ngà”, giáo
viên cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy:
Ông Sáu về phép thăm nhà.
Bé Thu không nhận ông Sáu là cha. Tình yêu thương ba
mãnh
Ngày ông Sáu lên đường, bé Thu mới nhận liệt của bé Thu.
ra cha.
Tình huống Nội dung Tình yêu thương con thắm
Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết thiết, sâu nặng của ông Sáu
tình yêu thương vào làm chiếc
lược nhưng chưa kịp trao cho
con thì ông đã hi sinh.
Thứ nhất

lời khen ngợi của giáo viên.
Với trò chơi này, các em sẽ không còn cảm thấy mệt mỏi hay nhàm chán,
mà trái lại, các em vô cùng hào hứng và thích thú.
3.3.4 Hướng dẫn học sinh chuẩn bị tốt bài ở nhà – khâu then chốt giúp học
sinh chủ động tiếp nhận tác phẩm.
Như trên đã nói, học sinh thường rất coi nhẹ việc chuẩn bị bài ở nhà, thậm
chí là không học và soạn bài. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tiếp
nhận tác phẩm của học sinh trên lớp. Vì vậy, để học sinh hứng thú với giờ học
văn, giáo viên phải làm tốt khâu: Hướng dẫn về nhà. Làm thế nào để học sinh
không cảm thấy bị ép buộc mà coi đó là công việc cần làm trước khi đến lớp?
Giáo viên phải linh hoạt, khéo léo trong cách hướng dẫn:
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo nhóm:
Ví dụ: Khi tìm hiểu về tác giả Kim Lân (Văn bản Làng), giáo viên giao
nhiệm vụ cho học sinh: “Về nhà tìm hiểu những thông tin đầy đủ về tác giả Kim
Lân và tác phẩm Làng?”
Giáo viên yêu cầu cả bốn nhóm cùng thực hiện một câu hỏi. Nhóm nào có
kết quả đầy đủ và đúng nhất về tác giả sẽ được khen thưởng như cho điểm theo
nhóm, nếu học sinh nào không cộng tác sẽ bị phê bình và chịu khuyết điểm.
- Hướng dẫn học sinh soạn bài bằng các câu hỏi trọng tâm:
Để khơi gợi hứng thú của học sinh, câu hỏi chuẩn bị tuyệt đối không được
tùy tiện. Mỗi câu hỏi cho học sinh vừa có tác dụng khêu gợi hứng thú, vừa
hướng dẫn đi vào thế giới trung tâm cảm hứng của tác giả, vừa có tác dụng
chuẩn bị cho hoạt động khám phá của giáo viên và học sinh trên lớp.
Ví dụ 1: Khi hướng dẫn học sinh soạn bài “Lặng lẽ Sa pa” của Nguyễn
Thành Long, giáo viên định hướng cho học sinh bằng những câu hỏi trọng tâm
sau:
+ Truyện kể về điều gì? Ai là nhân vật chính? Nhân vật này có những đặc
điểm và phẩm chất tốt đẹp nào?
+ Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Nhân vật chính hiện lên qua điểm
nhìn của nhân vật nào?

Phần minh họa cụ thể :
Tiết 141 NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI (Trích)
- Lê Minh Khuê -

I. Mức độ cần đạt:
Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái thanh niên xung phong trong
truyện và nét đặc sắc trong cách miêu tả nhân vật và nghệ thuật kể chuyện của
Lê Minh Khuê.
1. Kiến thức:
- Vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, tính cách dũng cảm, hồn nhiên trong cuộc sống
chiến đấu nhiều gian khổ, hi sinh nhưng vẫn lạc quan của những cô gái thanh
niên xung phong trong truyện.
- Thành công trong việc miêu tả tâm lí nhân vật, lựa chọn ngôi kể, ngôn ngữ kể
hấp dẫn.
2. Kĩ năng:
- Đọc - hiểu một tác phẩm tự sự sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ
cứu nước.
- Phân tích tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất xưng “tôi”.
- Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng nhân vật trong tác phẩm.
3. Thái độ:
- Biết ơn những người đã hi sinh vì đất nước, ca ngợi sự can đảm của các cô gái
thanh niên xung phong thời chống Mĩ cứu nước
II. Chuẩn bị
- GV: Tư liệu, tranh về tác giả, tác phẩm.
- HS: Soạn bài theo yêu cầu.
III. Phương pháp:
- Đàm thoại, gợi mở, nêu vấn đề, phân tích, thảo luận nhóm, giảng bình…
Giáo viên : Nguyễn Thị Hoàn Trường: THCS Phương Trung
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status