SKKN Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ kể chuyện qua việc tổ chức cho học sinh sắm vai - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ KỂ CHUYỆN
QUA VIỆC TỔ CHỨC CHO HỌC SINH SẮM VAI”
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Nhiều nhà chuyên môn cho rằng bậc Tiểu học là bậc học kĩ năng và bậc Tiểu học ở
bất cứ quốc gia nào cũng vậy, cũng phải hình thành cho sinh kĩ năng cơ bản tối thiểu và
đặc trưng nhất, đó là kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ; nghe, nói, đọc, viết, những kĩ năng
được hình thành trên cơ sở tư duy phát triển, và ngược lại nhờ có kĩ năng cơ bản đó mà
học sinh tiếp tục học tập tốt hơn, tạo được bước phát triển cao hơn.
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Nhà trường Tiểu học là cái nôi cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học, kĩ năng,
kĩ xảo cần thiết, giúp các em hình thành và phát triển nhân cách.
Ở trường Tiểu học, Kể chuyện là một môn học lý thú, hấp dẫn đối với học sinh.
Tiết Kể chuyện thường được các em chờ đón và tiếp thu bằng một tâm trạng hào hứng.
Khác hẳn với những tiết học khác, ở tiết học kể chuyện, giáo viên và các em học sinh hầu
như thoát li hẳn sách vở, giao hoà tình cảm một cách hồn nhiên thông qua những nội
dung câu chuyện được kể, thông qua lời kể của giáo viên và lời kể lại của học sinh. Gần
như mối quan hệ thầy trò mới được xác lập giữa một không khí mới, không khí của lòng
vị tha và nhân ái.
Mục đích của phân môn kể chuyện là đem lại niềm vui cho học sinh, giáo dục cho
các em tư tưởng, tình cảm lành mạnh, cung cấp cho các em vốn hiểu biết về Văn, Tiếng
Việt. Kể chuyện còn có mục đích luyện ngôn ngữ nói và kể trước đám đông một cách có
nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy hình tượng cho trẻ.
Phân môn Kể chuyện cung cấp cho học sinh những tri thức về tự nhiên và xã hội,
rèn cho các em một số kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc học tập cũng như cho cuộc
sống, hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức cao đẹp.
Kể chuyện có sức hấp dẫn, có vai trò quan trọng như vậy nhưng rất tiếc,thực tế hiện
nay một số không ít giáo viên vẫn còn coi nhẹ, chưa dành thời gian xứng đáng cho tiết
dạy kể chuyện. Một số giáo viên cho rằng kể chuyện phụ thuộc nhiều vào năng khiếu. Ai
có năng khiếu, người đó sẽ dạy giỏi. Ai không có năng khiếu thì có cố gắng mấy cũng

3. Số liệu thống kê:
- Thực trạng cho thấy, đầu năm học khi tôi nhận lớp, chỉ có hơn một nửa học sinh
(khoảng 60 % học sinh) hứng thú thích được kể chuyện cho thầy cô giáo và các bạn nghe
và sắm vai trong giờ kể chuyện. Số còn lại không thích tự mình kể chuyện mà chỉ thích
nghe người khác kể chuyện cho nghe.
- Trước khi thực hiện đề tài này, trong lớp có:
+ 25 /43 HS hứng thú thích kể chuyện và kể lại được toàn câu chuyện có thể hiện cảm
xúc. ( 58,1% )
+ 12 /43 HS thích nghe kể và kể được vài đoạn trong câu chuyện ( 27,9%)
+ 6/43 HS kể lại được vài chi tiết trong câu chuyện ( 14%)
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Kể chuyện là gì?
- Kể chuyện là cách dùng ngôn ngữ biểu cảm sinh động của người kể làm sống
lại câu chuyện. Cần phân biệt hai hình thức đọc truyện và kể chuyện.
- Đọc truyện: Yêu cầu người đọc trung thành với văn bản, dùng giọng đọc của
mình truyền đạt chính xác đến người nghe từ nội dung đến ngôn từ của một tác phẩm
truyện.
- Kể chuyện là cách người kể dùng lời nói, ngôn từ của mình để truyền tới người
nghe nội dung của một tác phẩm truyện. Kể chuyện không yêu cầu người kể phải trung
thành tuyệt đối với văn bản mà trong quá trình kể, người kể có thể thêm bớt sàng lọc
cũng như thể hiện thái độ, tình cảm của bản thân.
Trong phạm vi đề tài này, Kể chuyện còn là tên gọi của một phân môn Tiếng Việt
ở tiểu học.
1.2. Vai trò của kể chuyện trong cuộc sống.
Nhờ có tiếng nói và lao động mà con người đã thoát hẳn đời sống loài vật, vươn
lên làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên. Dưới thời kỳ nguyên thuỷ, bầy
người nguyên thuỷ quây quanh đám lửa nướng thịt thú rừng, nướng quả hạt, thường kể
những câu chuyện săn bắn, hái lượm cho nhau nghe. Đó cũng là khởi đầu của sự tích luỹ
tri thức khoa học và kể chuyện ở đây mang chức năng thông tin. Khi ngôn ngữ ngày càng

ấy mới đẹp làm sao, mỗi truyện là một bài ca”. Lớn lên các em đi học, biết chữ, có thể
đọc được truyện nhưng vẫn không giảm hứng thú nghe kể chuyện. Phân môn Kể chuyện
trong chương trình Tiểu học trước tiên đáp ứng yêu cầu trên của trẻ.
Kể chuyện có sức mạnh riêng trong việc giáo dục trẻ. Sức mạnh này bắt nguồn từ
sức mạnh của công cụ mà phân môn kể chuyện sử dụng, đó là tác phẩm văn học nghệ
thuật giáo viên dùng để kể trong lớp. Các tác phẩm văn học có tác dụng lớn đến tâm hồn
và cảm xúc của trẻ em, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh.
b. Giờ kể chuyện góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em.
Giờ kể chuyện giúp cho trẻ sớm tiếp xúc với tác phẩm văn học. Suốt 5 năm ở bậc
Tiểu học, học sinh được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện với đủ thể loại, gồm
tác phẩm có giá trị của Việt Nam và thế giới, từ truyện cổ tích đến hiện đại. Do đó vốn
văn học của học sinh được tích luỹ dần. Đây là những hành trang quý sẽ theo nhiều em
trong suốt cuộc đời mình.
Giờ Kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khêu gợi trí tưởng tượng cho các em.
Qua từng câu chuyện, thế giới muôn màu sắc mở rộng trước các em. Các em gặp trong đó
từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từ cách phục trang đến kiến trúc nhà ở,
và đặc biệt là cách cư xử của con người trong muôn vàn trường hợp khác nhau Nói
cách khác, các truyện kể đã làm tăng thêm cho học sinh vốn hiểu biết về thế giới và xã
hội loài người xưa và nay.
Các truyện kể còn chắp cánh cho trí tưởng tượng của học sinh bay bổng. Cùng với
lí tưởng, óc tưởng tượng là bệ phóng cho những hoài bão, ước mơ cao đẹp khi các em
bước vào cuộc sống, bệ phóng cho sự sáng tạo. Lê Nin cho rằng, “Thật là bất công nếu
nghĩ rằng óc tưởng tượng chỉ cần thiết cho người làm thơ, ngay cả trong toán học cũng
cần có tưởng tượng, ngay cả việc phát minh ra phép tính vi phân và tích phân cũng sẽ
không thể nào có được nếu thiếu óc tưởng tượng. Óc tưởng tượng là phẩm chất quí giá vô
cùng”.
2.3. Giờ kể chuyện góp phần rèn luyện và phát triển kỹ năng nói và kể trước đám đông
một cách có nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy của trẻ.
Sống với các nhân vật trong truyện, tư duy hình tượng của trẻ được khêu gợi và có
điều kiện phát triển cùng với cảm xúc thẩm mỹ. Qua từng câu chuyện, các em biết giá trị

Như vậy học sinh Tiểu học nhìn chung đã nhận thức đúng tác dụng của phân môn
Kể chuyện đối với bản thân. Đa số học sinh đều nắm được những điều tốt đẹp mà các câu
chuyện muốn gửi gắm tới các em.
Khi được hỏi: “Em thích nghe thầy cô giáo kể chuyện hay nghe thầy cô giáo đọc
truyện” 100% học sinh đều trả lời: “ Em thích nghe thầy cô giáo kể chuyện”. Điều này
chứng tỏ học sinh Tiểu học rất hứng thú nghe thầy cô giáo kể chuyện hơn là nghe thầy cô
giáo cầm sách đọc laị truyện.
Một điều đáng chú ý là khi điều tra về nhu cầu, hứng thú kể chuyện và hoạt động
sắm vai trong giờ Kể chuyện thì phần đa số học sinh được điều tra thích được kể chuyện
cho thầy cô giáo và các bạn nghe và cũng thích sắm vai kể chuyện. Số còn lại không
thích tự mình kể chuyện mà chỉ thích nghe người khác kể chuyện cho nghe mà thôi.
3.2. Giáo viên.
Khi đã tiến hành thăm dò ý kiến một số giáo viên ở trường Tiểu học Trưng Vương,
tôi đã thu được những kết quả sau:
- Đa số giáo viên được điều tra trả lời phân môn Kể chuyện có vai trò giáo dục rất
quan trọng đối với học sinh tiểu học.
- Không có giáo viên nào cho rằng phân môn Kể chuyện không có tác dụng đối với
học sinh tiểu học.
- 100% giáo viên được phỏng vấn đều cho rằng hoạt động sắm vai gây được hứng
thú cho học sinh trong giờ học kể chuyên, giúp các em nhanh chóng nắm được nội dung
truyện (nhưng khó áp dụng đại trà trên diện rộng ở tất cả các khối lớp)
Tuy nhiên đây không phải là phân môn được đưa vào để thi như các phân môn: Tập
đọc, Luyện từ & câu, Tập làm văn, nên ít được giáo viên chú trọng đầu tư giảng dạy.
4. Thực trạng việc giảng dạy và kể chuyện ở trường Tiểu học.
4.1. Nội dung chương trình và yêu cầu cần đạt khi dạy phân môn kể chuyện lớp 5
- Nội dung chương trình: 1tiết/1tuần, cả năm gồm 35 tiết, trong đó có 31 tiết kể chuyện
và 4 tiết ôn tập.
Như vậy chương trình kể chuyện lớp 5 có 31 câu chuyện được chia ra thành 3 kiểu
bài tập:
a.Bài tập nghe- kể gồm 10 câu chuyện.

Đó là các đề bài:
+ Kể việc làm tốt góp phần xây dựng quê hương đất nước.
+ Kể một câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một việc em đã làm thể hiện tình hữu
nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước.
+ Kể chuyện về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi
khác.
+ Kể một việc làm tốt của em hoặc của những người xung quanh để bảo vệ môi
trường.
+ Kể về một buổi sum họp đầm ấm trong gia đình.
+ Kể một câu chuyện thể hiện ý thức bảo vệ các công trình công cộng, di tích lịch
sử- văn hoá, ý thức chấp hành Luật Giao thông hoặc một việc làm thể hiện lòng biết ơn
các thương binh liệt sĩ.
+ Kể một việc làm tốt của bạn em.
+ Kể một việc làm tốt góp phần bảo vệ trật tự, an toàn nơi làng xóm, phố phường.
+ Kể một chuyện nói lên truyền thống tôn sư trọng đạo của người Việt Nam hoặc
một kĩ niệm về thầy giáo, cô giáo.
+ Kể một chuyện về việc gia đình, nhà trường hoặc xã hội chăm sóc, bảo vệ thiếu
nhi hoặc em cùng các bạn làm công tác xã hội.
4.2. Quy trình dạy học phân môn kể chuyện hiện nay.
- Có hai quy trình cho 3 dạng bài tập kể chuyện trên
* Dạy bài nghe- kể
a. Kiểm tra bài cũ
b. Định hướng chú ý của HS vào bài mới: GV giới thiệu chuyện bằng lời hoặc bằng lời
kết hợp đồ dùng trực quan hoặc băng hình.
c. HS nghe kể chuyện
- GV kể lần 1, HS nghe.
- GV kể lần 2, vừa kể vừa chỉ vào tranh, HS kết hợp nhìn hình minh hoạ.
d. HS tập kể chuyện
- Kể từng đoạn nối tiếp nhau trong nhóm.
- Kể toàn bộ câu chuyện trong nhóm.

Ngoài các phương pháp đàm thoại, giảng giải,… dạy kể chuyện theo sách giáo
khoa mới còn rất coi trọng các phương pháp sau:
+ Phương pháp trực quan, phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp đóng
vai…
- Đóng vai là phương pháp ở đó GV cho HS thực hành“ làm thử” một số hoạt động
nào đó mô phỏng nội dung câu chuyện. Phương pháp này rất cần thiết cho việc dạy học ở
Tiểu học.
* Theo quy định về điều chỉnh nội dung học tập dành cho học sinh Tiểu học (do Bộ
Giáo dục và Đào tạo phát hành) thì: Một số tiết học có câu chuyện dài, giáo viên có thể
tóm tắt một lượt, sau đó cho học sinh đọc (hoặc giáo viên đọc) từng đoạn rồi giáo viên
hướng dẫn gợi ý học sinh nắm được ý chính và tập kể lại bằng lời của bản thân một cách
tự nhiên, nhẹ nhàng không nhất thiết phải dạy đủ và chi tiết toàn bộ câu chuyện.
Thiết kế dạy như vậy, người đóng vai trò chủ đạo là giáo viên. Giáo viên kể chuyện
còn học sinh nghe, ghi nhớ và tập kể lại chuyện. Cách dạy này, thực tế vẫn có tác dụng
tốt và đang được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên cách dạy này nếu áp dụng vào tất cả các
bài dạy thì sẽ gây sự nhàm chán, không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học
sinh.
III. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1. Nguyên nhân của những tồn tại trên.
Qua việc tìm hiểu giáo án, dự giờ của một số đồng nghiệp tôi thấy nhiều giáo viên
chưa chú trọng đến phương pháp dạy kể chuyện. Tuy nhiên đây không phải là môn được
đưa vào để thi như các phân môn: Tập đoc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, nên ít được
giáo viên chú trọng đầu tư giảng dạy.
Một số giáo viên cũng cho rằng Kể chuyện là phải trung thành với văn bản truyện,
không được sai lệch một câu, một từ. Bởi vậy, lời kể của giáo viên không được tự do,
giọng điệu kể không phong phú, làm giảm sự chú ý của học sinh vào câu chuyện mà giáo
viên đang kể.
Khâu chuẩn bị của giáo viên không được chu đáo. Giáo viên không đọc kỹ câu
chuyện, không suy nghĩ lựa chọn cách thể hiện các hành động của nhân vật, chưa thực sự
đồng cảm với tác giả Thậm chí một số giáo viên còn chưa thuộc truyện, khi kể mắt

lời thoại và nhập vai, chuẩn bị đạo cụ.
 Soạn kịch bản.
Ở dạng BT a có 10 câu chuyện, để đảm bảo thời lượng cũng như đảm bảo tính vừa
sức cho HS, tôi chọn phần nội dung sắm vai của các em có thể là toàn bộ truyện nếu là
truyện ngắn, một phần trọng tâm của truyện nếu là truyện dài.
Sau khi đã tìm hiểu kỹ, nắm vững cốt truyện nhớ các tình tiết, hiểu thấu đáo nội
dung và nghệ thuật của truyện, tôi tiến hành soạn kịch bản dựa trên cốt truyện và lời kể
trong truyện. Kịch bản cho sắm vai phải phân định rõ lời dẫn truyện và lời thoại. Lời
thoại cần ngắn gọn, đủ ý, tránh rườm rà không cần thiết để học sinh mau thuộc dễ nhớ.
Từ ngữ sử dụng trong lời thoại cần phù hợp với không gian, thời gian, hoàn cảnh xảy ra
câu chuyện. Trong truyện, thỉnh thoảng có xen vào lời nói có vần điệu, những câu cố
định, thì trong lời thoại phải giữ nguyên văn.
Trong kịch bản nên gợi ý cụ thể về cử chỉ, nét mặt, điệu bộ và ngữ điệu dựa theo
kịch bản, để học sinh dễ hình dung về vai mình sẽ đóng.
Nhưng cần lưu ý kịch bản cho sắm vai không chỉ là kịch bản sân khấu hay điện
ảnh, nó chỉ nhằm giúp cho các em tổ chức hoạt động, sắm vai phục vụ cho tiết học kể
chuyện làm cho tiết học trở nên sinh động, mang tính nghệ thuật.
 Chuẩn bị đạo cụ.
Đạo cụ là những đồ vật nhằm hỗ trợ cho vai diễn thêm sinh động, góp phần minh
hoạ, dẫn dắt câu chuyện, chắp cánh cho trí tưởng tượng của các em bay bổng. Đạo cụ
dùng cho hoạt động sắm vai cần đạt được một số yêu cầu sau:
- Đạo cụ phải phù hợp với từng vai diễn, có tác dụng hỗ trợ cho vai diễn sinh động,
góp phần lột tả tính cách nhân vật, giúp các em dễ theo dõi truyện.
- Đạo cụ cần dễ kiếm, dễ làm, dễ sử dụng không nên quá cầu kỳ, đắt tiền. Vì nhiều
khi đạo cụ quá cầu kỳ lại làm cho các em tham gia đóng vai bị lúng túng khi sử dụng và
làm mất sự chú ý vào nội dung diễn biến của câu chuyện đối với các em khác.
- Đạo cụ có thể do giáo viên làm hoặc do học sinh tự chuẩn bị. Việc cho học sinh tự
chuẩn bị sẽ góp phần phát huy sự sáng tạo, kích thích trí tưởng tượng của các em học
sinh, giúp các em hiểu sâu hơn về vai diễn của mình.
 Phân vai.

Ngoài các yếu tố cần chuẩn bị như đã nêu ở trên, để giờ học kể chuyện có sắm vai
được thành công, tôi có thể chuẩn bị thêm:
- Về địa điểm: Có thể tổ chức giờ học ở trong lớp hay ngoài trời. Nếu tổ chức ở trong
lớp, giáo viên có thể sắp xếp lại bàn ghế để thầy trò ngồi quây quần bên nhau, tạo được
không khí thân mật, ấm cúng trong tiết học đồng thời có đủ khoảng không gian cần thiết
cho các em sắm vai.
- Chuẩn bị, hướng dẫn các em nếp học, cách học giờ Kể chuyện để giờ học diễn ra sôi
nổi, hào hứng mang tính nghệ thuật nhưng cũng có kỷ luật.
Như trên đã nói: Dạy Kể chuyện góp phần thỏa mãn nhu cầu Kể chuyện của trẻ em,
đồng thời là một phương tiện giáo dục hữu ích.
Dạy Kể chuyện góp phần giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng, mở rộng tầm hiểu
biết, rèn luyện khả năng tư duy, phát triển trí tưởng tượng
Giờ Kể chuyện đem đến cho các em học sinh những xúc cảm thẩm mỹ lành mạnh,
giáo dục cho các em những tình cảm, phẩm chất đạo đức cao đẹp, giúp các em có một
nhân cách phát triển toàn diện.
Giờ Kể chuyện có hoạt động sắm vai đem đến những tác dụng sau:
- Hoạt động sắm vai gây hứng thú cho cho học sinh, giúp học sinh nắm nhanh cốt
truyện, hiểu sâu nội dung cũng như tính cách của từng nhân vật trong truyện.
- Việc thể hiện tính cách nhân vật giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, khả
năng tư duy và phát huy trí tưởng tưởng phong phú.
- Câu chuyện nêu vấn đề gì? Xảy ra bao giờ và ở đâu.
- Truyện có mấy nhân vật, đại diện cho tầng lớp người nào trong cuộc sống? Cuộc đời,
cuộc sống của từng nhân vật ra sao?
- Thông qua câu chuyện có thể rút ra ý nghĩa gì cho cuộc sống hiện tại?
3. Kịch bản sắm vai
Truyện: Người đi săn và con nai
* Nhân vật:
+ Người đi săn
+ Suối
+ Cây trám

Người đi săn mãi ngắm con nai, mồ hôi đầm trên trán, cái dây da tụt xuống, ánh
đèn ló lệch vào bóng tối, mất bóng con nai. Con nai chạy biến. Người đi săn luống cuống
giơ tay đẩy chiếc dây da lên. Nhưng trong làn sáng đèn không thấy con nai đâu.
* Người đi săn ngơ ngẩn xuống đồi.
- Vầng trăng đã nhìn thấy tất cả, mỉm cười:
- Ngủ ngon được đấy! chúc ngủ ngon!
* Lát sau, người đi săn đã ngồi trước bếp lửa. Khẩu súng, bao đạn lại treo lên hốc cột gác
bếp. Đêm ấy, trong giấc dìu dịu, anh chiêm bao thấy con nai. Chưa bao giờ anh thấy một
con nai đáng yêu như thế.
4. Giáo án minh hoạ
Kể chuyện - lớp 5
Bài: Người đi săn và con nai
Đề: Dựa vào lời kể của cô giáo (thầy giáo), kể lại từng đoạn câu chuyện
“ Người đi săn và con nai” theo tranh minh họa.
A. Mục đích, yêu cầu:
1. Rèn kĩ năng nói:
- Dựa vào lời kể của thầy (cô), kể lại được từng đoạn câu chuyện theo tranh minh họa
và lời gợi ý dưới tranh, phỏng đoán được kết thúc của câu chuyện; cuối cùng kể lại được
cả câu chuyện. Cách diễn đạt qua từng vai của nhân vật trong truyện.
- Hiểu ý nghĩa câu chuyện: Giáo dục ý thức bảo vệ thiên nhiên, không giết hại thú
rừng.
- Tập cho học sinh có giọng kể thích hợp với từng nhân vật trong từng đoạn đối thoại.
2. Rèn kĩ năng nghe:
- Nghe thầy ( cô) kể chuyện, ghi nhớ chuyện.
- Nghe bạn kể chuyện, nhận xét đúng lời kể của bạn, kể tiếp được lời bạn.
3. Rèn kĩ năng đóng vai:
- HS có thể dựng lại cả câu chuyện sau khi đã nghe giáo viên và các bạn kể.( qua từng
vai của nhân vật)
B. Chuẩn bị.
- Học sinh: + Đọc kĩ truyện, tìm hiểu nội dung truyện thông qua hệ thống câu hỏi trong

con nai.
- Tranh 3: Người đi săn đến bên một cây
trám, ngồi xuống gốc cây. Biết anh đi săn
nai, Trám nói là anh ác quá.
- Tranh 4: Con nai xuất hiện dưới ánh
trăng. Hai con mắt nai đỏ như hổ phách.
Con nai lặng yên, trắng muốt trong ánh
trăng. Người đi săn mãi ngắm vẻ đẹp của
con nai đã hạ súng không bắn nai và ngơ
ngẩn xuống đồi.
Hoạt động 2: Hướng dẫn thực hành kể.
a. GV hướng dẫn học sinh kể lại từng đoạn
của câu chuyện.( theo từng tranh)
- Đọc lời chú thích dưới tranh.
- HS lắng nghe.
- HS lắng nghe ghi nhớ nội
dung truyện.
- 1 HS đọc lời chú thích dưới
tranh.
- Truyện có những nhân vật nào?
- Kể được nội dung chính của mỗi tranh.
- Lưu ý học sinh phân biệt giọng các nhân
vật.
- Cho học sinh làm việc.
- Cho học sinh kể lại nội dung từng tranh.
( tranh 1 –> tranh 4)
+ Giáo viên và học sinh nhận xét, góp ý về
cách kể.
b. GV cho học sinh đoán xem câu chuyện
kết thúc thế nào và kể tiếp câu chuyện theo

nai rất đẹp, rất đáng yêu dưới
ánh trăng, nên không nỡ bắn
nó.
III.Đóng
vai
- Câu chuyện muốn nói với chúng ta điều
gì?
 Hoạt động 3: Phân vai dựng lại câu
chuyện
- GV chia lớp thành 4 nhóm, phát kịch bản
cho từng nhóm, yêu cầu các em đọc, phân
công các bạn lên thể hiện, thi xem nhóm
nào đóng hay.
- Trong khi các nhóm thảo luận, xây dựng
kịch bản, GV đến từng nhóm quan sát,
lắng nghe, kịp thời phát hiện những khó
khăn của HS để có sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp
thời.
- GV theo dõi ghi chép nhận xét những
mặt đã đạt được và chưa đạt.
- Gọi HS nhận xét cách đóng.
- GV cho HS thi dựng lại câu chuyện trước
lớp.
- GV cùng học sinh nhận xét.
-Nêu câu hỏi để học sinh rút ra bài học
+Câu chuyện muốn nói với
chúng ta: Hãy yêu quý và bảo
vệ thiên nhiên, bảo vệ các
loài vật quý. Đừng phá hủy
vẻ đẹp của thiên nhiên!

+Ý kiến cho là các bạn sắm vai hay 30em
(69,8%)
35em
(81,4%)
+Ý kiến cho là còn vài chỗ nhóm sắm vai cần khắc phục
( giọng nói diễn cảm hơn, vị trí đứng sắm vai hợp lí hơn,
vài động tác cần phải phù hợp hơn)
13 em
(30,2%)
8
( 18,6%)
Số nhóm đóng vai hay 1 2
- Số HS thích giờ kể chuyện lúc nào cũng có sắm vai 43 em
( 100%)
43 em
( 100%)
IV. KẾT QUẢ
Sau gần một năm học áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy
tôi đã tự tin hơn rất nhiều khi thực hiện giờ dạy kể chuyện qua hoạt động sắm vai cho học
sinh trên lớp.Với sự tạo hứng thú cho học sinh trong tiết kể chuyện qua sắm vai ít nhiều
đã thu hút học sinh học tập hơn, làm cho các em say mê hơn khi học phân môn kể
chuyện. Các em rất sôi nổi và mạnh dạn khi được kể chuyện theo lối phân vai hay đóng
vai. Từ sự tự tin, năng lực chủ động, phát huy tính tích cực của mình trong giờ học kể
chuyện, các em đã coi mỗi tiết kể chuyện là một ngày hội, một cuộc thi thố tài năng nho
nhỏ. Một số em tiếp thu chậm cũng đã mạnh dạn nêu được vài tình tiết trong câu chuyện.
Kết quả sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm được ghi bằng các số liệu
Mức độ đạt được của học sinh Trước khi thực
hiện
( Số lượng HS - tị
lệ)

mình những kiến thức về nội dung chương trình, về đổi mới phương pháp dạy học là điều
hết sức cần thiết đối với mỗi giáo viên Tiểu học hiện nay. Nhu cầu phát triển của xã hội
nói chung và của ngành Giáo dục nói riêng đòi hỏi chúng ta không ngừng học tập vươn
lên, nâng cao tri thức để hoàn thành sứ mệnh “ trồng người” cho đất nước trong mai sau
Trên đây là một số suy nghĩ, tìm tòi của tôi trong quá trình dạy phân môn Kể
chuyện. Do trình độ và kinh nghiệm còn hạn hẹp nên vấn đề tôi trình bày không tránh
khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình từ các thầy cô, các
bạn đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm và vận dụng vào giảng dạy ngày càng tốt
hơn!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
* Đề xuất và kiến nghị:
- Để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên đạt được hiệu quả trong các tiết dạy kể
chuyện tôi xin đề xuất với các cấp quản lí một vài ý kiến sau:
+ Cần trang bị cho nhà trường đầy đủ các bộ tranh ảnh kể chuyện, có sách tham
khảo, các loại băng hình kể chuyện cho giáo viên.
+ Thường xuyên mở lớp BD, chuyên đề để GV trao đổi kinh nghiệm học hỏi lẫn
nhau, nhằm nâng cao tay nghề & chất lượng GD đạt hiệu quả cao.
VII.TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tiếng Việt và phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học ( Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự
án phát triển Giáo Viên Tiểu học)- Tập thể nhiều tác giả-Nhà xuất bản Giáo dục
- Tài liệu bồi dưỡng Giáo Viên dạy các môn học lớp 5 ( Bộ Giáo dục & Đào tạo - Vụ
Giáo dục Tiểu học) Tập thể nhiều tác giả - Nhà xuất bản Giáo dục-
- Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 2 ( Nhà xuất bản Đại học sư phạm - Hà
Nội)- PGS.TS. Lê phương Nga- PGS.TS. Nguyễn Trí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status