PHẦN 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học các bài học Pháp
luật chương trình Giáo dục công dân 12.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Khoa học xã hội
3. Tác giả:
Họ và tên: Hoàng Thị Kim Anh Nữ
Ngày tháng năm sinh: 16/05/1980
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Giáo dục chính trị
Chức vụ, đơn vị công tác: Chủ tịch công đoàn, trường THPT Kinh Môn II
Điện thoại: 01665856214
4. Đồng tác giả ( Không có)
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: (Không có)
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THPT Kinh Môn II; Xã Hiệp Sơn,
Huyện Kinh Môn , Tỉnh Hải Dương; Điện Thoại 03203826755
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Học sinh có lực học từ trung bình trở lên.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
Từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN) XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
1
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Tạo hứng thú cho học sinh trong các bài học về pháp luật của chương trình
GDCD lớp 12 là biện pháp mà bất kỳ giáo viên nào dạy môn GDCD cũng
đang trăn trở. Với phạm vi đề tài nhỏ này, tôi đã:
Cung cấp được cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn để tạo hứng thú cho học sinh
trong các bài học về giáo dục pháp luật của chương trình GDCD lớp 12.
Đưa ra được ba biện pháp giáo dục cơ bản để tạo hứng thú cho học sinh
trong chương trình GDCD lớp 12: Sử dụng biện pháp nêu tình huống và
phân tích tình huống nhằm thu hút các em trong việc tìm tòi, nghiên cứu tài
đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá
nhân trong quá trình hoạt động.
- Tùy vào từng góc độ và khía cạnh khác nhau, hứng thú được phân chia
thành nhiều loại khác nhau.
- Hứng thú học tập môn GDCD là thái độ lựa chọn đặc biệt của người học
đối với kết quả, quá trình của sự lĩnh hội và vận dụng những tri thức cũng như kỹ
năng của môn học GDCD, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của môn
học đối với bản thân.
3
Hứng thú có vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu học tập của học
sinh nói riêng và các nhà khoa học nói chung. Nó là động lực thúc đẩy chủ thể tạo
ra những sản phẩm góp phần vào sự phát triển của xã hội. Nếu không có hứng thú
thì hoạt động khó đạt được kết quả cao. Hiện nay, có nhiều người cho rằng môn
GDCD chỉ là môn học phụ. Ủng hộ cho quan niệm này, nhiều người còn cho rằng
môn GDCD đơn thuần chỉ là môn học chính trị thuần túy hay chỉ là môn bổ trợ
thêm kiến thức. Bởi vậy, việc tạo ra hứng thú trong giảng dạy và học tập ở giáo
viên và học sinh đã không được chú trọng nhiều trong những năm qua.Thực trạng
này đã gây ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới kết quả học tập của học
sinh. Do đó, cần tập trung nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hứng thú
học tập của môn GDCD.
Tuy nhiên, hứng thú học tập của học sinh đối với môn GDCD chỉ dừng lại ở
mức độ hứng thú thụ động, hời hợt bên ngoài và không bền vững, điều đó cũng
một phần là do đặc thù của môn học vốn là môn có kiến thức khô khan và trừu
tượng.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Ở trường THPT môn GDCD là môn học thay thế cho môn Chính trị - Đạo
đức trước đây. Đặc điểm chương trình là kết cấu đồng tâm với các môn của các
cấp học cao hơn; trong đó, chương trình lớp 12 lại là chương trình trọng tâm về
kiến thức pháp luật, giáo dục cho các em những kiến thức pháp luật cơ bản nhất
khi các em đến tuổi trưởng thành. Vì vậy, làm thế nào để người học hứng thú học
nhất, có tính thời sự và liên quan đến nội dung bài học. Do đó việc đầu tư thời
gian không thường xuyên hoặc không sắp xếp được thời gian là một khó khăn của
việc sử dụng phương pháp này. Mặt khác, do môn Giáo dục công dân không phải
là môn thi tốt nghiệp hay đại học nên tâm lí học sinh ít quan tâm sâu sắc như
những môn học khác. Chính vì học sinh có thái độ thờ ơ với môn học nên giáo
5
viên gặp trở ngại rất lớn trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Để gây
hứng thú và kích thích cho các em học tập tích cực bằng phương pháp này thì đòi
hỏi giáo viên phải nỗ lực hết mình trong giờ dạy, đây cũng là khó khăn chung cho
bộ môn. Những câu chuyện pháp luật, những nội dung pháp luật, điều luật cũng
cần phải được cập nhật thường xuyên chính là phương tiện dạy học. Để phương
tiện dạy học này góp phần đắc lực cho việc đổi mới phương pháp thì đòi hỏi phải
có nguồn cung cấp. Ở đây nguồn cung cấp tiện lợi nhất là tài liệu tham khảo trong
nhà trường. Nhưng thực tế nguồn tài liệu này ở trường còn thiếu thốn và đây cũng
là một khó khăn cho việc giảng dạy môn Giáo dục công dân. Đã vậy, thời lượng
dành cho môn học quá khiêm tốn (1tiết/tuần). Trong khi những kiến thức khoa
học, những thuật ngữ, những khái niệm, quan điểm rất cần nhiều thời gian để đưa
vào bộ óc gần như "trống rỗng" của các em.
Tìm ra phương pháp dạy dễ hiểu, gây hứng thú cho học sinh là nhiệm vụ đặt
ra đối với những giáo viên dạy môn Giáo dục công dân .
1.3. Lí do chọn sáng kiến
Giáo dục Pháp luật cho công dân nói chung và cho học sinh Trung học phổ
thông nói riêng là một vấn đề quan trọng của mọi quốc gia vì được coi là một
phương thức để xây dựng, phát triển nền văn hoá pháp lí, đảm bảo sự ổn định và
bền vững của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, ngày nay trên thế giới, chúng ta dễ dàng
nhận thấy rằng, một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát
triển . Nghiên cứu nền giáo dục của một số nước như: Anh, Mĩ, Hung-ga-ri, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Sin-ga-po tôi thấy rằng nền giáo dục được họ đặc
biệt quan tâm. Có thể nói rằng sự quan tâm đó là khá toàn diện: Giáo viên, hệ
thống nhà trường, phương tiện giảng dạy Nội dung chương trình thường xuyên
sinh trong giờ học các bài học Pháp luật chương trình GDCD 12" nhằm đề xuất
một số biện pháp để giáo dục Pháp luật cho các em một cách hiệu quả nhất.
7
2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH ĐỂ GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CÓ HIỆU QUẢ .
2.1. Sử dụng các tình huống pháp luật.
Đối với phương pháp sử dụng tình huống, các tình huống được sử dụng một
cách sáng tạo hơn, kết hợp với phương pháp làm việc theo nhóm tôi phát huy tính
tự giác, chủ động, sáng tạo từ phía học trò bằng cách yêu cầu học sinh chuẩn bị bài
trước khi đến lớp.Chẳng hạn, trước khi dạy bài 6 - Công dân với các quyền tự do
cơ bản - tôi chia lớp thành 5 nhóm nhỏ với các yêu cầu ứng với mỗi đơn vị kiến
thức của bài học.
Nhóm 1: Tìm ví dụ về hành vi vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của
công dân. Giải thích vì sao em cho là vi phạm ?
Nhóm 2: Tìm ví dụ về hành vi vi phạm quyền được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khỏe,danh dự và nhân phẩm của công dân. Giải thích vì sao em cho là
vi phạm?
Nhóm 3: Tìm ví dụ về hành vi vi phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của
công dân. Giải thích vì sao em cho là vi phạm ?
Nhóm 4: Tìm ví dụ về hành vi vi phạm quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư
tín, điện thoại, điện tín của công dân. Giải thích vì sao em cho là vi phạm ?
Nhóm 5: Tìm ví dụ về hành vi vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân. Giải
thích vì sao em cho là vi phạm ?
Như vậy với yêu cầu trên học sinh sẽ phải dành thời gian chuẩn bị trước ở
nhà. Tư liệu tham khảo có thể là sách báo, internet, thậm chí cũng có thể lấy ví dụ
là những tình huống mà các em đã bắt gặp trong cuộc sống. Học sinh sẽ chủ động
làm việc theo nhóm. Kết quả chuẩn bị bài của mỗi nhóm sẽ được giáo viên phân
tích, đánh giá và cộng vào điểm miệng nhằm động viên khích lệ tinh thần học tập
của các em. Khi giảng tới mỗi phần kiến thức đó, học sinh đại diện cho nhóm
mình trình bày trước lớp kết quả chuẩn bị bài của nhóm mình. Sau đó giáo viên sẽ
giết người, đe dọa giết người, làm chết người.
- Không ai,dù ở bất cứ cương vị nào có quyền xâm phạm tới danh dự và
nhân phẩm của người khác.Trong xã hội ta, danh dự và nhân phẩm của cá nhân
được tôn trọng và bảo vệ.
Mọi hành vi xâm phạm tới sức khỏe, tính mạng, danh dự, và nhân phẩm của
công dân đều vừa trái với đạo đức xã hội,vừa vi phạm pháp luật, phải bị xử lí theo
pháp luật.
Nhóm 4 đưa ra tình huống mang tính thời sự hơn, bằng cách sưu tầm trên
báo lao động số 199 ngày 5 tháng 9 năm 2007 về: sự việc Ông Giám đốc công ty
cổ phần S. Group đã vi phạm bí mật thư tín và xâm phạm đời tư của nhân viên.
Sau khi chị H xin nghỉ phép thì ông đã truy cập trái phép vào email của chị và tự
ý gửi thư cho các địa chỉ mà chị đã lưu trong email.
Như vậy ở tình huống trên, Giám đốc Công ty S.Group là người lãnh đạo,
quản lí công ty mà chị H đang làm. Ông không có thẩm quyền được kiểm soát thư
tín của nhân viên. Ngược lại, ông đã tự ý truy cập vào email của chị H mà không
được sự đồng ý của chị H. Điều này cũng có nghĩa là giám đốc công ty này đã
xâm phạm đến bí mật riêng tư của nhân viên. Hành vi này của giám đốc công ty
đã vi phạm quyền được bảo đảm an toàn, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của
công dân. Hành vi đó trái với quy định của pháp luật.Thư tín, điện thoại, điện tín
của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.Việc kiểm soát thư tín, điện thoại,
điện tín của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và
phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là điều kiện cần
thiết để bảo đảm đời sống riêng tư của cá nhân trong xã hội.
Vậy, qua việc tự tạo ra các tình huống ta thấy rõ sự hứng thú của học sinh
trong việc vận dụng kiến thức vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn. Đây là một
phương pháp rất hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Qua đó, học sinh không
10
những tìm ra được mối liên hệ giữa lí luận và thực tiễn mà còn tăng thêm tính chủ
động, sự tìm tòi, khám phá nhằm lĩnh hội tri thức một cách tốt nhất.
Cũng có những bài học tôi lại chuẩn bị tình huống cho sẵn để các em phân
Hành động đó dẫn đến hậu quả gì? Hành động cố ý hay vô ý?
3. Vợ chồng Đức - Phương chịu trách nhiệm pháp luật như thế nào?
Học sinh: Trả lời lần lượt từng nội dung câu hỏi.
Giáo viên: Tổng hợp, nhận xét và bổ sung những nội dung còn thiếu.
Học sinh: - Rút ra những dấu hiệu của vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
(khái niệm và ý nghĩa).
Hay trong bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của
đời sống xã hội.
Giáo viên đưa câu chuyện pháp luật "Mẹ ăn thịt con" đăng trên báo Tuổi trẻ
(Thứ 5 ngày 25/9/2008) vào giảng dạy ở mục 1b: Nội dung bình đẳng trong hôn
nhân và gia đình (Bình đẳng giữa cha mẹ và con cái)
Học sinh: Đọc câu chuyện pháp luật và thảo luận theo nhóm với nội dung:
1. Phân tích những hành vi ngược đãi, hành hạ dã man bé Nguyễn Thị Hảo
của bà Nguyễn Thị Mỳ?
2. Em có nhận xét gì về hành vi của bà Mỳ và ý kiến của em như thế nào?
Học sinh thảo luận theo nhóm và trình bày ý kiến.
Giáo viên: Tổng hợp ý kiến và bổ sung
Kết luận: Hành vi của bà Mỳ là vi phạm pháp luật (vi phạm quyền bình đẳng giữa
cha mẹ và con cái).
Học sinh: Bày tỏ được thái độ lên án, tố cáo hành vi dã man, ngược đãi con cái
của bày Mỳ nói riêng và những gia đình khác mà các em biết trong cuộc sống.
Việc đưa các tình huống vào dạy học là rất cần thiết và phù hợp mang lại
hiệu quả cao. Học sinh học theo cách lồng ghép các tình huống pháp luật vào
12
từng mục, từng bài sẽ cảm thấy hứng thú và tăng tính liên hệ thực tiễn. Hầu
hết học sinh ở các lớp đã cảm thấy hứng thú và thích học bộ môn vì nó giảm đi
tính khô khan. Những tình huống pháp luật có thật đã tạo cơ hội cho các em
nắm bắt thực tế vào nội dung bài học dễ dàng hơn rất nhiều. Đa số học sinh
chịu khó tìm tòi tình huống pháp luật làm tư liệu, phân loại theo nội dung bài
học và nắm kiến thức vững vàng hơn. Các em có cơ hội trao đổi với nhau về
hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật, khuyết tật
có khó khăn về kinh tế, người có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn vượt khó
trong học tập.
- Chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội cấp học bổng và
trợ cấp cho người học.
- Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân
tộc bán trú, trường dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các
dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị
đại học được ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách.
- Chính sách cử tuyển vào đại học, cao đẳng, trung cấp đối với học sinh các
dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền để
người học thuộc gia đình có thu nhập thấp có điều kiện học tập.
- Chính sách ưu tiên trong tuyển sinh đại học, cao đẳng đối với học sinh ở
miền núi, vùng cao, vùng sâu, hải đảo, trong đó có các xã thuộc vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội, con thương binh, con bệnh binh.
14
- Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành
riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn
ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc
gia.
Các chính sách hỗ trợ đã phát huy hiệu quả trên thực tế, giảm bớt khó khăn
cho nhiều gia đình học sinh, tạo điều kiện để các em được hưởng sự bình đẳng về
cơ hội học tập, động viên khích lệ học sinh tiếp tục cố gắng học tập.
? Hiện nay, Nhà nước ta có những chính sách gì để khuyến khích, bồi
dưỡng những học sinh tài năng, có thành tích cao trong học tập?
Trả lời:
"Hiền tài là nguyên khí quốc gia.” Nhà nước ta luôn luôn có chính sách ưu
đãi, khuyến khích bồi dưỡng nhân tài. Điều 59, Hiến pháp 1992 quy định rằng:
bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp
phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện
để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ.
Nhà nước ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào
miền núi và dân tộc thiểu số.
Nghiêm cấm tổ chức và tư nhân chữa bệnh, sản xuất, buôn bán thuốc chữa
bệnh trái phép gây tổn hại cho sức khoẻ của nhân dân.”
Nhằm cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành
nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về quyền được hưởng các chế độ
chăm sóc y tế, quyền được khám bệnh, chữa bệnh của công dân đồng thời quy
định trách nhiệm của các cơ sở y tế trong việc khám, chữa bệnh cho công dân.
Ngoài ra, Nhà nước còn thực hiện các chính sách sau:
16
- Ưu tiên bố trí ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ
bản của nhân dân. Quan tâm dành ngân sách cho việc chăm sóc sức khỏe đối với
người có công với cách mạng, trẻ em, người nghèo, nông dân, đồng bào dân tộc
thiểu số, nhân dân ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Tăng cường phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là nguồn nhân lực y tế
ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn.
- Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; khuyến khích
tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
- Khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong khám
bệnh, chữa bệnh.
- Nhà nước có chính sách ưu tiên về chăm sóc sức khỏe đối với một số đối
tượng đặc thù như: miễn phí khám, chữa bệnh đối với trẻ em dưới 6 tuổi tại các cơ
sở y tế công lập, các ưu đãi chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi, người
khuyết tật; người có công với cách mạng…
thức bài học, vận dụng vào các tình huống trong thực tiễn sau đó đưa ra câu hỏi
đối với giáo viên hoặc đối với các bạn trong lớp.
Qua thực tiễn giảng dạy, tôi đã tập hợp được một số câu hỏi mà học sinh đã
đưa ra.
Ví dụ: Trong quá trình dạy bài 8- Pháp luật với sự phát triển của công dân,
học sinh đã hỏi:
? A là một thanh niên nông thôn 18 tuổi. Sau khi tốt nghiệp THPT, do
không có điều kiện thi đại học, A quyết định ở lại và làm giàu trên chính mảnh đất
quê hương mình. Được biết Ủy ban nhân dân xã có chính sách cho vay vốn để
làm giàu, A đã rất phấn khởi. Xin hỏi các chính sách giải quyết việc làm của Nhà
nước có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời:
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng cơ bản của
mỗi quốc gia, có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với
đời sống xã hội của quốc gia đó. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ có ý nghĩa to lớn đối
với mỗi công dân và toàn xã hội. Tăng trưởng kinh tế chỉ ổn định khi xã hội, cuộc
sống và việc làm của mỗi người dân nói chung ổn định. Giải quyết việc làm tốt sẽ
góp phần ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững. Vì vậy, xác định đúng
đắn chủ trương, đường lối với các chính sách, biện pháp giải quyết việc làm có
hiệu quả là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động. Điều đó thể hiện ở sự thay đổi về nhận thức, quan niệm và tạo ra
những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, phát triển thị trường sức lao
động, mở rộng quyền làm việc, quyền tự do lao động trong xã hội. Người lao động
được đặt vào vị trí trung tâm, được chủ động, tự do tìm kiếm, tạo việc làm cho
19
mình và cho người khác trong tất cả các thành phần kinh tế. Đi đôi với chính sách
giải quyết việc làm trong nước, Đảng và Nhà nước ta còn chủ trương xuất khẩu
lao động và coi đây là một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại phù hợp với
xu thế toàn cầu hóa và hội nhập về kinh tế nhằm giải quyết yêu cầu trước mắt và
- Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;
- Bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa – tư tưởng;
- Duy trì trật tự kỉ cương, an toàn xã hội;
- Giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất
bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
- Bảo đảm an ninh chính trị nội bộ.
? Mặc dù cùng 19 tuổi và có tên trong danh sách khám tuyển nghĩa vụ quân
sự của địa phương, trong khi Quân hăng hái tham gia khám tuyển vì nghĩ rằng đi
nghĩa vụ quân sự là thể hiện yêu nước, thì Thịnh lại cho rằng việc khám tuyển
nghĩa vụ quân sự là tự nguyện, không bắt buộc nên không chịu đi khám. Hơn thế
nữa, mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần và đã bị xử lí hành chính, Thịnh vẫn lẫn
lữa không đi và bỏ trốn đi nơi khác. Xin hỏi, việc đi nghĩa vụ quân sự có phải bắt
buộc hay không? Việc làm của Thịnh có vi phạm pháp luật hay không?
Trả lời:
Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, bảo
đảm quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là yếu tố không thể thiếu trong phát
triển bền vững đất nước.
Điều 77 - Hiến pháp năm 1992 quy định: ”Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ
thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Mọi công dân phải làm nghĩa vụ
quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”.
21
Để mọi công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh
quốc gia, Nhà nước ban hành chế độ nghĩa vụ quân sự, thực hiện giáo dục quốc
phòng trong các cơ quan, tổ chức và đối với mọi công dân; tuyên truyền, giáo dục
bảo vệ an ninh quốc gia.
Khoản 2 Điều 6 Luật quốc phòng quy định “Công dân phải trung thành với
Tổ quốc, làm nghĩa vụ quân sự, được giáo dục về quốc phòng và huấn luyện quân
sự…, chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp của Nhà nước và người có thẩm
quyền khi đất nước có tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc
phòng…”.
đây:
- Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con;
- Khám bệnh để sàng lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh;
- Vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện lên tuyến trên đối với đối tượng
theo quy định của Luật trong trường hợp cấp cứu hoặc khi đang điều trị nội trú
phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật.
Điều 22 - Luật Bảo hiểm y tế quy định về mức hưởng bảo hiểm y tế. Cụ thể,
người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định thì được
quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí trong phạm vi được hưởng như sau:
1. Đối với dịch vụ y tế thông thường Quỹ bảo hiểm y tế chi trả:
- 100% chi phí khám chữa bệnh đối với người có công với cách mạng và trẻ
em dưới 6 tuổi;
- 95% chi phí khám chữa bệnh đối với các đối tượng: người hưởng lương
hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ
xã hội hàng tháng; người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang
sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Phần còn lại do người
bệnh tự thanh toán.
23
- 80% chi phí đối với các đối tượng khác. Phần còn lại do người bệnh tự
thanh toàn với cơ sở khám chữa bệnh.
Các đối tượng quy định nêu trên, được chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh trong
trường hợp:
- Tổng chi phí của một lần khám chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương tối
thiểu (hiện nay là 97.500 đồng).
- Đăng ký và khám chữa bệnh đúng nơi đăng ký ban đầu tại trạm y tế xã.
2. Đối với dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn:
Trường hợp có sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn quỹ bảo hiểm y tế
thanh toán theo 3 mức quy định (100%, 95%, 80%), nhưng không vượt quá 40
tháng lương tối thiểu cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật đó, người bệnh đồng
chi trả chi phí ngoài phần quỹ bảo hiểm y tế chi trả.
phân biệt đối xử khác, bị đe dọa xâm hại hoặc xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do việc tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật;
+ Được thông báo về biện pháp bảo vệ được áp dụng; đề nghị thay đổi biện
pháp bảo vệ nếu có căn cứ cho rằng biện pháp đó không bảo đảm an toàn; được từ
chối áp dụng biện pháp bảo vệ;
+ Yêu cầu gia hạn thời hạn bảo vệ; yêu cầu bảo vệ lại;
+ Được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước trong trường hợp người tố cáo yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ mình mà các cơ quan, tổ chức,
cá nhân đó không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng quy định của
pháp luật, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, tổn thất về tinh thần cho
người được bảo vệ.
- Nghĩa vụ:
25