SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN TIN HỌC LỚP 11
TẠI TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Kính thưa các quý đồng nghiệp. Đối với môn Tin Học nói chung và Tin Học
trong bậc THPT nói riêng là một bộ môn rất hấp dẫn đối với các học sinh ngày
nay. Tuy nhiên để học sinh có niềm đam mê thực sự thì đòi hỏi các giáo viên bộ
môn cần phải đầu tư, tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn được các giải pháp về mọi
mặt (phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá ) để đạt hiệu quả cao, chính xác,
công bằng đồng thời đánh giá được tương đối thực lực từng đối tượng học sinh của
mình, từ đó sẽ nâng cao được chất lượng giảng dạy và học tập.
Trong 3 năm học THPT thì (lớp 10 kiến thức chỉ mang tính sơ lược để học
sinh nắm được khái quát về Hệ thống Tin Học và thực hiện sử dụng các phần mềm
có sẵn như MS-WORD. Lớp 11 kiến thức mang tính tư duy, trừu tượng nên học
sinh phải thực hiện kĩ năng tư duy, suy luận và áp dụng vào từng bài toán cụ thể,
có tính ứng dụng cao trong thực tế. Lớp 12 có phần đơn giản hơn lớp 11 vì không
còn mang tính trừu tượng nữa.
Hơn nữa bộ môn Tin Học lớp 11 cần phải có kiến thức tương đối cơ bản của
2 bộ môn khác là Toán (liên quan đến giải thuật) và Anh ngữ (liên quan đến các
câu lệnh khi lập trình) nên để đánh giá được thực lực của từng học sinh trong bộ
môn Tin Học giáo viên cũng cần phải dành nhiều thời gian hơn so khối 10 và khối
12 hay với một số bộ môn khác trong việc kiểm tra đánh giá. Môn này cũng sẽ khó
dạy khi giáo viên hoàn toàn không được dùng máy tính để minh họa hay thực hành
các thao tác mẫu của bài học. Nếu thầy và trò trên lớp được học tập hoàn toàn với
phấn và bảng (học chay), việc tiếp thu kiến thức bài học có thể suy giảm đến 70%.
Mặc dù theo thiết kế của chương trình và cố gắng của các tập thể tác giả sách giáo
khoa việc trình bày các kiến thức của bài học đã cố gắng độc lập tối đa với các
thao tác cụ thể trên máy tính, nhưng nếu sử dụng phương tiện minh họa là máy tính
thì sẽ đạt chất lượng cao hơn.
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh
thì từ những năm trước các cấp Bộ, Ngành, Sở GD-ĐT, các trường đã triển khai
nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các tình huống bài tập,
các hình thức tiểu luận… thì giáo viên chưa làm được vì chưa được đào tạo”;
“Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp
phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất
nhiều; Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học
đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự
tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng sẽ làm được”… Điều này vô
cùng quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trong tương lai ”
Nguyên nhân chính là việc đánh giá kết quả một chương, một phần hay một
quá trình học, giáo viên chưa chú trọng được mục tiêu và thiết kế bài học để học
sinh và giáo viên nắm bắt kịp thời thông tin hai chiều nhằm điều chỉnh hoạt động
dạy và học. Đồng thời nội dung kiểm tra, đánh giá chưa toàn diện, đa dạng. Bao
gồm cả kiến thức, kĩ năng và phương pháp hoặc là chỉ dừng lại tái hiện kiến thức
và kĩ năng mà chưa đề cấp đến khả năng sáng tạo của học sinh. Hơn nữa vẫn còn
thói quen kiểm tra, đánh giá nặng về công tác cho điểm xếp loại mà chưa chú trọng
đến việc đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của học sinh khi làm bài, sau khi
kiểm tra thì lại bỏ qua việc điều chỉnh hoạt động và học của cả thầy và trò. Thông
qua kết quả của HS, giáo viên chưa chú trọng việc củng cố lại kiến kiến thức bị
hổng cho học sinh cũng như công tác bồi dưỡng cho học sinh, chưa chú trong đến
các biện pháp tự học, tự đánh giá của học sinh
2) Cơ sở thực tiễn:
- Theo PGS.TS Lê Thế Vinh - Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã
đưa ra những phân tích cũng như chia sẻ định hướng về khâu đổi mới đột phá này.
“Hoạt động thi, kiểm tra, đánh giá như một thước đo, công cụ được sử dụng
thường xuyên của giáo viên trong quá trình dạy học. Thầy cô giáo, là người thực
hiện việc lên lớp giảng bài, hướng dẫn cho HS-SV học tập, hoạt động hình thành
năng lực và phẩm chất con người tốt cho các em. Để đào tạo được một con người,
người thầy dành tâm trí, sức lực, trí thông minh, thời gian để thực hiện.Từng nội
Trang 2
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
mạnh dạn cải tiến, thay đổi cho phù hợp với đặc thù của học sinh để áp dụng vào
các khối lớp học trong đó có khối lớp 11 do tôi đảm nhận trong các năm học qua
và có được kết quả đánh giá thật sự chất lượng qua đề tài “Đổi mới kiểm tra đánh
giá môn Tin Học lớp 11 tại trường THPT Sông Ray”.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Kiến thức của bộ môn Tin Học lớp 11 thật sự khó khăn cho các học sinh ở
vùng sâu, vùng xa như trường THPT Sông Ray vì chất lượng học sinh không đồng
đều. Chính vì điều đó giáo viên phải hết sức có tâm huyết thì mới dành nhiều thời
gian để tìm các giải pháp kiểm tra đánh giá được học sinh của mình. Muốn vậy
giáo viên phải tạo điều kiện cho các em khả năng phát triển tư duy sáng tạo, rèn
luyện tính độc lập, tính quy củ và tính kỷ luật đồng thời cũng phải áp dụng nhiều
biện pháp kiểm tra đánh giá “đa dạng các hình thức”.
Trang 3
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
Công việc chuẩn bị ra để kiểm tra học sinh sau khi kết thúc một mục, một
chương hay một giai đoạn của giáo viên là hết sức quan trọng, cần phải đắn đo và
lựa chọn các hình thức kiểm tra, nội dung kiểm tra sao cho phù hợp với các lớp,
đồng thời phải đạt được những tiêu chí: Khách quan, tính chính xác, tính toàn diện,
tính hệ thống, tính công khai, tính phát triển và tính công bằng, phân hóa được
từng học sinh để từ đó sau khi đánh giá sẽ có biện pháp điều chỉnh phương pháp
dạy học
Để việc kiểm tra đánh giá đạt hiệu quả cao thì tôi đã áp dụng các giải pháp sau
đây:
1) Các giải pháp:
- Thứ nhất: Khi nhận lớp giảng dạy ngay từ đầu năm học phải rà soát kiến thức
của từng học sinh bằng nhiều cách khác nhau để có cái nhìn tổng quát về lớp đó.
- Thứ hai: Chia các nhóm học sinh trong đó có đầy đủ những thành phần giỏi,
khá, trung bình đến yếu và kém.
- Thứ ba: Sau mỗi bài học có tổng kết kiến thức trọng tâm và cho câu hỏi để học
sinh về nhà trả lời.
hỏi này mà tạo được sự vận động nhiệt tình, sự thoải mái, tự tin cho từng học sinh
trong lớp đồng thời gây được sự thân thiện, mạnh dạn giữa Trò – Thầy ngay từ
buổi học đầu tiên. Từ đó học sinh cũng có thể nắm được khái niệm về lập trình.
- Thứ hai: Căn cứ vào danh sách lớp do văn phòng nhà trường cung cấp, tiếp
theo tôi xuống máy quản lý điểm của học sinh ghi nhận những học sinh có điểm bộ
môn Tin học kì 1 lớp 10 từ 6.5 trở lên sau đó dành thời gian lên sơ đồ nhóm học
tập trên lớp của học sinh, phân lớp thành 6 nhóm và những học sinh có điểm TB
cao được chia đều ra 6 nhóm này (mục đích là để hoạt động theo nhóm cho suốt
thời gian học). Vấn đề này làm ngay trong tuần đầu. Không liên quan đến sơ đồ
lớp do giáo viên chủ nhiệm phân bổ. Sau đó yêu cầu mỗi nhóm bầu nhóm trưởng
của mình xong rồi gửi danh sách nhóm cho giáo viên, giáo viên giữ danh sách này
để ghi nhận khi kiểm tra đánh giá học sinh trong suốt năm học và làm căn cứ để
lấy điểm vào sổ điểm chính.
- Thứ ba: Khi đã vào chương trình học rồi, sau mỗi tiết dạy tôi dành 5 phút,
nếu 2 tiết dành 10 phút (vì học kì 1 học 2 tiết/ tuần, học kì 2 học 1 tiết/ tuần) để
củng cố và ra câu hỏi về nhà cho học sinh. Như vậy đầu giờ kiểm tra bài cũ 5 phút,
củng cố bài học 5 phút thì nội dung chỉ còn 35 phút. Điều này nếu giáo viên mới,
hoặc là giáo viên chưa có kinh nghiệm chắc chắn sẽ khó có thể đáp ứng được nội
dung yêu cầu của bài.
- Thứ tư: Bất kể là bài cũ khó hay dễ, lý thuyết hay bài tập thì đầu giờ vẫn
cần phải kiểm tra, nếu tiết trước là kiểm tra viết 15 hay 45 phút thì càng phải kiểm
tra lại xem những gì học sinh thể hiện trong bài làm có thực sự là của mình hay
không, chỉ cần trích một nội dung đơn giản để đặt câu hỏi. Nên tránh việc đặt câu
hỏi theo hình thức học thuộc lòng bài cũ, chỉ dùng những câu hỏi mang tính gợi
nhớ, tư duy và trọng tâm của bài đã học. Lưu ý là trước khi giáo viên kết luận thì
gọi học sinh khác đánh giá câu trả lời của học sinh ở trên bảng. Sau đó giáo viên
rút và nhắc lại kiến thức. Như vậy là đánh giá được khả năng tiếp nhận kiến thức
của học sinh về bài cũ hoặc bài kiểm tra trước đó rồi.
* Ví dụ thực hiện 1: (Kiểm tra bài cũ theo cá nhân) Sau khi học xong tiết 1
bài 1, ngay đầu giờ tiết 2 ta vẫn cần kiểm tra lại kiến thức của bài 1 bằng cách gọi
* Ví dụ thực hiện: Sau khi kết thúc chương 2; từ bài 3 đến bài 8, cần dành
thời gian tổng kết chương và kiểm tra đồng loạt 3 hình thức đó là kiểm tra viết,
kiểm tra thực hành và cho bài tập theo nhóm, các nhóm làm xong nộp lại kết quả
cho giáo viên, giáo viên lại đưa kết quả này cho các nhóm phân tích chéo bài làm
của nhau ở phía dưới.
Phần tổng kết chương gồm các nội dung trọng tâm sau: - Sơ đồ tổng quát
của một chương trình trong đó có các khai báo (tên chương trình, thư viện, hằng,
biến (đã có khi dạy); - Viết một khai báo hằng và một khai báo biến theo cú pháp
của ngôn ngữ lập trình Pascal với 1 kiểu dữ liệu đã học và giải thích lại các thông
số cho học sinh nắm chắc; - Ví dụ về các phép toán, biểu thức, hàm và cách gán
biểu thức cho biến; - Giới thiệu cách viết thục tục nhập dữ liệu vào từ bàn phím
đồng thời giải thích lại sự khác nhau giữa giá trị của biến khi gán trong chương
trình với giá trị của biến khi được nhập từ bàn phím và thủ tục xuất kết quả ra màn
hình.
Riêng phần bài tập cho làm trước theo nhóm ta có thể cho học sinh thời gian
20 phút trong 1 tiết bài tập (chia ra 10 phút nhóm tự làm, 10 phút chấm chéo) rồi
nộp lại và giáo viên ghi nhận kết quả để lấy điểm trung bình với các lần khác cho
điểm miệng. Cách lấy điểm đó là chấm cả 2 bài (1 tự làm + 1 chấm chéo bài của
nhóm kia) sau đó cộng lại chia 2 rồi lấy điểm cụ thể cho nhóm đó. (học sinh không
xem tài liệu khi làm bài)
* Ví dụ thực hiện:
+ Nhóm 1: Phân tích sự khác nhau giữa trình thông dịch với trình biên dịch
+ Nhóm 2: Trong ngôn ngữ lập trình Pascal có các loại tên nào. Cho biết
cách viết của hằng số và hằng xâu và lấy 2 ví dụ ứng với mỗi loại.
+ Nhóm 3: Viết cấu trúc tổng quát của 1 chương trình có đầy đủ 2 phần
Trang 6
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
+ Nhóm 4: Nêu các kiểu thuộc kiểu dữ liệu nguyên và cho biết bộ nhớ lưu
trữ cũng như phạm vi giá trị mỗi kiểu.
+ Nhóm 5: Viết 3 khai báo biến khác nhau về kiểu dữ liệu và cho biết tổng
* Ví dụ thực hiện: (Tôi xin trích phần nội dung của đề cho ngắn gọn)
ĐỀ KIỂM TRA 45 PHÚT LẦN 1-HỌC KÌ 1-LỚP 11
I/ Phần câu hỏi trắc nghiệm:(7.5 điểm)
Câu 1: Cho biết kết quả của biểu thức sau: 6/3 + 2 div 3
A. 2 B. 3 C. 4 D. 5
Câu 2: Trong NNLT Pascal khai báo nào sai?
A. Program 1_vi_du; B. Program vi du;
C. Progam vidu; D. Câu A và B sai.
Câu 3: Trong ngôn ngữ lập trình, hằng có dạng:
A. Hằng số học B. Hằng Xâu
C. Hằng logic D. Tất cả đều đúng.
Câu 4: Cho biết kết quả của biểu thức sau: (18+12< 29) or (25 div 4 >=1)
A. 1 B. 6 C. False D. True
Câu 5: Cho biết giá trị của biến X khi thực hiện xong lệnh gán: X:=14 div 5 +2;
A. 4 B. 6 C. 0 D. 14
Trang 7
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
Câu 6: Để đóng cửa sổ tệp tin của Pascal :
A. Alt+F4 B. Alt+F3 C. Alt+F D. Ctrl+F3
Câu 7: Từ nào trong các từ dưới đây dùng để khai báo hằng?
A. Type B. Uses C. Const D. Var
Câu 8: Cho biết Kết quả xuất ra màn hình của các câu lệnh trong chương trình sau:
a:=11; Write(‘hoc sinh lop ’ , a);
A. hoc sinh lop a B. 11 C. hoc sinh lop D. hoc sinh lop 11
Câu 9: Để tính điểm trung bình cho từng học sinh ta dùng kiểu dữ liệu nào:
A. Longint B. Byte C. Real D. Word.
Câu 10: Trong ngôn ngữ Pascal để chú thích, ta sử dụng cặp dấu:
A. /* … */ B. Câu C và D đều đúng;
C. (* … *) D. { … }
Câu 11: Câu lệnh gán nào đúng:
A. 3 B. 7 C. 10 D. 4
Câu 21: Trong các khai báo biến sau, khai báo nào là chính xác
A Var x;y:Byte; B Var x,y: Interger;
C Var x,y: Longint; D Var: x,y:Byte;
Câu 22: Trong Pascal cấu trúc khai báo biến
A. Var <tên hằng>:<Kiểu dữ liệu> B. Var :<danh sách biến>:<Kiểu dữ liệu>
C. Var <danh sách biến>:<Kiểu dữ liệu> D. Var <danh sách hằng >:<Kiểu dữ liệu>
Câu 23: Câu lệnh rẽ nhánh có
A. 4 dạng B. 1 dạng C. 3 dạng D. 2 dạng
Câu 24: Phải sửa bao nhiêu lỗi để chương trình sau thực hiện được trên máy
Trang 8
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
Program vidu;
Uses Crt
Var x,y,z Integer;
Begin
Clrscr;
Write(‘nhap x,y:’); Readln(x,y);
Z: x+y;
Writeln(‘tong z là:’, z);
Readln
End.
A. 2 lỗi B. 3 lỗi C. 4 lỗi D. 5 lỗi
Câu 25: Để nhập giá trị từ bàn phím và xuất câu thông báo cho biến M ta dùng
cặp thủ tục:
(1) Write (‘nhap M’); (2) Readln(M); (3) Writeln(M); (4) Realn(M)
A. (1) - (4) B. (3) - (1) C. (2) - (3) D. (3) - (4).
Câu 26: Xét chương trình sau
Var s,i,n: Integer;
Begin
i
i
i
y
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
II/ Phần tự luận:(2.5 điểm)
A- Phần dành cho ban KHTN:
Sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal để viết đoạn chương trình thực
hiện bài toán tính tổng sau đây
B- Phần dành cho ban cơ bản
Sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal để Viết đoạn chương trình thực
hiện câu lệnh rẽ nhánh sau:
Nếu a
2
+b
2
<= 1 thì gán y = a
2
+b
2
Nếu a
2
+b
2
>1 và b < a thì gán y = a + b
Nếu a
2
+b
2
>1 và b > = a thì gán y = 1/ 2.
Else (b <a) then y := a+b
Else y := 0.5;
Writeln(y);
End.
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Qua mấy năm áp dụng kiểm tra đánh giá qua nhiều hình thức như trên tôi
nhận thấy các em học sinh thật sự tiếp thu được nhiều kiến thức, nhớ kỹ và lâu
hơn, có ý thức học tập cao hơn vì không mang tư tưởng học để đối phó cũng như
nặng nề mỗi khi vào tiết học đối mặt với sự kiểm tra của các thầy cô. Trong giờ
học hay ngoài giờ đều có điều kiện học tập qua bè bạn, khi kiểm tra không phải cứ
thuộc lòng những kiến thức đã học tiết trước, đồng thời cũng cho các em nhiều cơ
hội qua nhiều hình thức kiểm tra để các em khỏi bị thiệt thòi (vì 1 lần và 1 hình
thức kiểm tra thì chưa thể đánh giá hết khả năng của các em được). Vì vậy nếu mỗi
em trong suốt quá trình học đều được các giáo viên đầu tư thời gian và áp dụng
nhiều hình thức để kiểm tra, đánh giá thì sẽ có được kết quả thật sự công bằng,
khách quan, đó không còn là phương pháp kiểm tra đánh giá nữa mà nó còn mang
cả phương pháp giảng dạy. Do đó kết quả học tập của các em tương đối đồng đều
và có chất lượng cao.
Để minh chứng tôi xin đưa ra số liệu về chất lượng cuối năm của các lớp tôi
đảm nhiệm có áp dụng đổi mới kiểm tra, đánh giá (kết hợp nhiều hình thức kiểm,
tra đánh giá) với các lớp không áp dụng việc đối mới kiểm tra đánh giá (chỉ đơn
thuần kiểm tra viết) trong năm học 2012 – 2013 cụ thể như sau:
Đối với các lớp chỉ kiểm tra, đánh giá bằng hình thức bài viết theo phân phối
chương trình đến khi thực hiện bài 45 phút cho kết quả theo bảng dưới đây.
Do là 2 lớp thuộc ban KHTN nên tôi không thực hiện nhiều hình thức kiểm
tra trong suốt năm học như các lớp ban cơ bản.
Lớp
Sĩ
số
+ Với 2 lớp C
1
và C
2
không thực hiện nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá,
trong năm và dù là ban KHTN thì tỉ lệ học sinh có điểm từ trung bình trở lên xấp xỉ
90%. Không có học sinh kém.
+ Với 4 lớp thuộc ban cơ bản C
5
, C
6
, C
11
, C
12
tỉ lệ điểm kiểm tra về điểm giỏi
có thấp hơn một chút nhưng nếu tính tỉ lệ từ trung bình trở lên thì cũng xấp xỉ
90%, tương đương với các lớp ban KHTN. Đặc biệt cũng không lớp nào có học
sinh bị điểm kém.
Kết luận: Như vậy qua việc thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh
(thực hiện nhiều hình thức kiểm tra) mặc dù giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian
hơn song đổi lại học sinh có thể tiếp thu kiến thức đồng thời nắm vững được nội
dung kiến thức của chương trình học. Các học sinh có kiến thức ngày càng đồng
đều hơn và cũng tạo cho học sinh sự thân thiện với nhau trong học tập. Để cuối
cùng kết quả kiểm tra được thực chất hơn cũng như chất lượng học tập đạt hiệu
quả cao.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:
- Hội đồng bộ môn ở cấp Sở GDĐT nên tổ chức các cuộc hội thảo để đưa ra
các phương hướng cho các trường nhiều hơn. Đồng thời tạo mọi điều kiện thuận
lợi, cung cấp các thiết bị cần có, hiện đại phù hợp với từng bộ môn để giúp giáo
9) ThS. Hồ Sỹ An_Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐH Sư phạm
Tp.HCM.
VI. PHỤ LỤC:
Một số bài tập sau:
1. Biên dịch và thông dịch khác nhau như thế nào?
2. Viết cấu trúc tổng quát của 1 chương trình có đầy đủ 2 phần
3. Cho biết điểm khác nhau giữa tên dành riêng và tên chuẩn?
4. Viết các ví dụ đúng về hằng trong ngôn ngữ lập trình.
5. Viết các khai báo biến ứng với mỗi kiểu dữ liệu đã học và tính số bộ nhớ cần
cấp cho các khai báo đó.
6. Viết các biểu thức và hàm cho các biểu thức trong toán học
7: Viết thủ tục nhập các biến a, b, c tù bàn phím và thủ tục xuất ra biến x ra
màn hình.
8. Viết chương trình thực hiện các bài toán trong sách giáo khoa tin học 11
trang 36 và trang 50.
Sông Ray, ngày 24 tháng 5 năm 2014
NGƯỜI THỰC HIỆN
Trang 13
SKKN2014_TINHOC_NGUYEN VAN HUONG_THPT SONG RAY
Nguyễn Văn Hưởng
Trang 14