THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở TAY GIANG - Pdf 25

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở TAY GIANG
Tây Giang nói riêng, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã có nhiều cố gắng và
thu được nhiều kết quả đáng kể, đáp ứng được yêu cầu của việc tăng cường quản lý Nhà nước,
quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN tại địa phương.
Trong 6 năm qua, công tác PBGDPL trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến tích cực,
tạo nhận thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân, hình thức tuyên truyền có nhiều sáng kiến
mới, nội dung tuyên truyền phong phú, cô động, dễ hiểu với hơn 278 đợt triển khai và hơn
18.863 lượt người tham gia học tập. Việc đó, thể hiện rõ trong cuộc sống sinh hoạt của người
dân như hạn chế việc phát rừng già, rừng đầu nguồn làm nương rẫy, trẻ em được quan tâm
chăm sóc và học tập; việc tảo hôn, yêu sách của cải trong hôn nhân củng giảm nhiều so với
trước; các sự kiện hộ tịch phát sinh được đăng ký kịp thời; thanh niên thực hiện nghĩa vụ Quân
sự hằng năm đạt 100%; hạn chế đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đặc biệt là ít án hình
sự, dân sự Điều này đã cho chúng ta thấy được rằng giữa công tác PBGDPL với việc tăng
cường pháp chế XHCN thể hiện sự đan xen và có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó không
thể tách rời nhau.
Tuy nhiên, với đặc thù địa lý tự nhiên phức tạp, thời tiết thay đổi thất thường; thông tin
nghe nhìn còn hạn chế; mạng lưới điện thắp sáng mới chỉ đến một số xã vùng thấp và khu
trung tâm hành chính huyện, trình độ dân trí còn hạn chế; tỉ lệ hộ đói nghèo còn cao, phong
tục tập quán nhiều nơi còn lạc hậu Công tác PBGDPL vẫn chưa ngang tầm với việc quản lý
xã hội bằng pháp luật, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ và rộng khắp, còn
thiếu cơ chế, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở để huy
động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự tham gia của toàn xã hội đối với công
tác này. Mặt khác:
- Đội ngũ báo cáo viên pháp luật huyện và lực lượng tuyên truyền viên pháp luật các xã
hầu hết là kiêm nhiệm nên đôi nơi, đôi lúc việc nghiên cứu, biên soạn tài liệu tuyên truyền
củng như việc tham gia các buổi, đợt triển khai công tác PBGDPL xuống cơ sở còn hạn chế,
thiếu đồng bộ dẫn đến hiệu quả chưa cao.
- Một số cấp uỷ Đảng chưa quan tâm đúng mức, chưa quán triệt các văn bản luật mới ban
hành cho cán bộ, đảng viên của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.
- Một số lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể chưa vận động và tạo điều kiện cho

các hội thi, cuộc thi, các buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật, thông qua Tủ sách pháp luật
lưu động, thông qua xét xử án lưu động, hoà giải cơ sở, giải quyết các vụ việc
2. Kiện toàn và ổn định bộ máy hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL huyện
và cơ sở, mở rộng và thường xuyên tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên và lực lượng
tuyên truyền viên pháp luật, phân công thành viên Hội đồng phối hợp phụ trách cụm để theo
dõi hoạt động của các địa phương.
3. Đội ngũ báo cáo viên và lực lượng tuyên truyền viên pháp luật phải năng động, nhiệt
tình, tâm huyết nắm vững kiến thức pháp luật. Đặc biệt là báo cáo viên tuyên truyền miệng
cần sử dụng cả tiếng Việt và tiếng C’tu nhằm giúp cho nhân dân tiếp thu một cách nhanh hơn
và dễ hiểu hơn.
4. Cần phải có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trong công tác
PBGDPL. Đưa công tác PBGDPL vào trường học để có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà
trường và xã hội trong việc giáo dục ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của thanh thiếu
niên.
5. Nâng cao vai trò hoạt động của tổ chức Đảng, Ban nhân dân, Mặt trận đoàn thể thôn,
Câu lạc bộ TGPL và các Tổ hòa giải cơ sở nhằm lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật đến
từng thôn, từng khu dân cư và từng người dân.
6. Phải xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là trong việc xử phạt vi phạm
hành chính trên các lĩnh vực.
7. Cần có một nguồn kinh phí nhất định, có đầy đủ trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật để
phục vụ cho công tác PBGDPL hằng năm đạt kết quả cao.
10. Tiếp tục nâng cao số lượng và chất lượng chuyên trang, chuyên mục “Tìm hiểu pháp
luật” trên sóng truyền thanh, Bản tin Tây Giang để phục vụ cho nhân dân tìm hiểu pháp luật
luôn được thường xuyên, liên tục và rộng khắp.
Tóm lại, việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao trình
độ văn hóa pháp lý của người dân. Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình độ văn hóa
pháp lý của đội ngũ cán bộ, công chức; phụ thuộc vào việc họ thực thi pháp luật, có thái độ
tôn trọng pháp luật. Bởi vậy, thực hiện nhiệm vụ nâng cao văn hóa pháp lý đòi hỏi không chỉ
nâng cao trình độ văn hóa chung của nhân dân mà còn phải tăng cường cho đội ngũ cán bộ,
công chức các cơ quan Nhà nước. Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp

Hệ thống cán bộ pháp chế ngành giáo dục từ Bộ đến các sở giáo dục và đào tạo, các trường đại
học, cao đẳng đã được xây dựng theo quy định tại Nghị định số 122/2004/NĐ-CP của Chính phủ
để thực hiện tốt chức năng tham mưu, tổ chức công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại đơn vị.
Đội ngũ giáo viên pháp luật, giáo dục công dân được chú ý bổ sung. Hàng năm, Bộ đều tổ chức
tập huấn cho giáo viên giảng dạy pháp luật ở Trung cấp chuyên nghiệp, cán bộ pháp chế và báo
cáo viên pháp luật của các sở giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học. Năm học 2006 -
2007, đã tổ chức bồi dưỡng cho toàn bộ giáo viên môn giáo dục công dân các trường THPT
trong toàn quốc dạy theo chương trình và sách giáo khoa mới.
Nội dung tuyên truyền, phổ biến được lựa chọn phù hợp đối tượng. Đối với cán bộ, công chức,
người lao động nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật tập trung vào ba nhóm vấn đề chính. Thứ
nhất là các quy định về cán bộ, công chức, viên chức; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống
tham nhũng, hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị; khiếu nại, tố
cáo; thi đua, khen thưởng Thứ hai, các quy định pháp luật mới liên quan như Bộ Luật Dân sự,
Luật Đất đai, Bộ Luật tố tụng Dân sự Thứ 3, Luật Giáo dục, các văn bản quy phạm pháp luật về
giáo dục và các văn bản liên quan trực tiếp đến công tác chuyên môn như các chương trình giáo
dục mới, cuộc vận động “hai không”, các quy định về đạo đức nhà giáo, về dạy thêm, học thêm,
về kiểm định chất lượng nhà trường…
Đối với học sinh, sinh viên, nội dung pháp luật được thực hiện qua chương trình môn học Đạo
đức ở tiểu học, môn học Giáo dục công dân ở THCS và THPT, môn học Pháp luật ở trung cấp
chuyên nghiệp, môn học Pháp luật đại cương ở đại học, cao đẳng không chuyên luật. Bên cạnh
đó, các nội dung pháp luật liên quan còn được tích hợp ở một số môn học khác như các môn tự
nhiên, xã hội, lịch sử, địa lý, ngữ văn, giáo dục quốc phòng, an ninh ở phổ thông, các môn luật
chuyên ngành ở giáo dục trung cấp chuyên nghiệp và giáo dục đại học. Các nội dung pháp luật
liên quan trực tiếp đến học sinh, sinh viên như quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, pháp
luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật về giao thông, pháp luật về phòng chống ma túy, pháp
luật về phòng chống tệ nạn xã hội, pháp luật về bảo vệ môi trường, các quy chế đào tạo, rèn
luyện còn được tuyên truyền, phổ biến thường xuyên bằng nhiều hình thức ngoại khóa phong
phú khác.
Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai đồng bộ. Bộ GD - ĐT đã ban hành
Chương trình giáo dục phổ thông kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT trong đó Chương

chưa thường xuyên, chưa có tính hệ thống, hình thức còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn, chất lượng
và hiệu quả còn thấp. Đội ngũ giáo viên, giảng viên giảng dạy môn Pháp luật, Giáo dục công dân
còn thiếu nhiều. Tình trạng dạy không đúng chuyên môn ở THCS, TCCN còn khá phổ biến. Ngân
sách dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hết sức khó khăn. Nhiều sở, trường chưa
bố trí kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật thành khoản riêng để chủ động tiến hành công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật. Cùng với đó, ý thức pháp luật của học sinh, sinh viên tuy có được
nâng lên song còn không ít bất cập. Hiện tượng vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp
luật về giáo dục trong người học vẫn xảy ra trong đó có cả những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng
như cướp của, giết người, hiếp dâm… Hiểu biết pháp luật của học sinh, sinh viên các trường đại
học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp khi ra trường còn rất hạn chế.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian tới, ngành
giáo dục đang tiến hành triển khai Đề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến, tuyên truyền
pháp luật trong nhà trường trong đó tập trung vào 5 nhiệm vụ. Một là, tổ chức việc giảng dạy các
kiến thức pháp luật phù hợp ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Xây dựng, hoàn thiện
chương trình, giáo trình, sách giáo khoa giảng dạy pháp luật, giáo dục công dân. Hai là, thường
xuyên triển khai việc phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đội ngũ nhà giáo, công chức,
người lao động trong ngành. Ba là, bổ sung đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
dạy môn pháp luật và môn giáo dục công dân, cán bộ phụ trách công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật và báo cáo viên pháp luật ngành giáo dục. Bốn là, chuẩn hóa, đa dạng hóa, nâng cao
chất lượng các hình thức giáo dục ngoại khóa, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Năm là,
bổ sung, hoàn thiện các tài liệu, thiết bị phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà
trường.
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn việc phối hợp thực hiện
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường
Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ
quan ngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

b) Bổ sung, hoàn thiện các điều kiện đảm bảo cho công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật trong nhà trường;
c) Kịp thời điều chỉnh, bổ sung chương trình, kế hoạch và sự chỉ đạo đối
với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường khi có sửa đổi, bổ sung
hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
2.1.2 Yêu cầu đối với việc phối hợp
a) Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị và đảm bảo
sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương;
b) Phải có nội dung cụ thể, thiết thực, không phô trương, hình thức và được
tiến hành thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm;
c) Phát huy vai trò chủ động của mỗi cơ quan, đơn vị trong việc phối hợp.
Chương II
NỘI DUNG PHỐI HỢP
Điều 3. Xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật
trong nhà trường
1. Xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ
quan quản lý giáo dục, cơ quan tư pháp trong nhà trường.
2. Xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật liên
ngành giữa cơ quan quản lý giáo dục, cơ quan tư pháp cùng cấp.
Chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm chương trình,
kế hoạch hàng năm, dài hạn hoặc theo chuyên đề phù hợp với các đối tượng trong
nhà trường.
Điều 4. Xây dựng và sử dụng đội ngũ giáo viên, giảng viên, báo cáo
viên phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường
1. Khảo sát, đánh giá tình hình đội ngũ giáo viên, giảng viên giảng dạy môn
học Đạo đức, Giáo dục công dân, Pháp luật; cán bộ phụ trách công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật ngành giáo dục, báo cáo viên pháp luật ngành giáo dục.
2. Xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức
và kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng nêu tại khoản 1 Điều
này.

3. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật trong cán bộ, nhà giáo, người
học ở các cấp học và trình độ đào tạo.
4. Khảo sát thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực giáo dục;
chia sẻ các thông tin trong nước và quốc tế liên quan đến công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật trong nhà trường.
5. Đổi mới phương pháp dạy và học pháp luật theo hướng nâng cao tính
chủ động, tích cực của người học và tính thực tiễn trong bài giảng của giáo viên,
giảng viên.
Điều 8. Phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết về công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật
1. Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật trong nhà trường.
2. Định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá các hình thức phổ biến, giáo dục pháp
luật có hiệu quả trong nhà trường; khen thưởng về công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật trong nhà trường.
3. Tiến hành giao ban hàng năm về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong
nhà trường giữa cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan tư pháp cùng cấp.
LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật được ban hành nhằm tạo sự chuyển biến căn bản về ý thức tôn
trọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý
đồng bộ, thống nhất cho công tác quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; góp phần huy động sự
tham gia của cả hệ thống chính trị trong công tác này và thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước ta khi
gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Điều 2. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về tổ chức, cá nhân thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức, cá nhân được

4. Xác định nhu cầu và phù hợp với lợi ích của tổ chức, cá nhân.
5 Chính sách của nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là
nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
2. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện, tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp
luật; khuyến khích, tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức và cá nhân tham gia,
hỗ trợ, đóng góp cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tự giác tìm hiểu pháp luật. Đồng thời, tạo điều
kiện cho mọi tổ chức, cá nhân tiếp cận với pháp luật, tăng cường bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; có chính sách hỗ trợ cần thiết cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp
luật tại những địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn, địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số.
4. Nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết về nhân lực, kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo
dục pháp luật, trong đó ưu tiên cấp cơ sở. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật. Kinh phí bảo đảm hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được bố trí trong dự toán
chi thường xuyên của ngân sách các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân
dân các cấp theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
5. Nhà nước khuyến khích mở rộng hợp tác quốc tế về phổ biến, giáo dục pháp luật trên
nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
6. Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Chính phủ quản lý thống nhất về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo
dục pháp luật cụ thể như sau:
a) Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng chiến lược phổ biến, giáo dục pháp luật, chương trình phổ biến,
giáo dục pháp luật dài hạn, ngắn hạn và hàng năm.
b) Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, tiêu chuẩn, chế độ,
chính sách, quy tắc nghề nghiệp về phổ biến, giáo dục pháp luật và đánh giá hiệu quả công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật.
c) Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình khung đào tạo về nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho

CÁC HÌNH THỨC TUYÊN TRUYEN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT
Nhìn lại công tác Phổ biến pháp luật (PBPL) năm qua, cũng là 6 năm thực hiện
Chỉ thị 32 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác
PBPL và nhiều chương trình quốc gia lớn cho thấy, chưa bao giờ công tác PBPL
được quan tâm như hiện nay, và thực tế việc PBPL đã từng bước đi vào chiều
sâu, khắc phục “căn bệnh” hình thức…
82% đơn vị cấp xã đã thành lập hội đồng.
Đánh giá của Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật (Bộ Tư pháp) cho thấy: so với giai
đoạn 2001-2006, giai đoạn 2007-2010, tổ chức và cán bộ làm công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật được tăng cường về số lượng và nâng cao chất lượng. Ngoài
việc kiện toàn bộ máy tại Vụ, ở địa phương, đến nay, 63/63 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương đã thành lập Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật. 19 Bộ,
ngành, đoàn thể ở trung ương, 63/63 tỉnh, thành phố, 99% đơn vị cấp huyện và
82% đơn vị cấp xã đã thành lập Hội đồng phối hợp PBPL.
Đặc biệt, tham gia vào công tác PBPL đến nay đã có một lực lượng đông đảo.
Đó là đội ngũ cán bộ Tư pháp chuyên trách PBPL có 7.029 người, cán bộ pháp
chế thực hiện thực hiện PBGDPL là 2.110 người. Hiện có 232 báo cáo viên pháp
luật Trung ương; 5183 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 13.667 báo cáo viên
pháp luật cấp huyện và 82.555 tuyên truyền viên pháp luật cấp xã. Bên cạnh đó,
công tác PBPL còn có sự tham gia của 623.157 hòa giải viên tại 120.462 Tổ hòa
giải và 25.404 báo cáo viên Tư tưởng văn hóa.
Cũng theo Vụ PBGDPL, từ chỗ kinh phí đầu tư cho công tác PBPL trước đây rất
khó khăn nay đã được tăng cường, nhiều địa phương từ chỗ kinh phí cho công
tác này chưa tới một trăm triệu nay đã dành ngân sách tăng gấp 4-5 lần, có địa
phương (TP Hà Nội, Lâm Đồng ) bố trí hàng tỷ đồng/năm dành cho công tác
PBPL.
“Ngày pháp luật” được nhân rộng
Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, có thể nói chưa khi nào công tác
PBPL được quan tâm, đầu tư và nở rộ về phương thức như hiện nay.

Ngay sau khi Chỉ thị 32 được ban hành, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ra
công văn hướng dẫn các LĐLĐ tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương thực hiện Chỉ thị.
100% LĐLĐ địa phương, công đoàn ngành Trung ương đã có văn bản triển khai và kế hoạch
thực hiện. Sau 3 năm thực hiện Chỉ thị, đến nay, gần 60 LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành
trung ương, công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn đã có báo cáo đánh giá 6 năm
triển khai, thực hiện Chỉ thị 32.
Song song với việc triển khai thực hiện Chỉ thị 32, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tích cực
triển khai thực hiện Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ về
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Chương trình hành động quốc gia phổ biến giáo dục pháp
luật theo quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số
22-CT/TW ngày 5/5/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Tăng cường công tác lãnh
đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp
Đặc biệt, đến tháng 2.2009, khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 31/2009/QĐ-TTg
về việc phê duyệt đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng
lao động trong các loại hình doanh nghiệp từ năm 2009 đến 2012 (gọi tắt là Đề án 31), công tác
này tiếp tục được tổ chức công đoàn các cấp quan tâm hơn, nhằm tạo sự chuyển biến quan
trọng của hoạt động tuyên giáo Công đoàn trong tình hình mới.
Nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ đạo 100% LĐLĐ tỉnh, thành phố tham gia Hội đồng Phối hợp
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố. Đến nay, có 30
LĐLĐ địa phương và công đoàn ngành Trung ương đã thành lập Hội đồng, 17 đơn vị kiện toàn
Tiểu ban, 1 đơn vị thành lập Chi hội luật gia. Số lượng, chất lượng báo cáo viên được nâng lên.
Theo thống kê chưa đầy đủ, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật từ Trung ương
đến cơ sở là 5.995 người, hầu hết có trình độ đại học, định kỳ được tập huấn nâng cao nghiệp
vụ chuyên môn và kỹ năng làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật.
Ngoài ra, Tổng Liên đoàn còn hướng dẫn địa phương, ngành tập trung phổ biến những bộ luật,
chế độ, chính sách có liên quan trực tiếp đến đời sống và quyền lợi hợp pháp, chính đáng của
người lao động. Tổ chức lấy ý kiến và hướng dẫn địa phương, ngành lấy ý kiến vào các dự án
luật. Để giúp CNVCLĐ dễ tiếp cận những bộ luật lớn, Tổng Liên đoàn tập trung phổ biến những
điều, khoản, chế định liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích, trách nhiệm và nghĩa vụ của

cũng như nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật lao động cho người lao động và người sử
dụng lao động.
Cần sự chung sức của các cấp, các ngành
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện Chỉ thị 32 tại các cấp Công đoàn
vẫn còn những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục như một số nơi Công đoàn chưa thật sự có
trách nhiệm trong chỉ đạo, chưa quan tâm đầu tư một cách toàn diện tới công tác PBGDPL, công
tác tuyên truyền chưa tiến hành thường xuyên, hoặc làm qua loa, hình thức; công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật mới bắt đầu đến được công nhân lao động khu vực dân doanh và có vốn đầu
tư nước ngoài; đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tuy đã được nâng
lên về số lượng và chất lượng nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu công tác tuyên truyền, chưa
được thường xuyên tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ năng; người sử dụng lao động chưa có
trách nhiệm trong việc phổ biến giáo dục pháp luật cho CNLĐ, không tạo điều kiện cho cán bộ
Công đoàn hoạt động, không tạo điều kiện cho CNLĐ học tập nâng cao hiểu biết pháp luật; một
số tổ chức cơ sở Đảng chưa phát huy hết vai trò trong việc tham gia chỉ đạo sản xuất, nhân sự.
Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh không có chi bộ Đảng; các chế tài xử phạt vi phạm Luật
Lao động của Nhà nước chưa thật sự nghiêm, chưa đủ sức răn đe
Để khắc phục những hạn chế còn tồn tại và nhân lên những ưu điểm đã đạt được, trong thời
gian tới các cấp Công đoàn sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị 32 gắn với việc tiếp tục
thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của Tổng Liên
đoàn, đặc biệt là Đề án 31; quan tâm đầu tư xây dựng, củng cố, hoàn thiện về tổ chức và hoạt
động của các Tiểu ban; tăng cường củng cố đội ngũ báo cáo viên pháp luật của Công đoàn ở
các cấp; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của CNVCLĐ Đặc biệt
chú trọng đầu tư tuyên truyền cho CNVCLĐ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước; chủ động tham gia
nghiên cứu, xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản luật khác có liên quan trực tiếp
đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và tổ chức Công đoàn, đặc biệt chú trọng việc sửa
đổi, bổ sung luật Công đoàn, bộ luật Lao động
Tuy nhiên để công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho đội ngũ CNVCLĐ thật sự hiệu quả, đạt
tác dụng tốt thì cần sự chung tay góp sức của các cấp ủy đảng, sự phối hợp chặt chẽ giữa các
cơ quan, ban, ngành. Song song đó, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện pháp luật và các thể chế liên

nông dân và đồng bào DTTS. Ở những địa phương làm tốt công tác này,
tình trạng vi phạm pháp luật và khiếu kiện kéo dài có chiều hướng giảm
(Thanh Hóa giảm tình trạng khiếu kiện kéo dài, Bình Thuận hằng năm
giảm 10% số vụ phá rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép…).
Nhiều tỉnh, thành phố xuất hiện những mô hình PBGDPL có hiệu quả, phù
hợp với đặc điểm tình hình địa phương như: Tuyên truyền thông qua lễ
hội, phiên chợ vùng cao (Hà Giang); Thi sáng tác thơ tuyên truyền pháp
luật, triển khai Đề án “Đem luật về làng” (Hải Phòng); Tập huấn kiến thức
pháp luật cho các vị chức sắc trong chùa Khmer (Trà Vinh) Tuy nhiên,
tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01 cho thấy, công tác
PBGDPL mới chỉ thực hiện có kết quả khả quan ở cấp tỉnh, cấp huyện và
một số xã, phường, thị trấn vùng thấp. Đối với các xã vùng cao, vùng sâu,
vùng xa, vùng DTTS thì việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật tuy có tiến
bộ hơn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, pháp luật chưa đến được đông đảo
người dân mà chủ yếu chỉ đến được cán bộ xã, một số trưởng thôn,
bản. Một trong những hạn chế được quan tâm nhất hiện nay là chất lượng
của đội ngũ cán bộ thực hiện công tác PBGDPL còn yếu và chưa đồng
đều. Theo số liệu của Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố thì đến năm 2010,
cả nước có khoảng 123.190 người làm công tác PBGDPL, trong đó có
18.906 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh-huyện, 97.255 tuyên truyền viên
pháp luật cấp xã và hơn 25.000 báo cáo viên tư tưởng văn hóa thường
xuyên tham gia PBGDPL.Đại bộ phận cán bộ làm công tác PBGDPL cấp
xã trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế, hơn nữa chủ yếu là kiêm
nhiệm. Trong khi đó, số lượng cán bộ Tư pháp thực hiện PBGDPL hiện rất
mỏng (chỉ chiếm khoảng 5,8% trong đội ngũ cán bộ thực hiện công tác
PBGDPL). Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải
viên, công tác viên trợ giúp pháp lí ở nhiều địa phương tuy có phát triển
hơn so với trước nhưng vẫn còn thiếu, nhất là đội ngũ cán bộ biết tiếng
DTTS.Chính bởi vậy, cùng với việc tiếp tục triển khai mạnh mẽ các nội
dung trong chương trình hành động của Nghị quyết liên tịch số 01, thì một

2. Nội dung PBGDPL cho đối tượng là người học
- Giảng dạy đúng, đủ nội dung kiến thức pháp luật được xây dựng trong chương
trình môn giáo dục công dân và môn pháp luật theo quy định của Bộ GD&ĐT.
- Phổ biến quán triệt các quy định pháp luật liên quan đến học tập, rèn luyện của
từng đối tượng, trong đó cần tập trung vào các quy định về quyền và nghĩa vụ của người
học, thi cử, khen thưởng, kỷ luật vv nhằm thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả cuộc
vận động "Hai không", làm cho người học hiểu và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
- Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về các vấn đề bức xúc của
xã hội như dạy thêm học thêm, đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng chống ma tuý,
phòng chống tội phạm, phòng chống tham nhũng, bảo vệ môi trường và các quy định cụ
thể liên quan đến cuộc sống và học tập phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, trình
độ của người học ở từng cấp học.
3. Nội dung PBGDPL cho đối tượng là cán bộ, nhân dân
Phối hợp tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về giáo dục cho phụ huynh học
sinh, cán bộ, nhân dân trong đó tập trung vào các quy định về quyền, nghĩa vụ của người
học; quyền và nghĩa vụ của nhà giáo; quản lý nhà nước về giáo dục; xã hội hóa sự nghiệp
giáo dục.
(Gửi kèm theo Kế hoạch này là danh mục một số văn bản pháp luật quan trọng cần tuyên
truyền, phổ biến trong năm 2010).
III. Hình thức tuyên truyền PBGDPL
1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
- Sở GD&ĐT tổ chức quán triệt công tác PBGDPL trong hội nghị tổng kết năm học
2009-2010 và triển khai nhiệm vụ năm học 2010-2011: Văn phòng Sở chủ trì, phối hợp
với bộ phận Pháp chế thuộc Thanh tra Sở để thực hiện.
- Sở chỉ đạo thực hiện PBGDPL qua các hội nghị tập huấn, hội nghị giao ban để giới
thiệu văn bản pháp luật mới, đây là một hình thức cơ bản và được tổ chức thường xuyên.
- PBGDPL trên các phương tiện thông tin đại chúng: Tiếp tục phối hợp tuyên truyền
với Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh-Truyền hình Bắc Giang, Tỉnh đoàn Bắc Giang chỉ
đạo thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL.
- PBGDPL trên website của Bộ GD&ĐT và sở GD&ĐT cập nhật thường xuyên các

- Là sự giao tiếp trực tiếp để cung cấp và trao đổi thông tin nên sử dụng được mọi ưu thế
của giao tiếp trực tiếp. Có thể giải thích được những vấn đề mà vì một lý do nào đó
không thể đưa công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Tuyên truyền miệng qua hình thức đối thoại giữa người nói với người nghe, là một hình
thức tuyên truyền dân chủ nhất, thực hiện được chức năng thông tin cả 2 chiều, không
mang tính áp đặt.
- Tuyên truyền miệng có thể sử dụng triệt để nhất ưu thế của ngôn ngữ nói và "kênh" phi
ngôn ngữ.
- Tuyên truyền miệng có điều kiện và nhiều khả năng tiến hành một cách thường xuyên
và rộng rãi ở nhiều nơi, trong các điều kiện khác nhau. Báo cáo viên có khả năng thích
nghi với các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tiến hành nhiệm vụ tuyên truyền được
giao.
1.3 Những hạn chế của tuyên truyền miệng
- Lời nói có tính tuyến tính, chỉ đi một chiều, không quay trở lại. Vì vậy, người nói cần
thận trọng, người nghe cần chú ý nếu không, không lấy lại được lời đã nói và không
nghe được lời báo cáo viên đã nói.
- Phạm vi về không gian có giới hạn, do khả năng phát ra của lời nói trực tiếp (dù đã có
phương tiện khuyếch đại) và khả năng tập hợp một số đông tại một địa điểm và thời
điểm nhất định.
- Dễ chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh do tập trung đông người và ở các địa điểm
khác nhau.
1.4 Những nguyên tắc cơ bản của tuyên truyền miệng
- Tính Đảng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu của công tác tuyên truyền miệng. Khi tuyên
truyền phải đúng với định hướng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước.
- Tính chiến đấu của công tác tuyên truyền nói chung và là ưu thế của tuyên truyền
miệng nói riêng. Tuyên truyền miệng phải khẳng định và bảo vệ cái đúng, xây dựng
những tư tưởng tình cảm lành mạnh, uốn nắn những quan điểm tư tưởng lệch lạc, đấu
tranh chống các luận điểm phản tuyên truyền, các biểu hiện tiêu cực.
- Tính quần chúng: nội dung tuyên truyền, các biểu hiện tiêu cực, mối quan hệ giữa

liện tục, có hệ thống, vừa có những đợt tập trung cao điểm, vừa thường xuyên, liên tục,
không để dứt quãng.
- Phối hợp nhiều hình thức, biện pháp và lực lượng. Tuyên truyền miệng phải kết hợp
nhiều hình thức, phương pháp, sử dụng và phối hợp nhiều lực lượng, nhất là với các
phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động văn hóa văn nghệ và sinh hoạt, hội hợp
2. Phương pháp và kinh nghiệm chuẩn bị đề cương một bài tuyên truyền miệng
Tuyên truyền miệng không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật - nghệ thuật nói
chuyện trước công chúng. Để có thể trở thành người nói giỏi, nói hay, người cán bộ
Đoàn, người báo cáo viên, tuyên truyền viên không chỉ nắm vững cơ sở khoa học của
hoạt động tuyên truyền miệng mà còn phải biết sử dụng những kỹ năng, kỹ xảo, nghiệp
vụ chuẩn bị bài nói trước người nghe. Để chuẩn bị cho một bài nói, thường phải trả lời
cho các câu hỏi: Nói để làm gì? Nói về vấn đề gì? Nói ở đâu, vào thời gian nào? Nói cho
ai nghe? Lấy tài liệu nào, ở đâu để nói? Bố cục bài nói như thế nào?
2.1 Xác định mục đích của bài nói
- Mục đích chung của công tác tuyên truyền là nâng cao nhận thức, hình thành niềm tin
và cổ vũ hành động người nghe. Mục đích của bài nói bao giờ cũng cần đạt được 3 yêu
cầu là:
- Nâng cao nhận thức,
- Xây dựng, củng cố niềm tin,
- Cổ vũ đi tới hành động.
Tuỳ theo mỗi nội dung và yêu cầu của đối tượng để xử lý mối quan hệ của 3 yêu cầu đó.
2.2 Xác định chủ đề bài nói
Chủ đề bài nói cần đáp ứng yêu cầu cơ bản: thoả mãn nhu cầu người nghe (tính thời sự,
tính thiết thực, có thông tin mới), trong thời gian cho phép. Để xác định chủ đề bài nói,
cần căn cứ vào 3 yếu tố sau:
- Yêu cầu tư tưởng của cấp uỷ theo chương trình kế hoạch.
- Yêu cầu của đối tượng tuyên truyền thông qua cơ quan, tổ chức "đặt hàng".
- Dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết của báo cáo viên về đặc điểm đối tượng.
2.3 Tìm hiểu đặc điểm người nghe (đối tượng)
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực.

để có sự điều chỉnh kịp thời.
b) Thời gian diễn ra buổi nói chuyện
Buổi nói chuyện diễn ra vào sáng, chiều hay tối cũng tạo nên những thuận lợi hoặc khó
khăn cho việc nhận thông tin của người nghe. Thông thường vào buổi sáng người nghe
tỉnh táo, tiếp thu thông tin tốt hơn; đầu giờ chiều người nghe thường mệt mỏi, buổi tối
hay bị phân tán Trong mỗi hoàn cảnh đòi hỏi người tuyên truyền phải quan tâm đến
việc sắp xếp nội dung bài nói và phương pháp diễn đạt sinh động để phát huy hoặc khắc
phục trạng thái tinh thần, tâm lý trên của đối tượng.
Ngoài ra, thời gian nói chuyện dễ bị điều chỉnh, thay đổi theo yêu cầu của người tổ chức.
Ví dụ, khi đến nói hoặc đang nói người tổ chức mới đề nghị cho nghỉ sớm, không nghỉ
giải lai, gắn thêm các công việc của cơ quan Người báo cáo viên cũng cần nắm được
các thông tin này sớm để chủ động điều chỉnh.
2.5 Thu thập, nghiên cứu và xử lý tài liệu
Trong điều kiện bùng nổ thông tin toàn càn hiện nay, bất cứ một lĩnh vực nào cũng có rất
nhiều tài liệu. Vấn đề đặt ra với người tuyên truyền là thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu
thế nào cho hợp lý. Yêu cầu đặt ra là: tài liệu phải phục vụ chủ đề bài nói một cách sát
hợp nhất. Quá trình nghiên cứu tài liệu là quá trình biến tri thức trong tài liệu thành nhận
thức của người tuyên truyền để truyền đạt lại cho người nghe.
a) Chọn tài liệu
Nguồn tài liệu của báo cáo viên, tuyên truyền viên rất phong phú. Trước hết là các sách
kinh điển của Mác, Lênin, Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng, Nhà nước, của Đoàn.
Người làm công tác tuyên truyền miệng phải có kiến thức, lý luận vững chắc và hệ thống
về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, để
trên cơ sở đó đáng giá, phân tích các sự kiện, hiện tượng được đề cập trong bài nói.
- Các loại từ điển, số liệu thống kê chính thức để tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu
cho bài nói.
- Các tạp chí nghiên cứu, báo chí, sách chuyên khảo phù hợp với nội dung tuyên truyền
là nguồn tài liệu rất quan trọng. Qua các tài liệu này có thể thu thập khối lượng lớn kiến
thức có hệ thống cho nội dung bài nói.
- Sổ tay tuyên truyền, sổ tay báo cáo viên là những tài liệu cung cấp nội dung và nghiệp

Đọc, ghi chép và xử lý thông tin, đa thông tin vào "bộ nhớ" trong não của người tuyên
truyền là điều hết sức quan trọng, bởi vì chỉ có liên tục tích luỹ mới có kiến thức rộng và
sâu. Còn sử dụng những thông tin, tư liệu đã có lại là tài năng và nghệ thuật. Nghệ thuật
ấy có được là nhờ vào bản lĩnh, khả năng, vào quá trình tích lũy, rèn luyện của báo cáo
viên. Nó góp phần quan trọng vào thành công của bài nói.
2.6 Xây dựng đề cương bài nói
Đề cương bài nói chính là dàn bài chi tiết thể hiện mục đích, yêu cầu và những nội dung
cơ bản của bài nói, là quá trình sắp xếp trên văn bản để người báo cáo viên căn cứ vào
đó trình bày những vấn đề định nói một cách đầy đủ, theo một trình tự hợp lý, nhằm đạt
hiệu quả cao nhất đồng thời là chương trình hoạt động của bào cáo viên trong một buổi
thuyết trình. Đề cương không được quá sơ sài, không làm rõ những nội dung và lý lẽ cần
trình bày. Nhưng cũng không biến đề cương thành một bài viết sẵn để đọc.
Mỗi đối tượng cụ thể nên có một đề cương bài nói phù hợp.
Cấu trúc đề cương bài nói:
Bài nói thường có 3 phần, mỗi phần có chức năng riêng.
a) Phần mở đầu
Yêu cầu chung của phần mở đầu gồm 3 mục tiêu cụ thể là:
- Giới thiệu và làm quen.
- Thông báo nội dung trình bày.
- Thông báo thời gian và phương thức tiến hành.
Đây là phần nhập đề, là bước tiếp xúc đầu tiên với người nghe, do đó báo cáo viên phải
mở đầu sao cho hấp dẫn, kích thích hứng thú của người nghe và làm rõ chủ đề của bài
nói. Lời mở đầu cần tự nhiên, ngắn gọn.
Để thực hiện yêu cầu trên, có hai cách vào đề là vào đề trực tiếp và vào đề gián tiếp.
Mở đầu trực tiếp là: giới thiệu trực tiếp chủ đề nội dung bài nói. Hình thức này thường
được thực hiện với đối tượng quen, thời gian ngắn. Mở đầu gián tiếp là đưa ra một luận
đề nào đó (gần với chủ đề bài nói) rồi dẫn dắt người nghe đến vấn đề báo cáo viên định
nói. Cách vào đề gián tiếp có tác dụng kích thích và làm tăng dần sự chú ý của người
nghe, nhưng khi thực hiện cần tránh sa đà, lạc nội dung.
Trong bài chuẩn bị, sau khi xác định rõ cách vào đề, cần chuẩn bị nội dung của cách vào

mới; tổng kết những kinh nghiệm hay từ thực tiễn đời sống của nhân dân.
Hai là, phải đáp ứng một cách cao nhất yêu cầu thông tin của một loại công chúng cụ
thể.
Nội dung bài nói do mục đích của công tác giáo dục chính trị tư tưởng và nhu cầu thỏa
mãn thông tin của đối tượng quy định. Nhu cầu của thông tin xuất hiện do nhu cầu của
hoạt động nhận thức (nghe để biết hoặc nghe để biết và để làm). Hoạt động thực tiễn
của công chúng rất đa dạng, nhu cầu thông tin cũng đa dạng. Không thể chọn một nội
dung nói cho nhiều đối tượng khác nhau. Nội dung bao giờ cũng hướng tới một đối
tượng, một nhóm người nghe cụ thể.
Trong trường hợp công chúng chưa xuất hiện nhu cầu thông tin về vấn đề quan trọng
nào đó, mà vấn đề đó lại được đặt ra do yâu cầu giáo dục chính trị tư tưởng thì cần chủ
động hướng dẫn, khơi gợi, kích thích sự quan tâm ở họ. Chỉ khi nào ở người nghe xuất
hiện nhu cầu thông tin, đòi hỏi được đáp ứng thì khi đó ở họ mới có tâm thế, thái độ sẵn
sàng tiếp nhận thông tin, có những hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu đó (tìm tài liệu để
đọc, đến hội trường để nghe nói chuyện và chú ý lắng nghe ).
Việc phân loại đối tượng người nghe, nắm vững nhu cầu thông tin, biết kích thích và
thường xuyên đáp ứng yêu cầu thông tin của đối tượng, vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện
đảm bảo sự thành công của bài nói.
Ba là, bài nói phải mang tính thời sự, tính cấp thiết, phản ánh những vấn đề nóng bỏng
của cuộc sống.
Giá trị và sức lôi cuốn người nghe, ý nghĩa chỉ đạo tư tưởng và hành động của nội dung
bài nói do thời điểm đưa tin, thời điểm tổ chức buổi nói chuyện quyết định. Nếu buổi nói
chuyện được tổ chức đúng thời điểm, thì sức thu hút người nghe càng lớn. Ngược lại
nếu triển khai chậm, thông tin thiếu tính thời sự thì sức hấp dẫn bị hạn chế, hiệu quả
công tác tuyên truyền kém tác dụng.
Để đáp ứng yêu cầu này, một mặt người tuyên truyền phải nắm vững chương trình, kế
hoạch của cơ sở Đoàn mình hoặc của Đoàn cấp trên đề ra; mặt khác, bằng bản lĩnh
chính trị, sự nhạy cảm và tính năng động, sáng tạo, cán bộ tuyên truyền có thể chọn
trong số những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách nhất, những sự kiện lớn, đang thu
hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng, tham mưu cho cấp uỷ làm chủ đề cho các

Sáu là, đề cương bài nói phải thể hiện được cả hai yêu cầu: nêu luận điểm và các thông
tin, tư liệu làm ví dụ chứng minh luận điểm đó. Trong mỗi phần cần nêu lên các luận
điểm (nhận định) chủ yếu. Sau mội luận điểm, nhận định phải đưa ra được một số ví dụ,
số liệu chứng minh cho luận điểm đó. Tuỳ theo khả năng, trí nhớ của báo cáo viên, cần
thể hiện rõ từng luận điểm và các ví dụ chứng minh trong đề cương (trong đề cương
cũng cần dự kiến tình huống có các câu hỏi người nghe đặt ra. Người báo cáo viên phải
chủ động trả lời, đối thoại, tạo nên không khí dân chủ trong tuyên truyền miệng).
c) Phần kết luận
Đây là phần tổng kết bài nói, cũng cố nhận thức người nghe và cổ vũ hành động. Yêu
cầu chung của phần kết luận là: tóm tắt, nhấn mạnh nội dung, cổ vũ hành động, tạo mối
giao lưu, tình cảm giữa người nói và người nghe. Phần này cũng cần ngắn gọn, tránh
dài dòng.
Đề cương bài nói nên viết trên giất một mặt. Chữ viết rõ ràng để có thể đọc những đoạn
khi cần thiết. Viết xong cần đọc, kiểm tra kỹ.
Quá trình chuẩn bị bài nói là quá trình xác định chủ đề, mục đích, yêu cầu bài nói, thu
thập, tích luỹ tài liệu, hình thành đề cương, lựa chọn phương pháp, đồng thời là quá trình
ghi nhớ để sẵn sàng cho bước tiếp theo: trình bày bài nói. Do đó, chuẩn bị tốt là đảm
bảo 50% thành công của bài nói. Phần còn lại phụ thuộc vào phương pháp trình bày.
3. Phương pháp và nghiệp vụ trình bày bài tuyên truyền miệng
Phương pháp tuyên truyền miệng là khoa học về sự giao tiếp trực tiếp giữa người nói và
người nghe. Do vậy, kỹ năng trình bày bài nói có ý nghĩa quyết định đến kết quả nội
dung tuyên truyền miệng của người báo cáo viên, người cán bộ Đoàn
1. Khái niệm, vị trí, vai trò của tuyên truyền miệng trong
tuyên truyền pháp luật
Tuyên truyền miệng là một hình thức tuyên truyền mà người nói trực
tiếp nói với người nghe về một nội dung nào đó nhằm nâng cao nhận thức,
niềm tin, ý thức cho người nghe và kích thích người nghe hành động theo
mục đích của người tuyên truyền.
Như vậy, tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên
truyền mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status