LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài báo cáo thực tập cuối khóa này tôi nhận được sự
giúp đở rất từ nhiều từ phía nhà trường và công ty nơi tôi thực tập. Tôi xin
chân thành cám ơn Trường ĐH Quảng Bình, Thầy cô giáo khoa Nông Lâm-
Thủy sản, Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Yên. Ban giám đốc công ty cổ
phần chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh Bình Định III, cùng toàn thể công
nhân viên của công ty đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt kỳ thực tập
vừa qua. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
1
MỤC LỤC Trang
1. Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 13
2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm thẻ từ PL1-PL10 41
2
DANH SÁCH CÁC BẢNG
3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam với diện tích đất liền 329.297 km
2
, vùng biển rộng hơn 1
triệu km
2
và có bờ biển dài hơn 3.260 km, rất thuận lợi cho việc đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản. Ngành thủy sản nói chung, nghề nuôi tôm ở Việt Nam
nói riêng những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, giải quyết một phần tình
trạng thiếu việc làm, tăng thu nhập cho nhiều hộ nông ngư dân ven biển,
tăng nguồn ngoại tệ lớn thông qua xuất khẩu. Việt Nam đã trở thành một
trong những nước có sản lương nuôi tôm lớn nhất thế giới. Các loài tôm
được nuôi chính ở Việt Nam hiện nay là: Tôm sú (Penaeus monodon), tôm
nương (P. orientalis), tôm thẻ chân trắng (P. vannamei), tôm rằn (P.
semisucatus).
Những năm gần đây tôm thẻ chân trắng đã được sản xuất giống đại trà ở
xã hội của Bình Định, miền Trung và Tây Nguyên, cũng như khu vực
tiểu vùng sông Mê Kông bởi trục đường hành lang Đông- Tây: Quy
Nhơn - Kon Tum - Aptopo - Bắc Xế - Ubon Rat Cha Tha Ni, trục hành
lang này có chiều dài khoảng 770km; mặt khác từ Quy Nhơn lên đường
19 đến Kon Tum và theo đường 14 rẽ về phía Nam đến Stung Ố Treng
(Campuchia).
5
Huyện Phù Mỹ: Là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bình Định. Phú
Mỹ giáp các huyện Hoài Nhơn phía bắc, nam và tây nam giáp Phù Cát, tây
bắc giáp Hoài Ân và biển đông ở phía đông. Theo thống kê năm 2005 thì
huyện Phù Mỹ có diện tích là 548,9km2 với dân số khoảng 188.000 người,
trong đó riêng số nữ chiếm tới 96.700 người. Mật độ dân số là 342 người/
km
2
.
Phù Mỹ cũng như Bình Định trước đây thuộc về nền văn hóa Sa Huỳnh, sau
đó thuộc sứ Việt Thường Thị rồi sau này thuộc về vương quốc Chămpa.
Năm 1471, sau khi đánh phá Chiêm Thành và mở bờ cõi tới núi Thạch Bi
( Phú Yên), vua Lê Thánh Tông đã đặt phủ Phù Ly để cai quản những cư
dân Chiêm Thành còn ở lại và những tù nhân hay dân nghèo miền bắc được
đưa vào. Sau này qua mấy lần nhập tách thì Phù Ly được chia đôi thành Phù
Cát và Phù Mỹ lấy dòng sông La Tinh làm ranh giới. Trong những năm chịu
sự quản lý của chính quyền Sài Gòn nơi đây được gọi là phủ Phù Mỹ. Sau
1975 được đổi thành huyện Phù Mỹ.
Phù Mỹ có 19 đơn vị hành chính cấp xã và 2 thị trấn gồm: thị trấn Phù Mỹ
và Bình Dương, các xã là: Mỹ An, Mỹ Cát, Mỹ Chánh, Mỹ Chánh Tây, Mỹ
Châu, Mỹ Đức, Mỹ Hiệp, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, Mỹ Lợi, Mỹ Phong, Mỹ Quang,
Mỹ Tài, Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Thắng và Mỹ Trinh. Huyện có 2 ga tàu
hỏa thuộc đường sắt bắc — nam là ga Vạn Phú (xã Mỹ Lộc) và ga Phù Mỹ
(thị trấn Phù Mỹ).
o
C và cực tiểu 15,8
o
C. Tổng nhiệt độ năm trong tỉnh (tại
Quy Nhơn) đạt 9.636
o
C vượt tiêu chuẩn 9.500
o
C của khí hậu xích đạo.
- Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm 22,5 - 27,9 % và độ ẩm
tương đối từ 79 - 92 % tại khu vực miền núi; tại vùng duyên hải độ ẩm
tuyệt đối trung bình là 27,9 mb, cực đại 32,7 mb và cực tiểu 20,0 mb. Độ
ẩm tương đối trung bình là 79 % và cực tiểu là 31 %.
- Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng đối
với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ từ tháng 5 - 8 do ảnh
hưởng của mùa mưa Tây Nguyên. Mùa khô kéo dài từ tháng 1 - 8. Đối
với các huyện miền núi tổng lượng mưa trung bình năm từ 2.000 - 2.400
mm. Riêng thung lũng sông Kôn từ 1.600 - 2.000 mm. Vùng có tổng
lượng mưa trung bình năm lớn nhất là huyện An Lão (2.400 - 3.200
mm). Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751
7
mm, cực đại là 2.658mm và cực tiểu là 1.131 mm. Tổng lượng mưa
trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải. Riêng ở
phía Bắc tỉnh có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
- Về bão: Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là
miền thường có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ
Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ
vào. Tần suất xuất hiện bão lớn nhất từ tháng 9 - 11.
Nhìn chung, vị trí địa lý và hoàn cảnh khí hậu trên đây của tỉnh đã chi
phối đến các đặc trưng điều kiện tự nhiên khác cũng như chi phối mạnh
* Kinh tế
Nói tới Phù Mỹ bây giờ là nói đến chuyện phát triển nghề nuôi tôm trên cát.
Quả thật, về Mỹ An và Mỹ Thắng vào những ngày này, trong câu chuyện
của người dân, ta dễ dàng nhận thấy bóng dáng của con tôm. Ông Huỳnh
Văn Nam – Phó chủ tịch UBND huyện Phù Mỹ cho biết: "Bên cạnh 2.000
ha ao đầm đã được khai thác lâu nay, huyện đã hợp đồng nghiên cứu xây
dựng quy hoạch vùng nuôi tôm trên cát để mở rộng khả năng nuôi trồng.
Quy hoạch này do Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện, chính Giáo sư
Tiến sĩ Nguyễn Tác An – Viện trưởng chủ trì. Bản quy hoạch đã được các
cơ quan thẩm định đánh giá rất cao. Tiếp đó hợp phần quy hoạch chi tiết
được các chuyên gia của trường Đại học thủy lợi II thực hiện. Kết quả chúng
tôi đã có một vùng nuôi tôm trên cát rộng 500 ha trong đó diện tích rừng
chắn cát rộng 300ha, diện tích hồ nuôi trồng là 200ha. Huyện đã đầu tư hoàn
chỉnh cơ sở hạ tầng đường giao thông, tiêu thoát nước, kéo điện đến chân
công trình ao hồ. 120ha hồ tôm đầu tiên đã được triển khai xong ở Mỹ An,
9
80 ha còn lại của Mỹ Thắng hiện đang được khẩn trương thực hiện. Khu
nuôi tôm này là điểm nhấn quan trọng để thể hiện năng lực khả năng phát
triển của Phù Mỹ, bởi giá trị kinh tế của con tôm thì ai cũng đã biết rồi!"
Ngoài ra cùng với Tuy Phước, Vân Canh, An Nhơn; Phù Mỹ là huyện có
nguồn đá ốp lát, đá xây dựng thuộc loại phong phú nhất. Chưa có những
cuộc điều tra, khảo sát để đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ tiềm năng,
chủng loại, trữ lượng đá granite của Phù Mỹ (trừ mỏ đá đen tuyền Phù Hà –
Mỹ Hòa được đánh giá sơ bộ có trữ lượng khoảng 4,5 triệu m3) nhưng điều
có thể nói ngay là những loại đá đẹp nhất, có giá trị cao nhất mà thị trường
đang chú ý hầu hết đều có đủ ở huyện này. Có thể kể đến những mỏ đá sắc
xanh ở Mỹ Thành, đá sắc đỏ ở Mỹ Đức, đá sắc trắng, vàng tổ ong, đen tuyền
ở Mỹ Hòa. Cho đến nay trên toàn địa bàn huyện vẫn mới chỉ có 2 đơn vị tổ
chức khai thác đá granite với lượng khai thác hãy còn rất thấp. Một khi quốc
lộ 1A được nâng cấp xong, các cụm công nghiệp được mở rộng, kinh tế phát
Pokphand. Thức ăn gia súc của công ty hiện được tiêu thụ trên thị trường
thông qua hệ thống phân phối : Cấp 1 , cấp 2 và trại trực tiếp .Được phục vụ
và phát triển bởi đội ngũ Bác sĩ thú y, Kỹ sư Chăn Nuôi tốt nghiệp từ các
trường đại học Nông Nghiệp trong nước và nước ngoài theo tiêu chí : Chất
lượng là hàng đầu, không ngừng phát triển công nghệ tiên tiến và quản lý
theo tiêu chuẩn ISO 9001 để vật nuôi được phát triển hoàn toàn tiềm năng di
truyền và nâng cao thành tích sản xuất, an toàn cho con người khi tiêu thụ
vật nuôi ( không có hoocmon tăng trưởng mà bộ Nông nghiệp và phát triển
Nông Thôn nghiêm cấm ), an toàn cho môi trường .
Để hổ trợ cho việc phát triển ngành thức ăn gia súc, giúp ngành chăn
nuôi của Việt Nam phát triển theo hướng nông nghiệp và nâng cao hiệu quả
11
cho các trang trại, Công Ty đã xây dựng : Nhà máy dụng cụ và thiết bị chăn
nuôi tại khu công nghiệp Biên Hòa 2 Tỉnh Đồng Nai, 3 Trại gà giống Bố Mẹ
và 3 Nhà máy Ấp Trứng tại Tỉnh Đồng Nai.
Nhiều trại heo giống ông bà ở các tỉnh : Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình
Dương, Lâm Đồng
Nhà máy thứ 4 đang được khởi công xây dựng và sẽ đi vào hoạt động
tháng 1 năm 2008 tại khu công nghiệp Mỹ Phước với công suất 35.000 tấn
/tháng . Đây là nhà máy có công nghệ sản xuất hiện đại nhất khu vực Đông
Nam Á.
Với đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm của Phòng thu mua, phòng thí
nghiệm, phòng bán hàng, phòng kỷ thuật ….và được sự hổ trợ của các
chuyên gia của tập đoàn C.P trên thế giới . Ngành thức ăn gia súc của công
ty C.P.Việt Nam luôn đứng đầu về chất lượng và doanh số bán hàng trên thị
trường.
Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh Bình Đinh III,
nằm ở thôn Xuân Thạnh xã Mỹ Ăn huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định. Trại
giống được xây dựng với diện tích khoảng 6ha. Đây là mọt trong những trại
sản xuất tôm giống lớn nhất Việt Nam, sản xuất giống dựa trên công nghệ
Tên tiếng Anh : WhiteLeg shrimp
Tên khoa học : Penaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên thường gọi : Tôm bạc Thái Bình Dương, tôm bạc bờ Tây châu Mỹ,
Camaron blanco, Langostino.
Tên của FAO : Camaron patiblanco.
Tên Việt Nam : Tôm Thẻ Chân Trắng
1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Cơ thể chia làm hai phần: đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng
(Abdomen)
13
Phần đầu ngực có 14 đôi phần phụ bao gồm:
+ Chủy tôm gồm có 2 răng cưa ở bụng và 8-9 răng cưa ở lưng.
+ 1 đôi mắt kép có cuống mắt.
+ 2 đôi râu: Anten 1(A1) và Anten 2(A2). A1 ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt,
hai nhánh ngắn. A2 có nhánh ngoài biến thành vẩy râu (Antennal scale),
nhánh trong kéo dài. Hai đôi râu này giữ chức năng khứu giác và giữ thăng
bằng.
+ 3 đôi hàm: đôi hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1 và đôi hàm nhỏ 2.
+ 3 đôi chân hàm (Maxilliped) có chức năng giữ mồi, ăn mồi và hỗ trợ hoạt
động bơi lội của tôm.
+ 5 đôi chân bò hay chân ngực (walking legs), giúp cho tôm bò trên mặt đáy.
Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có thelycum ( cơ quan sinh dục ngoài,
nơi nhận và giữ túi tinh từ con đực chuyển sang).
Phần bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu, mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay
còn gọi là chân bụng ( Pleopds hay Swimming legs). Mỗi chân bụng có một
đốt chung bên trong. Đốt ngoài chia làm hai nhánh: Nhánh trong và nhánh
ngoài, đốt bụng thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân thành
nhánh tạo thành đuôi giúp cho tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy. Ở
tôm đực, hai nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực- là
bộ phận sinh dục bên ngoìa của tôm.
động theo kiểu zic zắc, không định hướng và không liên tục. Chúng chưa ăn
thức ăn ngoài mà dinh dưỡng bằng noãn hoàng dự trữ.
+ Giai đoạn Zoea (Z):
Giai đoạn Z có 3 giai đoạn phụ (Z
1
– Z
3
) thay đổi hẳn về hình thái so
với N. Ấu trùng Z bơi lội nhờ hai đôi râu (đôi 1 phân đốt đôi 2 phân nhánh
kép) và 3 đôi chân hàm phân nhánh. Chúng bơi lội liên tục có định hướng về
phía trước, ấu trùng Z bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Thức ăn chủ yếu là thực
vật nổi với hình thức chủ yếu là ăn lọc. Ở giai đoạn này, ấu trùng ăn mồi liên
tục, ruột luôn đầy thức ăn và thải phân liên tục tạo thành đuôi phân kéo dài ở
15
phía sau- đây là đặc điểm để nhận biết giai đoạn này. Vì vậy khi nuôi ấu
trùng Z, thức ăn cần được cung cấp đạt mật độ thích hợp, đảm bảo cho việc
lọc thức ăn của ấu trùng. Ngoài hình thức ăn lọc, ấu trùng Z vẫn có khả năng
bắt mồi và ăn được các động vật nổi có kích thước nhỏ ( Nauplius của
Artemia, luân trùng ) đặc biệt vào cuối giai đoạn này-Z3. Mỗi giai đoạn
phụ của ấu trùng Z thườnh kéo dài khoảng 30- 40h, trung bình 36h ở nhiệt
độ 28-29°C.
+ Giai đoạn Mysis (M):
Giai đoạn này gồm có 3 giai đoạn phụ ( M
1
- M
3
), ấu trùng M sống
trôi nổi có đặc tính treo ngược mình trong nước, đầu chúc xuống dưới. Ấu
trùng M bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bò.
Ấu trùng M bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi. Tuy nhiên,
thân ngày càng phát triển. Thời kỳ này tương đương với cuối giai đoạn tôm
bột và đầu tôm giống trong sản xuất tức là PL
5
- PL
20
.
Thời kỳ thiếu niên
Tôm bắt đầu ổn định tỷ lệ chân, thelycum và petasma được hình thành
nhưng chưa hoàn chỉnh, hai nhánh của petasma còn tách biệt. Giai đoạn này
tương đương với giai đoạn ương giống và nuôi thịt trong sản xuất. Cuối thời
kỳ ấu niên bắt đầu xuất hiện sự sinh trưởng không đồng đều giữa 2 giới tính-
con cái lớn nhanh hơn con đực.
Thời kỳ sắp trưởng thành
Tôm trưởng thành về mắt sinh dục: cơ quan sinh dục ngoài đã hoàn
thiện, tôm đực bắt đầu có tinh trùng trong túi tinh, tôm cái đã tham gia giao
vỹ lần đầu. Hiện tượng sinh trưởng không đồng đều giữa 2 giới tính thể hiện
rõ rệt hơn trong thời kỳ này.
Thời kỳ trưởng thành
Tôm có khả năng tham gia sinh sản, chúng sống ở vùng xa bờ, nơi có
đodj trong cao và độ mặn ổn định.
b) Vòng đời của Tôm Thẻ Chân Trắng
Ở thời kỳ ấu niên và thiếu niên Tôm Thẻ sống ở vùng cửa sông. Ở
giai đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành, khi tôm có thể tham gia sinh sản
lần đầu thì chúng sống ở vùng triều ở độ sâu khoảng 7- 20m nước. Đối với
những con trưởng thành và sản phẩm sinh dục đã chín hoàn toàn thì chúng
di chuyển ra vùng biển khơi ở độ sâu khoảng 70m nước và tham gia sinh sản
tại đây.
Trứng và ấu trùng Mysis sống và phát triển tại vùng biển khơi theo
dòng nước trôi dạt vào bờ. Khi đến vùng triều thì ấu trùng đã chuyển sang
giai đoạn Postlarvae và tiếp tục theo thủy triều trôi dạt vào vào vùng cửa
chuyển
sang Z
3
tăng 13,7% ( giảm ½ so với từ Z
1
sang Z
2
), Z
3
chuyển sang M
1
tăng
13,2%. M
1
chuyển sang
M
2
và M
2
chuyển sang M
3
tăng >20%. M
3
chuyển
sang P
1
tăng 12,6%. Trong giai đoạn Postlarvae, sự tăng trưởng về chiều dài
không đều, đa số ≤ 10%/ lần lộ xác.
Tỉ lệ chiều rộng và chiều dài cơ thể (R/D) lớn nhất ở giai đoạn
: 32%, từ P
21
trở đi sắp xỉ 30% và hầu như
không thay đổi nữa, đánh dấu sự chuyển sang thời kỳ thiếu niên.
Từ ấu niên đến trưởng thành
Tôm ấu niên tăng trưởng CL 1-2mm/tuần, tương đương với TL
0,8mm/ngày. Trong tuần đầu tôm tăng khối lượng thân gấp 6 lần. Khi vào
trong cửa sông 6-7 tuần, tốc độ tăng trưởng giảm, chỉ còn gấp 2 lần/ 2 tuần.
Khi đạt CL ≈ 10mm, tốc độ tăng trưởng bắt đầu có sự khác biệt giữa hai
giới.
Trong thực tế sản xuất, P
10
có chiều dài thân từ 9- 11mm sau 7- 10
ngày ương đạt cỡ 1-2 cm (TL), sau 15- 20 ngày đạt cỡ 2- 3cm, sau 20- 25
ngày đạt cỡ 3- 5 cm và sau 25- 30 ngày đạt cỡ 4- 6 cm. Nếu thả nuôi trong
ao từ P
15
sau 1 tháng nuôi đạt khoảng 1-2 g/con. Tôm nuôi 4 tháng đạt kích
cỡ thương phẩm, đa sỗ loại 3 (30- 40 con/kg), một số loại 2 (20- 30 con/kg).
Ở những ao nuôi điều kiện tốt (độ mặn 10- 25‰) tôm tăng trưởng nhanh có
thể thu hoạch đạt loại 3, loại 2 sau 2,5 – 3 tháng nuôi.
Tuổi thọ của tôm Thẻ
Tôm Thẻ có tuổi thọ ngắn, tuổi thọ của tôm đực thấp hơn tôm cái.
Trong điều kiện sinh thái tự nhiên, nhiệt độ nước 30- 32°C, độ mặn 20- 40‰
từ tôm bột đến thu hoạch mất 180 ngày, cỡ tôm thu trung bình 40g/con,
chiều dài từ 4cm tăng lên tới 14cm. Tuổi thọ trung bình của Tôm Thẻ > 32
tháng.
c) Sự lột xác
Cơ chế sinh học của quá trình lột xác
Để sinh trưởng được, tôm cũng như tất cả các động vật chân khớp
20
Cũng có tác giả chi sự lột xác làm 5 giai đoạn: A- Ngay sau lột xác, B- Sau
lột xác, C- Giữa lột xác, D- Trước lột xác, E- Lột xác. Theo sự phân chia này
thì giai đoạn D (trước lột xác) là dài nhất. Mỗi giai đoạn được phân chia
thành nhiều giai đoạn phụ, căn cứ trên các biến đổi về hình thái rất chi tiết
và phức tạp.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lột xác
+ Ánh sáng: cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng đều ảnh
hưởng đến quá trình lột xác. Khi han chế thời gian chiếu sáng sẽ ức chế thời
gian lột xác của tôm, ngược lại nếu kéo dài thời gian chiếu sáng hơn bình
thường sẽ rút ngắn thời gian lột xác.
+ Nhiệt độ: nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình lột
xác. Nhiệt độ thấp hơn 14- 18ºC, sự lột xác bị ức chế. Nhiệt độ cao trong
khoảng thích hợp, tôm tăng cường hoạt động trao đổi chất, tích lũy dinh
dưỡng, chuẩn bị đầy đủ cho quá trình lột xác xảy ra.
+ Độ mặn: ở độ mặn thấp trong khoảng thích hợp tôm sẽ tăng cường
lột xác, sinh trưởng nhanh hơn.
+ Các yếu tố, điều kiện môi trường khác: pH, hàm lượng NO
3
-, NO
2
-
,
NH
4
-, độ cứng đều có sự ảnh hưởng đến sự lột xác. Việc bón vôi thường
xuyên ở các ao nuôi ít thay nước sẽ làm tăng độ cứng của nước làm cản trở
sự lột xác xủa tôm.
+ Chu kỳ lột xác có liên quan đến chu kỳ thủy triều, thông thường đầu
chu kỳ thủy triều tôm mới lột xác rộ.
trở đi.
Giai đoạn Mysis
Tôm bắt mồi chủ động. Thức ăn chủ yếu là động vật nổi như luân
trùng, ấu trùng Nauplius Copepoda, Nauplius artemia, ấu trùng động vật
thân mền Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy ấu trung Mysis vẫn có khả
năng ăn được tảo Silic.
Giai đoạn Postlarvae
Tôm bắt mồi chủ động. Thức ăn chủ yếu là động vật nổi như: Artemia,
Copepoda, ấu trùng của giáp xác, ấu trùng của động vật thân mềm, Cần
chú ý ở giai đoạn này, tôm thích ăn mồi sống nên trong sản xuất nếu cho ăn
thiếu N- Artemia, Postlarvae sẽ ăn thịt lẫn nhau.
Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành
22
Từ thời kỳ ấu niên, Tôm Thẻ thể hiện tính ăn của loài (ăn tạp, thiên về
ăn động vật). Thức ăn của tôm là các động vật khác như giáp xác, động vật
thân mềm, giun nhiều tơ, cá nhỏ.
Trong sản xuất giống nhân tạo ấu trùng Tôm Thẻ còn được cho ăn các
loại thức ăn nhân tạo tự chế biến như lòng đỏ trứng, sửa đậu nành, thịt tôm,
thịt hầu và các loại thức ăn nhân tạo sản xuất công nghiệp thường gọi là thức
ăn tổng hợp.
b) Nhu cầu dinh dưỡng của Tôm Thẻ
Protein
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thức ăn của tôm, là
nguyên liệu tạo các mô và các sản phẩm khác trong cơ thể và còn là chất xúc
tác, thực hiện chức năng vận chuyển, bảo vệ…Nhu cầu protein thay đổi tùy
theo giai đoạn phát triển của tôm, Postlarvae yêu cầu tỉ lệ 40% protein trong
thức ăn, cao hơn các giai đoạn sau.
Tôm chân trắng không cần khẩu phần ăn có lượng protein cao như tôm sú.
Theo nghiên cứu của Colvin and Brand (1977) là 30%, Kureshy and Davis
(2002) là 32%. Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích
trưởng, tăng tỉ lệ tử vong.
Vitamin
Vitamin là nhóm chất hữu cơ mà động vật yêu cầu số lượng rất ít so
với các chất dinh dưỡng khác nhưng cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển
bình thường của cơ thể và duy trì cuộc sống của nó, cơ thể động vật có nhu
cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển
bình thường.
24
Nhu cầu vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích cỡ, tuổi, tốc độ sinh trưởng,
điều kiện dinh dưỡng, nhu cầu từng loại vitamin thực tế cho từng loài tôm,
cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều. Vì thế trong thức ăn, lượng
vitamin bổ sung thường vượt qua nhu cầu thực tế của tôm nhằm bù đắp
lượng mất đi do hòa tan trong nước, do phân hủy trong quá trình sản xuất
thức ăn và bảo quản.
Vitamin nhóm B, C và E được cho là cần thiết phải cho vào thức ăn.
Vitamin D, C khi dùng với số lượng nhiều đã cho thấy phản ứng đối kháng,
dẫn đến bệnh thừa vitamin. Trong thành phần các premix vitamin dùng cho
tôm luôn có vitamin A và K.
Chất khoáng
Giống như các động vật thủy sinh khác, tôm có thể hấp thụ và bài tiết
chất khoáng trực tiếp từ môi trường nước thông qua mang và bề mặt cơ thể.
Vì vậy, nhu cầu chất khoáng ở tôm phụ thuộc nhiều vào hàm lượng chất
khoáng có trong môi truờng tôm đang sống.
2.4. Đặc điểm sinh sản
2.4.1. Cơ quan sinh sản
Cơ quan sinh dục đực
Cơ quan sinh dục đực bên trong của Tôm Thẻ gồm một đôi tinh hoàn
và đôi ống dẫn tinh. Đôi tinh hoàn trong suốt không sắc tố, nằm ngoài mặt
lưng từ vùng tim đến gan tụy. Đôi túi tinh đổ ra hai lỗ sinh dục ở gốc đôi
chân bò 5. Túi tinh có chứa tinh trùng sẽ có màu xám nhạt hoặc màu trắng