Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy tập làm văn lớp 4,5 - Pdf 25

Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tập làm
văn lớp 4,5
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY TẬP LÀM VĂN 4-5

Họ và tên: Nguyễn Thị Bình
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị: Trường Tiểu học Phấn Mễ I- Huyện Phú Lương- Tỉnh Thái
Nguyên

PHẦN I: MỔ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp, sáng tạo, thực
hành và thể hiện được đậm nét dấu ấn cá nhân. Nội dung chương
trình tập làm văn của lớp 4,5 hiện nay khá phong phú, học sinh
được học một số loại văn như: Kể chuyện, miêu tả, viết thư và một
số loại văn bản khác( trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạt động, báo cáo
thống kê, thuyết trình tranh luận…).
Dạy tập làm văn lớp 4,5 nhằm tranh bị kiến thức và rèn
luyện các kĩ năng làm văn; góp phần cùng các môn học khác mở
rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô gích, tư duy hìh tượng, bồi
dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học
sinh.
Trong chương trình Tiểu học mới, các bài làm văn gắn với
chủ điểm của đơn vị học. Quá trìnhthực hiện các kĩ năng phân tích
đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng
hiểu biết về cuộc sống theo các củ đề đã học. Việc phân tích dàn
bài, lập dàn ý chia đoạn bài kể chuyện, miêu tả,biên bản,… góp
phần phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học
sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận

môn tập làm văn lớp 4, 5, từ đó đề xuất một số biện pháp giúp học
sinh học tốt hơn phân môn tập làm văn trong trường Tiểu học Phấn
Mễ I.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Phấn Mễ I.
- Nội dung: Xây dựng và triển khai một số biện pháp nhằm dạy
tốt phân môn tập làm văn lớp 4, 5.
- Thời gian: Trong 2 năm học 2007-2008 và 2008-2009.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng của việc giảng dạy và học tập
làm văn lớp 4, 5 qua 2 năm học 2007- 2008; 2008-2009 và nguyên
nhân của thực trạng đó.
- Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân của thực trạng trên,
đề ra một số biện pháp, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy
tập làm văn lớp 4, 5.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc, phân tích các tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy
tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5.
- Phương pháp điều tra chất lượng học tập phân môn tập làm
văn của học sinh lớp 4, 5 trong nhà trường.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học
sinh trên lớp.
- Phương pháp lấy ý kiến của đồng nghiệp, của chuyên gia.
- Phương pháp thực nghiệm. Phương pháp thống kê toán học.
6. Đóng góp mới của đề tài:
- Cung cấp thêm cho học sinh một số vốn từ ngữ theo chủ đề.
- Giúp học sinh nâng cao vốn sống thực tế, biết bộc lộ cảm
xucsuy nghĩ của mình trong bài văn thật tự nhiên, thật sâu sắc.
7. Kế hoạch nghiên cứu:

tuổi. Vì vậy, trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện
và bồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng đứa trẻ còn nhỏ
tuổi. Ở nước ta, từ nhiều năm nay, vấn đề này cũng đã được quan
tâm. Bên cạnh bộ sách giáo khoa môn Tiếng Việt Ở Tiểu học, chúng
ta còn có bộ sách Tiếng Việt nâng cao, những bài văn hay…nhằm
giúp học sinh nâng cao kiến thức tiếng việt, đặc biệt là kĩ năng làm
văn ở bậc Tiểu học. Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện
và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, bồi dưỡng nâng cao chất lượng
dạy làm văn trong môn Tiếng Việt còn có tác dụng thúc đẩy phong
trào thi đua dạy tốt - học tốt. Việc nâng cao chất lượng giảng dạy có
tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên. Để có thể bồi dưỡng học
sinh, người giáo viên luôn phải tự học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để
nâng cao trìng độ chuyên môn và năg lực sư phạm cũng như bồi
dưỡng lòng yêu nghề, tinh thần tận tâm với công việc.
Nhìn chung, nhiều năm nay, nhà trường chúng ta đã chú ý đến
việc nâng cao chất lượng môn học này nhưng chưa tạo cho công
việc này những điều kiện đầy đủ. Trên thực tế việc giải quyết mối
quan hệ giữa giáo dục toàn diện và bồi dưỡg nâng cao chất lượng
cho học sinh còn nhiều lúng túng. Đặ biệt việc bồi dưỡng nâng cao
chất lượng dạy tập làm văn trong môn Tiếng Việt 4, 5 càng gặp nhiều
khó khăn hơn bởi nhiều lý do: Về phía phụ huynh và học sinh, số học
sinh có hứnh thú học tập làm văn ít hơn học môn toán, số lượnh phụ
huynh học sinh có nguyện vọng cho con được bồi dưỡng phân môn
làm văn ít hơn môn toán. Về phía giáo viên, kỹ năng làm văn ( ngôn
ngưữ giao tiép ), khả năng tư duy nghệ thuật còn nhiều hạn chế. Số
giáo viên có kinh nghiệm dạy tập làm văn trong môn Tiếng Việt còn ít.
Thêm nữa, do kiến cơ bản về Tiếng Việt bị hao mòn nhiều, hoặc ít
được rèn luyện kỹ năng này khi còn học ở tại nhà trường nên việc
tiếp thu môn học cũng bị hạn chế. Nhiều học sinh thực sự lúng túng
khi phải bắt tay vào xât dựng dàn ý, viết một đoạn văn bản, ghi ý

người tiếp nhận nội dung ngôn bản lại là một hệ thống mở. Người
mang thông tin cuối cùng trong hoạt động giao tiếp phải là người
nghe, người đọc chứ không phải là bản thân ngôn bản. Bởi thế, việc
xử lí mối quan hệ giữa cách thức tổ chức ngôn ngữ trong ngôn bản
với các nhân tố ngoài ngôn ngữ, mà trước hết đối với đối tượng giao
tiếp là hết sức cần thiết. Điều này đòi hỏi người tạo ngôn bản phải
xác định vai của mình trong hoạt động giao tiếp, phải có những hiểu
biết về thói quen sử dụng ngôn ngữ, hoàn cảnh sống, nhu cầu, hứng
thú về đặc điểm tâm, sinh lý của đối tượng giao tiếp thì mới tao ra
được một ngôn bản tốt. Làm văn là một hoạt độnh giao tiếp; vì vậy,
việc rèn luyện kĩ năng làm văn vừa cần phải đúng qui tắc ngôn ngữ,
hay nói rộng hơn là đúng với những vấn đề kí mã, vừa cần phải đúng
qui tắc giao tiếp…
Để đạt được mục tiêu trên, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng
dạy TLV cho HS lớp 4, 5 cần đặt cho mình những nhiệm vụ sau:
- Bồi dưỡng hứng thú học TLV cho HS.
- Bồi dưỡng vốn sống, bổ sung vốn từ ngữ cần dung ở từng thể
loại giúp các em có một số vốn từ co bản.
- ồi dưỡng kiến thức, kĩ năng làm văn cho HS.
- Bồi dưỡng cảm thụ văn học cho HS.
II. Thực trạng của việc giảng dạy và học tập phân môn TLV lớp 4, 5
của nhà trường.
Nhìn một cách bao quát, việc giảng dạy phân môn TLV lớp 4, 5
hiện nay ở nhà trường chúng tôi đã có một số chuyển biến tích cực
so với khoảng ba, bốn năm trước đây. Trước hết, các qui định, nền
nếp về chuyên môn đã được các giáo viên thực hiện nghiêm túc hơn
với một tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm trong giảnh dạy. Chất lượng
gìơ lên lớp, chất lượng chấm bài, đã có những tiến bộ nhất định.
Việc dạy học theo lối không đúng vơi đặc trưng bộ môn- một trong
những nhược điểm nặng nề đã giảm đi một cách đáng kể. Đặc biệt,

HS than yêu, nhiều GV đã tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng những yêu cầu mới của chương
trình hiện nay.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, so với nhiệm vụ chung của ngành giáo dục,
việc dạy và học phân môn TLV còn nhiều hạn chế, bất cập. Tôi cho
rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật để phân tích một cách thấu đáo
điều này. Bởi lẽ, nó có ý nghĩa về nhiều phương diện, nhất là xác
định những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng dạy và học. Về
GV, thông qua các tiết dự giờ, vẫn còn một số tiết đạt yêu cầu, trong
đó đã có nhiều tiết GV còn co không ít những sai sót về kiến thức cơ
bản và hầu như chưa có ý thức về đổi mới phương pháp dạy. Qua
khảo sát ở một số lớp, cho thấy không ít HS chán học những tiết làm
văn, trước hết vì giờ dạy chưa đạt yêu cầu. Lẽ ra làm văn phải là cơ
hội tốt để các em tiếp xúc được cái hay, cái đẹp của tác phẩm nghệ
thuật ngôn từ, để có thể lớn khôn lên về trí tuệ, đặc biệt là về tâm
hồn tư tưởng, hình thành một nhân cách cao đẹp, thì có khi nó lại bị
biến thành một giờ học hết nhạt nhẽo, khô khan. Các em phải nghe
và ghi nhớ những nhận định sáo mòn, máy móc về văn chương hoặc
phải nghe những lời thuyết giảng khô khan về đạo đức. Không hiếm
những trường hợp, người dạy đã phụ công tìm tòi, sang tạo của tác
giả bằng cách qui tất cả cái hay, cái đẹp muôn hình vạn trạng ở nhiều
tác phẩm thành những nhận định chung chung, nhàm chán, theo lối
“đồng phục hoá bài giảng”, mà những nhận định ấy nhiều khi các em
đã biết kĩ hơn qua các tiết học khác, nhất là các tiết luyện từ và câu,
luyện nói theo chủ đề,…
Cũng còn một số GV trong phần cảm thụ văn học chưa phân biệt
rõ việc phân tích nghệ thuật với việc gọi tên các biện pháp nghệ
thuật; không nhận thức đầy đủ rằng cho dù gọi đúng tên các biện
pháp nghệ thuật, thì việc ấy cũng chẳng có giá trị gì đáng kể, một khi

những bài mẫu. Việc đổi mớiphương pháp giảng dạy tuy đã được
phát động từ rất nhiều năm nay, nhưng về căn bản một số GV vẫn
dạy theo phương pháp cũ. Đây là một khó khăn không nhỏ trong quá
trình nâng cao chất lượng giảng dạy. Hơn nữa, số HS say mê học
phân môn TLV tuy có tăng như đã nêu ở trên nhưng chưa nhiều,
chat lượng học phần TLV ở một số bộ phận HS vẫn còn nhiều hạn
chế. Phần đông vẫn chưa có thói quen chuẩn bị bài chu đáo trước
khi đến lớp, thâm chí khi cần thiết chỉ chép lại bài của bạn. Trừ
những HS khá giỏi, hầu như các em không để ý gì đến những phần
đọc thêm trong SGK. Năng lực cảm thụ văn bản cũng như những kĩ
năng phân tích đề, làm bài văn,… đề còn nhiều hạn chế. Không ít HS
tỏ ra thờ ơ, ít có nhu cầu được tự than bộc lộ cảm nhận của mình
qua một tiết học hay một bài làm. Ngay trong số những HS giỏi cũng
ít thấy sự sang tạo nổi bật. Vấn đề đặt ra ở đây không phải chỉ là
đánh giá những bài làm văn khá hay kém, việc khinh hay trọng đối
với một môn học, mà điều đáng nói hơn là chứng tỏ chất lượng dạy
và học phân môn TLV rõ rang còn nhiều bất cập. Qua việc dự giờ, tôi
nhận thấy rằng, việc giảng dạy và học tập phân môn TLV còn có
những vấn đề sau:
- Các tiết học thường kéo dài quá thời gian qui định.
- Nhiều HS còn mơ hồ về loại văn miêu tả.
- Kĩ năng làm văn của các em còn hạn chế như: chưa biết quan
sát, miêu tảcòn chung chung chưa thể hiện được đặc điểm nổi bật
của từng chủ đề mình định tả; chưa biết sử dụng những từ gợi tả và
các thủ pháp nghệ thuật trong bài văn; chưa biết thể hiện cảm xúc
của mình khi miêu tả.
- Vốn từ ngữ của các em còn nghèo…
Thực trạng này đòi hỏi nhà trường cần có những biện pháp đồng
bộ để nâng cao chất lượng dạy TLV, mà trước hết nhà trường phải
khắc phục những hạn chế đã nêu trên.

tham quan thực tế của HS. Khi HS tham quan hoặc quan sát, GV
nên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồn cảm hứng, khơi dạy suy
nghĩ trong các em. Sauk hi các em đã quan sát, làm quen với đối
tượng rồi thì cần phải viết những bài cụ thể về những gì đã quan sát
được, những gì đã được tham quan.
Hoặc như với đề bài “Hãy quan sát kĩ chiếc cặp sách của em hoặc
của bạn emvà viết một đoạn văn miêu tả hình dáng bên ngoài chiếc
cặp đó” (TLV.4), GV có thể giữ nguyên nội dung này nhưnh xác định
mục đích tả khác nhau, chẳng hạn như: tả để các bạn thấy mình biết
giữ gìn chiếc cặp cẩn thận như thế nào, hoặc tả để các bạn hiểu mình
đã có lúc mắc sai lầm không biết giữ gìn chiếc cặp đó ra sao, thì chắc
chắn bài viết của các em sẽ sinh động hơn và gần giũ với cuộc sống
đời thường hơn. Những bài văn không phải chỉ bị chi phối bởi đích
giao tiếp mà còn bị chi phối bởi đối tượng giao tiếp. Trong đời sống
thường ngày, HS phải tiếp xúc với nhiều người khác nhau và trong
từng trường hợp cụ thể ấy các em cũng sẽ giữ những “vai” khác
nhau. Chính “vai” giao tiếp này buộc các em trau dồi thêm vốn sống
lựa chọn chi tiết để nói, chọn nhôn từ để thể hiện.
1.2.Bồi dưỡng cảm thụ văn học:
Cảm thụ văn học là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mĩ
rất đặc biệt, phức tạp và có tính sang tạo. Quá trình cảm thụ văn học
là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới ngôn
từ hệ thống hoá tín hiệu thứ hai của loài người. Quá trình này còn
mang tính chất chủ quan vì nó phụ thuộc vào vốn sống, vốn kinh
nghiệm, hiểu biết riêng của người cảm thụ văn học. Hiểu một cách
đơn giản, cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật,
những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác
phẩm( cuốn truyện, bài văn, bài thơ,…) hay một bộ phận cảu tác
phẩm(đoạn văn, đoạn thơ, thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu
văn, câu thơ). Cảm thụ văn học phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống

rất hay của nhà văn Nguyễn Phan Hách: “ Thoắt cái, lác đác lá vàng
rơi trong khoảnh khắc mùa thu. Thoắt cái, trắng long lanh một cơn
mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận. Thoắt cái, gió xuân hây hẩy
nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý”.
Nếu thiếu đi những trạng ngữ gây ấn tượng về thời gian( thoắt
cái),không dung cách đảo bổ ngữ( lác đác), đảo vị ngữ( trắng long
lanh) thì những câu văn trên sẽ không thể làm cho người đọc cảm
nhận được vẻ đẹp nên thơ, huyền ảo của thắng cảnh Sa Pa.
Ngoài những kiến thức về ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp, qua các
giờ tập đọc, kể chuyện, TLV ở lớp 4, 5 người GV cần cho HS làm
quen và cảm nhận bước đầu về một số khái niệm như: hình ảnh, chi
tiết, bố cục…khi tìm hiểu một văn bản trên lớp, để tìm hiểu nội dung,
ý nghĩa của bài văn, bài thơ, cảm thụ văn học tốt hơn GV cần hướng
dẫn về một số biện pháp nghệ thuật tu từ thuộc yêu cầu chương
trình lớp 4, 5 như: so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, đảo ngữ…Để làm
được bài văn về cảm thụ văn học đạt kết quả tốt GV cần hướng dẫn
HS thực hiện những việc sau:
- Đọc kỹ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập( phải trả lời được điều
gì? Cần nêu bật được ý gì? )
- Đọc và tìm hiểu về câu thơ, câu văn hoậc đoạn trích được nêu
trong đề bài.
- Viết đoạn văn về cảm thụ văn học hướng vào yêu cầu của đề bài.
- Nắm vững yêu cầu về cảm thụ văn học, kiên trì rèn luyện từng bước,
nhất định cácem sẽ viết được những đoạn văn hay về cảm thụ văn
học, sẽ có đượcnăng lực cảm thụ văn học tốt để phát hiện biết bao
điều đáng quý trong văn học và trong cuộc sống của chúng ta.
1.3. Cung cấp thêm một số vốn từ ngữ theo chủ đề:
Chương trình Tiếng Việt có các phân môn Tập đọc, Chính tả,
Luyện từ và câu, TLV làm cơ sở để các em học tốt phân môn TLV. Tuy
nhiên nội dung SGK Tiếng Việt thường không đáp ứng được. Đối

- Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đắm, đắm đuối, dáo dác, trìu mến, mơ
màng, chòng chọc, chăm chú, ngơ ngác, hằn học,…
TẢ TÍNH TÌNH:
- Diễn tả tính cách: Nóng nảy, khoác lác, ba hoa, nham hiểm, xảo
quyệt, tham lam, ích kỉ, ưa giễu cợt, cau có, gắt gỏng, hấp tấp, khắt
khe, láu táu, ít nói, nhã nhặn, bạo dạn, vị tha, hời hợt,lười nhác, lì lợm,
trầm tính, đứng đắn, thật thà, ôn hoà, hiền hậu, vui vẻ, nhút nhát,
nghiêm nghị, dè dặt, siêng năng, thận trọng, lỗ mãng,…
- Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hả hê, thoả thích,
sảng khoái, khoái chí, vui nhộn, vui đáo để, vui mừng, đắc chí,…
1.4.Khai thác sự chủ động sang tạo, suy nghĩ tìm ý trêncơ sở qan sát,
liên tưởng hoặc hồi tưởng bằng hệ thống câu hỏi mở:
Ví dụ 1: Tả quang cảnh trường em trước buổi học(Đề bài TLV 5).
Một số câu hỏi khai thác ý đòi hỏi sự quan sát:
- Tả khu vực sân trường: Sân trường rộng hay hẹp? Cây cối trồng trên
sân đã cao lớn chưa? Có tán toả bong mát cho các em trong giờ chơi
chưa hay chỉ là khu đât nắng chói chang?
- Tả bồn hoa: Bồn hoa được trồng ở trước các lớp học với nhiều loài
hoa màu sắc rực rỡ, nhiều cây xanh hay chỉ toàn những câycỏ dại?
- Tả bảng tin: Bảng tin thường xuyên có những thông tin mới hay
thường ngày chỉ là một mặt gỗ sơn đen phẳng lì, im lìm?
Ví dụ 2: Kể chuyện về một ước mơ đẹp của em hoặc một
chuyện mà em biết về ước mơ đẹp của bạn bè người than(Đề TLV 4).
Câu hỏi gợi ý:
- Em( hoặc bạn bè , người thân) có một ước mơ dẹp. Em kể lại cau
chuyện để giải thích điều gì đã làm nảy sinh ước mơ đẹp đó?
- Em( hoặc bạn bè, người than ) đang cố gắng để đạt được ước mơ
đẹp đây đó như thế nào?
- Em( hoậc bạn bè, người than) đã vượt qua những khó khăn gì để đạt
được ước mơ đẹp đó?

bày ý kiến của em nhằm thuyết phục mọi người thấy rõ sự cần thiết của
cả trăng và đèn trong bài ca dao sau:
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đèn ra trước gió còn chăng, hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?
Sau khi tìm ý, sắp xếp ý theo một trình tự hợp lí để thuyết trình
về vấn đề nêu ra trong đề bài, HS có thể chọn từ, tạo câu để triể khai
các ý cần nói thành một đoạn văn và lien kết cácđoạn thành bài thuyết
trình ngắn như sau:
Theo em trong cuộc sống, cả đèn lẫn trăng đều rất cần thiết đối
với con người. Nếu chỉ có đèn mà không có trăng thì khi đèn bị gió thổi
tắt, trái đất sẽ tối tăm, con người khó làm việc được, cuộc sống rất
buồn tẻ. Nếu chỉ có trăng mà không có đèn thì nhiều khi trên trái đất sẽ
rất tối vì trăng chỉ sang một số ngày trong tháng và có lúc trăng bị mây
che khuất…Trăng toả sang trên trái đất làm cho mọi vật thêm tươi đẹp,
cuộc sống thêm vui. Đèn gần gũi, soi sang cho con người học tập, làm
việc và cũng làm cho cuộc sống thêm đẹp. Do vậy, cả trăng và đèn
đều cần thiết đối với cuộc sống con người.
- Lắng nghe ý kiến đóng góp của bạn bè, cô giáo, thầy giáo để tự kiểm
tra, đối chiếu văn bản nói của bản than với mục đích giao tiếp và yêu
cầu diiễn đạt; biết sửa lỗi về nội dung, hình thức diễn đạt.
Quan tâm rèn luyện kĩ năng nói cho HS theo những yêu cầu
trên, GV vừa giúp các em nâng cao năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ,
phát triển tư duy, vừa tạo điều kiện cho kĩ năng viết phát triển tốt.
*Rèn luyện kĩ năng viết:
Dựa vào yêu cầu bài tập( hay đề bài) để viết một đoạn văn( hay
bài văn), HS có thời gian suy nghĩ, tìm cách diễn đạt( dùng từ, đặt câu,
sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá,…) thuận lợi hơn làm văn
nói. Tuy nhiên, HS cũng cần đạt được những yêu cầu rèn luyện về kĩ

+ Tả cảnh thường dụng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, đặc
điểm, ; có thể so sánh, nhân hoá làm cho cảnh vật được miêu tả thêm
sinh động; cần bộc lộ cảm xúc trước sự vật được miêu tả trong cảnh.
+ Tả người thường dung nhiều từ ngữ gợi tả hình dáng, màu
sắc, âm thanh; từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm, trạng thái của người;
có thể sử dụng biện pháp lien tưởng, so sánh để miêu tả cho sinh
động và bộc lộ mối quan hệ tình cảm với người được tả.
2. Kết quả:
Thông qua việc thăm lớp dự giờ thườnh xuyên, quan sát
trược tiếp hoạt động dạy và học trên lớp cho thấy kết học phân môn
TLV lớp 4,5 được thể hiện ở chỗ:
- Các em nói, viết được những đoạn văn, bài văn đúng với yêu cầu
của chương trình.
- Các em say mê, ham thích đọc và nghe các tác phẩm văn học, mong
muốn học cách diiễn đạt chuẩn mực, tinh tế các tác phẩm văn học vận
dụng vào việc bày tỏ ý nghĩ và tình cảm của mình trong bài văn thật
tự nhiên và sâu sắc.
- Qua các bài làm văn, cácem đã bộc lộ được vốn sống thực tế của
mình để viết được bài văn hay, từ đó tạo điều kiện cho các em cảm
nhận được vể đẹp của thơ văn một cách tinh tế và sâu sắc.
Sau một năm học chỉ đạo GV lớp 4, 5 thực hiện một số biện
pháp dạy học TLV nêu ở trên, tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy môn
Tiếng Việt nói chung, phân môn TLV nói riêng của nhà trường đã có
một số tiến bộ rõ rệt. Bảng dưới đây là kết quả xếp loại học lực môn
Tiếng Việt năm học 2008- 2009 của HS lớp 4, 5:

Lớp TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
4 68 27 39,7 31 45,6 10 14,7 o 0
5 68 25 36,8 40 58,8 3 4,4 0 0

thức diễn đạt sinh động, sang tạo của tác giả.
- Rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học là một trong những nhiệm vụ cần
thiết đối với HS lớp 4, 5. Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các em sẽ
cảm nhận được nhiều nét đẹp của văn thơ, được phong phú thêm về
tâm hồn, nói- viết tiếng việt thêm trong sang, sinh động. Những điều
nói trên cho thấy: Các em tuy còn ít tuổi nhưng đều có thể rèn luyện,
trau đồi để từng từng bước nâng cao trình độ làm văn, giúp cho việc
học tập môn Tiếng Việt ngày càng tốt hơn và trở thành HS giỏi.


tốt. Nhưng không phải chỉ khuyến khích HS đọc các bài văn, bài tập
đọc, bài thơ trong SGK mà phải đọc rất nhiều, đọc gấp mấy mươi lần
những bài, những điều thầy cô giảng dạy ở lớp. Nhưng đọc để làm gì?
để cuối cùng đạt được yêu cầu của việc thực hiện mục tiêu môn học.
- Phải suy nghĩ, phải tìm tòi, sang tạo để có cách giảng dạy phân
môn TLV tốt nhất.
Chúng ta phải xem lại cách dạy TLV trong nhà trường của ta,
không nên dạy theo kiểu “ Hướng trung tâm vào giáo viên”, bởi vì dạy
theo kiểu này thì không những không phát huy được tính tích cực chủ
động của HS mà quá trình giảng dạy không đạt hiệu quả cao nhất. Vì
vậy, chúng ta cần có cách dạy khác, phải dạy cho HS biết suy nghĩ,
suy nghĩ bằng trí óc của mình và diễn đạt sự suy nghĩ đó theo cách
của mình thế nào cho tốt nhất. Ngày nay sự hiểu bíêt của con người
luôn đổi mới. Cho nên, dù học được trong nhà trường bao nhiêu
chăng nữa cũng chỉ là rất có hạn. Thế thì cái gì là quan trọng? Cái
quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ,
phương pháp học tập, phương pháp vận dụng kiến thức, phương
pháp vận dụng tốt bộ óc của mình. Bởi vì bộ óc của con người co thể
phát huy được tất cả cái hay, cái mới và phát huy mãi mãi. Chúng ta
phải làm thế nào, bằng giáo dục, qua giáo dục mà rèn luyện cho HS có
bộ óc để suy nghĩ, để tiếp thu cái gì có giá trị, sau đó tự học và vận
dụng sang tạo. Phải làm sao cho mỗi môn học đều đóng góp vào việc
đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người dũng cảm, thong minh, sang
tạo. Phải làm cho bất cứ môn học nào không chỉ dừng lại ở môn Tiếng
Việt cũng đề là công cụ để dạy những cái đúng, cái hay, cái đẹp rất
cần thiiết đối với trẻ em. Lứa tuổi HS Tiểu học là rất nhạy cảm, thong
minh lạ lung lắm. Phải làm thế nào qua giáo dục, trong vòng mấy năm
đó, đào tạo cho HS của chúng ta có một trình độ về cả mọi mặt: đức,
trí, thể, mĩ;có đủ các kĩ năng: Nghe, đọc, nói, viết. Đó là cái nền tảng
cho các em tiến lên, đó cũng là cái vốn quí để xây dựng đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status