Đánh giá sự phát triển Du lịch quốc tế của Việt Nam và các giải pháp đẩy mạnh du lịch quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới - Pdf 25

1

LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Đối với khách du lịch ba-lô,
những người du lịch khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu chiến
binh Mỹ và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông Nam
Á. Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km và tại
và các thành phố lớn đang gia tăng nhanh chóng. Dịch vụ du lịch ngày càng đa
dạng. Công ty lữ hành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch tham quan
các bản làng dân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và du
lịch ra nước ngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng
giềng Campuchia, Lào và Thái Lan. Ngoài ra, nhờ vào việc nới lỏng các quy định
về đi lại, xuất cảnh, khách du lịch nước ngoài đã có thể đi lại tự do trong nước từ
năm 1997. Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh
tế dịch vụ. Hơn một phần ba của tổng sản phẩm trong nướcđược tạo ra bởi các dịch
vụ, trong đó bao gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp và giao thông vận tải. Nhà
sản xuất và xây dựng (28 %) nông nghiệp, và thuỷ sản (20 %) và khai thác mỏ
(10 %). Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thời
điểm 2007). Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du
lịch. Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu
hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn. Với tiềm
năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định
hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch
Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được, từ năm 2011, "Chiến lược
phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được thủ
tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 để tiếp nối. Tuy nhiên, cũng
có nhiều ý kiến cho rằng, trong thực tiễn còn cần làm rất nhiều để ngành du lịch
thật sự trở thành "mũi nhọn" và từ có "tiềm năng" trở thành có "khả năng". Với
mong muốn tìm hiểu nhiều hơn về ngành du lịch, một nhánh nhóm nganh dịch vụ
đầy tiềm năng Việt Nam, cũng nhưng phác họa vài nét cơ bản về lĩnh vực du lich
của Việt nam trong năm năm trở lai đây, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá sự


3

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm du lịch:
Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ
biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có
Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du
lịch vẫn chưa thống nhất. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi
góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau.
Đúng như một chuyên gia du lịch nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả
nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.
Ở nước Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi
(Tour round the world-cuộc đi vòng quanh thế giới; to go for tour round the town-
cuộc dạo quanh thành phố; tour of inspection- cuộc kinh lý kiểm tra, …). Tiếng
Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ Le Tour có nghĩa là cuộc dạo chơi, dã ngoại, … Theo
nhà sử học Trần Quốc Vượng, Du lịch được hiểu như sau: Du có nghĩa là đi chơi,
Lịch là lịch lãm, từng trải, hiểu biết, như vây du lịch được hiểu là việc đi chơi nhằm
tăng thêm kiến thức.
Như vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch
hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội.
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của
các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm
phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá
nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
- Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng
thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch

ngày 20/02/1999): Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định.
Du lịch là đi du lịch để vui chơi, giải trí hoặc nhằm mục đích kinh doanh; là
việc thực hiện chuyến đi khỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, có thể lưu trú qua đêm và có
5

sự trở về. Mục đích của chuyến đi là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác,
hội nghị khách hàng hay du lịch khen thưởng, hoặc nhằm mục đích kinh doanh.
Các Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa khách du lịch như những người "đi du
lịch đến và ở lại ở những nơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn
24 giờ và không quá một năm liên tiếp cho giải trí, kinh doanh và các mục đích
khác không liên đến những nhân viên hướng dẫn viên du lịch của tổ chức thực hiện
việc du lịch đó."
1.2. Khái niệm Tài nguyên du lịch:
1.2.1. Định nghĩa tài nguyên du lịch:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tài nguyên du lịch. Có tác giả cho
rằng: Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành
phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trì lực của con người,
khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho
nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch Tuy nhiên định
nghĩa này chưa phản ánh được bản chất của tài nguyên du lịch. Nguyễn Minh Tuệ
và một số học giả cho rằng tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, kinh tế, văn hóa
được sử dụng để phục hồi sức khỏe cho con người. Trên cơ sở này cho rằng địa
hình, thủy văn, khí hậu, thế giới động vật, di tích, lễ hội…là những tài nguyên du
lịch. Thế nhưng rõ ra không phải trong bất cứ mọi dạng, mọi kiểu địa hình, không
phải bất cứ kiểu khì hậu nào cũng đếu có khả năng thu hút khách du lịch. Hay nói
cách khác, khóng phải tất cả chúng đều có thể được khai thác cho kinh doanh du
lịch, đôi khi có những kiểu địa hình, khí hậu, thủy văn lại là những điều kiện bất
lợi, cản trở việc thu hút khách. Như vậy, tài nguyên du lịch phải là những giá trị

mà du khách được hưởng thụ trong suốt chuyến đi sản phẩm du lịch, là kết quả của
dịch vụ, dịch vụ bổ sung và dịch vụ đặc trưng.
- Giá trị của tài nguyên du lịch phụ thuộc vào yếu tố chủ quan Giá trị của
tài nguyên du lịch khóng chỉ phụ thuộc vào giá trị tự thân mà còn phụ thuộc vào
các nhà cung ứng và du khách. Về phần mính giá trị tự thân phụ thuộc vào độ lớn,
sự phong phú, sự đa dạng, độc đáo và sự tương phản…một di tìch cñ nhiều cóng
trính, một khu rừng cñ nhiều tầng, nột địa hính cñ nhiều núi non tạo nên sự đa
7

dạng, phong phú. Một cóng trính đương đại đặc sắc, một lễ hội truyền thống, một
trò chơi dân gian độc đáo…cñ sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách.
1.2.3. Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng để tạo nên sản phẩm du lịch. Quyết
định tới loại hình du lịch. Tài nguyên du lịch được chia thành hai loại:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Tuệ cùng các tác
giả trong cuốn địa lý du lịch:" Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện
tượng trong mói trường tự nhiên bao quanh chúng ta" Theo thạc sĩ Bùi Thị Hải Yến
trong đề tài Tài nguyên du lịch Bắc Ninh với sự phát triển du lịch bền vững:" Tài
nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các tổng thể tự nhiên trực tiếp hoặc
gián tiếp khai thác sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đìch phát
triển du lịch" Các tài nguyên du lịch tự nhiên luón gắn liền với các điều kiện tự
nhiên, điều kiện lịch sử, văn hña, kinh tế, xã hội, nñ thường được khai thác đồng
thời với tài nguyên du lịch nhân văn. Gồm:
+ Tài nguyên địa hình
+ Tài nguyên khí hậu
+ Tài nguyên nước
+Tài nguyên sinh vật
1.2.4. Ý nghĩa và vai trò của tài nguyên du lịch
- Ý nghĩa: Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự
phát triển của du lịch.

đi du lịch trừ những người đi với mục đích học tập, làm việc hay sinh lợi”. Trong
cuốn “Nhập món khoa học du lịch” của Trần Đức Thanh viết “Khách du lịch là
người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi
một cách tạm thời nhằm mục đìch phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ
về thế giới xung quanh, có thể sử dụng dịch vụ du lịch”. Trong cuốn “Kinh tế du
lịch” của nhà xuất bản Kinh tế quốc dân năm 2005 đã nói “Khách du lịch là những
người đi du lịch với mục đích tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng với việc
sử dụng các cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch. Nơi đến của họ cách xa so với cư trú
thường xuyên” (nơi cư trú thường xuyên được hiểu là nơi họ ở với thời gian là trên
một năm)
1.3.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thu hút khách
9

Du lịch là một ngành “công nghiệp không khói” đem lại nhiều lợi ích to lớn
cho mỗi quốc gia nói chung và cho khu du lịch, điểm du lịch nói riêng. Khu du
lịch, điểm du lịch muốn phát triển thì điều cần thiết và quan trọng hàng đầu là phải
thu hút khách đến tham quan, tìm hiểu và sử dụng các dịch vụ du lịch tại đó. Tài
nguyên du lịch của khu du lịch, điểm du lịch chỉ có thể được khai thác triệt để và
phát huy hết tiềm năng vẻ đẹp vốn có của nó khi nhờ đến hệ thống cơ sở vật chất,
cơ sở hạ tầng, chình sách phát triển đầu tư du lịch của nhà nước, chính quyền địa
phương. Nhưng vẻ đẹp và giá trị của tài nguyên sẽ bị lụi tàn, rơi vào quên lãng nếu
như không được du khách biết tới. Do đó vấn đề thu hút khách đến khu du lịch,
điểm du lịch không những là vận đề của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch mà
còn là vấn đề đặt ra cho ngành du lịch nói chung
1.3.2.1 Nhân tố khách quan:
- Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hính thành các
sản phẩm du lịch. Để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch thì sản phẩm du lịch phải
đa dạng, đặc sắc, phong phú, mới mẻ. Chính sự phong phú của tài nguyên du lịch
đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch càng
độc đáo, hấp dẫn thí giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách du lịch ngày

- Điều kiện an ninh chình trị và an toàn xã hội: An ninh chính trị là tình hình
xung đột hay ổn định ; hoà bình hay chiến tranh…Tất cả những tình hình chính trị
đều có những tác động tích cực hoạt tiêu cực đến quyết định du lịch đến một quốc
gia của du khách. Vì vậy an ninh chình trị là điều kiện rất quan trong đối với sự
phát triển của ngành du lịch đồng thời ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách du
lịch. An toàn xã hội là đề cập đến vấn đề thiên tai, bệnh dịch, tác động xấu đến du
lịch, cản trở hoạt động du lịch. Như vậy, mỗi khu du lịch, điểm du lịch hay vùng du
lịch muốn thu hút khách du lịch phải đảm bảo được an ninh chình trị và an toàn xã
hội.
- Điều kiện kinh tế: Điều kiện kinh tế của một quốc gia đóng vai trò quan
trọng đối với nguồn vốn đầu tư cho du lịch của một quốc gia, từ đó mới có thể tạo
ra những hoạt động du lịch thu hút các lượt khách du lịch vào trong nước.
11

- Ý thức cộng đồng dân cư địa phương: Ý thức cộng đồng dân cư địa
phưong là một nhân tố quan trọng góp phần tăng khả năng thu hút khách đến địa
phương. Việc bảo vệ mói trường, tôn tạo tài nguyên và giữ gìn bản sắc văn hoá
truyền thống của phong tục tập quán tại các khu du lịch không chỉ là trách nhiệm
của chình quyền địa phương mà còn là trách nhiệm của dân cư, những người trực
tiếp tiếp xúc và quảng bá vẻ đẹp, giá trị của tài nguyên du lịch tới khách tham quan.
Thông qua đó giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc của người
dân.
1.3.2.2 Các nhân tố chủ quan
- Cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng: Đây là nhân tố tương đối quan trọng có ảnh
hưởng lớn đến khả năng thu hút khách du lịch. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và
cơ sở hạ tầng là một trong nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của
du lịch trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định
mức độ khai thác các tiềm năng du lịch, nhằm thoả mãn nhu cầu khách du lịch. Cơ
sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng đồng bộ, có chất lượng tốt, khả năng đáp ứng
được nhu cầu du lịch cao sẽ thu hút được đông đảo khách du lịch đến tham quan,

quyền địa phương đối với sự phát triển của du lịch thông qua các chình sách, cơ
chế. Muốn phát triển du lịch thì nhà nước, chính quyền địa phương phải có những
chính sách, cơ chế tạo điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển. Du lịch phát triển, khả
năng lói cuốn, hấp dẫn, thu hút khách du lịch đến khu du lịch, điểm du lịch tăng
cao.
Như vậy, một điểm du lịch muốn hấp dẫn khách du lịch ngoài những tiềm
năng vốn cñ của nó thì những nhân tố do chủ quan do sự tác động của con người
cũng có những ảnh huởng nhất định đối với khả năng thu hút khách du lịch. Từ
những tiêu chì, những vấn đề được phân tích ở trên ta sẽ đánh giá được thực trạng
hoạt động khai thác du lịch ở một điểm đến du lịch, rút ra những thuận lợi và hạn
chế cần khắc phục.

13

CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
2. 1 Phân tích thực trạng du lịch Việt Nam trong việc thu hút du khách quốc tế
2.1.1 Tình hình du khách quốc tế đến Việt Nam du lịch trong thời gian qua
Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2009-2013 có tăng lên liên
tục qua các năm, nguyên nhân họ đến Việt Nam là để du lịch, công việc, đi thăm
thân nhân hoặc các mục đích khác. Tuy nhiên, du khách quốc tế đến với Việt Nam
cũng xem như đã sử dụng các dịch vụ du lịch vì cũng sử dụng các dịch vụ ăn uống,
đi lại, nghỉ ngơi tại Việt Nam.Trong tất cả các mục đích trên thì mục đích chiếm tỷ
trọng cao nhất khi khách quốc tế đến với Việt Nam là để du lịch nghỉ ngơi, con số
này luôn chiếm tỷ trọng trên 59% từ năm 2009 đến nay. Khách quốc tế đến với
Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013 tăng trưởng 11% năm 2013 so với năm 2012,
con số này lần lượt là 34%, 19% và 14 % trong các năm 2010, 2011 và 2012 so với

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích du lịch
Đơn vị: %

Nguồn từ Tổng cục thống kê
Như vậy trong những năm gần đây khách quốc tế đến Việt Nam với mục
đích du lịch chiếm tỷ trọng từ 59% đến mức cao nhất là 61.59% (vào năm 2010), từ
con số này ta có thể thấy rằng, việc phát triển khách du lịch trong tổng số người
đến với Việt Nam là còn thấp, và còn nhiều tiềm năng để Viêt Nam khai thác thêm
trong tổng các mục đích nêu trên. Bởi vì khi đến với mục đích du lịch thì việc chi
tiêu của du khách thường thoải mái hơn, đảm bảo mang lại lợi ích cho các dịch vụ
du lịch trong nước.
Cũng theo thống kê, con số khách qốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng
không cũng tăng qua các năm, cụ thể như sau: 34,2% (2010), 23,9% (2011),
10,82% (2012), 7,2% (2013), riêng năm 2010 các năm còn lại số hành khách sử
dụng dịch vụ đường hàng không tăng trưởng thấp hơn tỷ lệ gia tăng hành khách
đến Việt Nam. Chứng tỏ lượng khách đi bằng đường biển và đường bộ tăng lên, mà
cụ thể là cá hành khách đến từ Trung Quốc sang, đối với lượng khách này thì khả
năng khai thác du lịch, dịch vụ không nhiều. Đặc biêt từ khi mối quan hệ Trung
Quốc và Việt Nam căng thẳng trong quý 2/2014, lượng khách Trung Quốc sang
0.59
0.62
0.61
0.61
0.61
0.58
0.58
0.59

1
Trung Quốc

527,610
13.99

905,360
17.93

1,416,804
23.56
1,428,693
20.86

1,907,794
25.19
2
Mỹ

403,930
10.71

430,993
8.53

439,872
7.31
443,826
6.48


8.42

604,050
7.98
5
Đài Loan

271,643
7.20

334,007
6.61

361,051
6.00
409,385
5.98

398,990
5.27
6
Úc

218,461
5.79

278,155
5.51

289,762


233,132
3.88
299,041
4.37

339,510
4.48
9
Thái Lan

152,633
4.05

222,839
4.41

181,820
3.02
225,866
3.30

268,968
3.55
10
Campuchia

213,567
5.66


khi bị ảnh hưởng bởi tình hình chính trị thì việc số lượng khách quốc tế đến Việt
Nam sẽ bị giảm sút trong thời gian này. Chính vì vậy, Việt Nam nên phân lại thị
trường cơ cấu khách hàng hợp lý trong du lịch quốc tế, chủ yếu lấy chất lượng làm
đầu và phân tán số lượng du khách thu hút du khách tại nhiều quốc gia khác nhau
để giảm sự ảnh hưởng bởi một quốc gia nhất định, đồng thời để quảng bá hình ảnh
Việt Nam đến với nhiều nước trên thế giới.
2.1.2 Vai trò và đóng góp của du khách quốc tế
- Đóng góp trong việc gia tăng thu nhập cho quốc gia: gia tăng và tăng
thu nhập trong nước

16

Bảng 2.1: Tổng thu dịch vụ du lịch Việt Nam giai đoạn 2009-2013
Chỉ tiêu
2009
2010
2011
2012
2013
Tổng thu từ khách
du lịch (nghìn tỷ
đồng)
68,00
96,00
130,00
160,00
200,00

toàn an ninh, vệ sinh môi trường
17

+ Chi phí do các đơn vị, cơ sở cung cấp dịch vụ mua sắm trong nước đối với
hàng hóa, dịch vụ để phục vụ khách du lịch. Ví dụ: chi phí mua sắm thực phẩm,
dịch vụ giặt là trong khách sạn, chi phí mua xăng dầu, dịch vụ cho hàng không,
dịch vụ tin học, kết nối mạng trong các hãng lữ hành
(3). Đóng góp phát sinh: Đây là khoản chi tiêu cá nhân của tổng đội ngũ, lực
lượng lao động tham gia cả trực tiếp và gián tiếp vào ngành du lịch trên toàn quốc,
gồm cả các cấp quản lý nhà nước và cơ sở cung cấp dịch vụ, hãng lữ hành, khách
sạn
Ví dụ: Chi tiêu cho ăn uống, tham gia hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm
quần áo, vật dụng cá nhân, nhà ở…
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân
thu chi của đất nước. Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du
lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước đó. Ngược lại, phần chi ngoại
tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài. Trong
phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền
tệ, hàng hoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém
phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa…
Trong các dịch vụ trên, dịch vụ ăn uống và nơi nghỉ ngơi là hai dịch vụ
chiếm tỷ trọng cao nhất trong chi tiêu của du khách. Nếu xét về số lượt phục vụ thì
ở Việt Nam số lượt du khách trong nước chiếm tỷ trọng cao hơn khoảng 65% giai
đoạn 2009-2013 nhưng chi tiêu bình quân của một du khách trong nước theo ngày
chưa đến 50% chi tiêu bình quân của du khách quốc tế theo ngày (con số này năm
2009 là 703.400 VNĐ và 1.723.000 VNĐ, đến năm 2013 con số này là 1.283.000
VNĐ và 2.521.000 VNĐ). Như vậy, ta thấy rằng, khách du lịch quốc tế đóng vai
trò rất lớn trong tổng thu dịch vụ du lịch Việt Nam.
- Ngành du lịch tạo ra đƣợc lƣợng công việc lớn cho ngƣời dân trong
nƣớc:

du lịch quốc tế sẽ tạo ra một hiệu ứng mạnh mẽ trong việc gia tăng số lượng du
khách quốc tế đến với Việt Nam. Do vậy, dịch vụ du lịch cũng có hai mặt, khi
khách quốc tế họ hài lòng và quảng bá với những người ở nước họ thì hình ảnh
Việt Nam sẽ thu hút hơn, nếu họ không hài lòng thì sẽ gây ra tác động ngược lại.
Do vậy, trong công nghiệp không khói này, yếu tố phục vụ để đạt đến sự thỏa mãn
19

cao nhất của khách hàng là điều tiên quyết đặt lên hàng đầu. Nếu đạt được yếu tố
trên, du khách quốc tế sẽ là một kênh truyền thông quảng bá du lịch hiệu quả mà
không mất chi phí.
2.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian qua
2.2.1 Điểm mạnh
 Việt Nam có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng
- Có thể nhận định, Việt Nam có hệ thống tài nguyên du lịch phong phú và
khá hấp dẫn. Với diện tích phần đất liền của Việt Nam trên 330.000 km2 trải dọc
nhiều vĩ tuyến bắc-nam với 3/4 đồi núi, địa hình, khí hậu đa dạng tạo nên diện mạo
hệ sinh thái vô cùng đa dạng và phong phú thể hiện qua những danh lam thắng
cảnh như Hạ Long, Sapa, Phong Nha-Kẻ Bàng, Vân phong là những kỳ quan của
thời đại có sức hút du lịch mạnh mẽ. Có thể nói, Việt nam được xếp vào danh mục
các quốc gia có sự đa dạng sinh học cao, giàu tài nguyên thiên nhiên là điều kiện
tốt để phát triển du lịch.
-Với 3.200 km bờ biển và trên 4000 hòn đảo ven bờ và hệ thống quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa; nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Thiên Cầm, Non Nước, Mỹ
Kê, Mũi Né, Vũng Tàu , vịnh đẹp và nổi tiếng như Hạ Long, Nha Trang, Xuân
Đài, cùng với các đảo gần bờ như Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn
Đảo, Phú Quốc là thế mạnh nổi trội của Việt Nam đối với phát triển du lịch biển
đảo.
-Với trên 4000 năm lịch sử và bề dày truyền thống văn hóa của 54 dân tộc
sinh sống trải dài từ bắc chí nam; nền văn hóa lúa nước với bản sắc đậm đà thể hiện
qua lối sống, tôn giáo, văn hóa dân gian, lễ hội, ẩm thực Việt Nam và đặc biệt là

và vùng lãnh thổ trên thế giới cùng với sự nhận thức đúng đắn, sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước là những yếu tố rất thuận lợi mở đường cho du lịch phát triển.
 Kinh nghiệm phát triển du lịch thời gian qua
- Với xuất phát điểm thấp, du lịch Việt Nam trong 2 thập kỷ qua đã vượt qua
mọi khó khăn về nguồn vốn, công nghệ để hội nhập và phát triển. Đây là những bài
học tốt trở thành nguồn lực mềm tạo đà phát triển du lịch cho giai đoạn tới. Tiếp
tục phát huy xu hướng thu hút lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng trưởng
nhanh và liên tục (5 triệu lượt khách quốc tế và 28 triệu lượt khách nội địa, thu
21

nhập đạt trên 98 nghìn tỷ đồng năm 2010). Đây là động lực quan trọng để du lịch
Việt Nam tiếp tục tăng trưởng.
- Những kinh nghiệm được đúc rút trong quản lý, vượt qua khó khăn, thách
thức trong điều kiện thiếu vốn, công nghệ, cạnh tranh gay gắt, bối cảnh hội nhập
quốc tế có nhiều biến động khó lường và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường trở thành bài học sống cho giai đoạn phát triển mới.
- Những thành tựu phát triển du lịch giai đoạn trước về đầu tư cơ cở hạ
tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực du lịch, hợp tác quốc tế và
những ấn tượng, hình ảnh về du lịch Việt Nam tích lũy qua cố gắng nhiều năm xúc
tiến quảng bá du lịch cũng như những cảm nhận của du khách khi đến du lịch Việt
Nam đã và đang tạo sức mạnh tăng trưởng cho giai đoạn tới.
- Đầu tư của giai đoạn trước đến nay đang được phát huy hiệu quả. Giai
đoạn vừa qua kết cấu hạ tầng du lịch được quan tâm hỗ trợ đầu tư của Nhà nước và
thu hút được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư. Nhiều công trình giao thông,
sân bay được cải tạo và đầu tư mới; cơ sở vật chất các khu du lịch được đầu tư,
nâng cấp từng bước tạo điều kiện mở đường cho hoạt động du lịch. Hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh, chất lượng được
nâng lên một bước; nhiều khu du lịch, resorts, khu giải trí, khách sạn cao cấp đạt
trình độ quốc tế đã hình thành. Nguồn nhân lực du lịch cũng được đầu tư thích
đáng, đến nay đã có 11 cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp về du lịch do Bộ Văn

trở ngại về cơ sở hạ tầng tiếp tục là điểm yếu cần đầu tư dài hơi.
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát
triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính chất tiện nghi và phong cách
sản phẩm du lịch còn nhỏ lẻ, chưa đồng bộ, vận hành chưa chuyên nghiệp do vậy
chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật.
 Về nguồn nhân lực du lịch
- Đây cũng vẫn là điểm yếu trường kỳ. Mặc dù có nhiều cố gắng trong công
tác phát triển nguồn nhân lực du lịch thời gian qua nhưng so với yêu cầu về tính
chuyên nghiệp của ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập, toàn cầu hóa thì nhân lực
du lịch chưa đáp ứng kịp về kỹ năng chuyên nghiệp, hội nhập, liên kết toàn cầu.
23

- Lực lượng lao động du lịch tuy đông đảo nhưng tỷ lệ được đào tạo bài bản
chuyên nghiệp du lịch thấp, hơn nữa chất lượng đào tạo du lịch vẫn còn nhiều hạn
chế, chưa thích ứng kịp với xu hướng hội nhập, cạnh tranh toàn cầu, đặc biệt là rào
cản về ngôn ngữ.
- Đánh giá mặt bằng chung chất lượng nhân lực du lịch vẫn chưa đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi về tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý, giao tiếp và chất lượng
phục vụ. Ngành du lịch thực sự thiếu đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp du lịch kiểu
mẫu của thời đại với yêu cầu cạnh tranh và hội nhập cao. Đội ngũ hướng dẫn viên
chuyên nghiệp với nhiều loại hình du lịch và ứng với các ngôn ngữ thuộc thị trường
mục tiêu vẫn chưa sẵn sàng đầy đủ.
 Về phát triển sản phẩm và thị trƣờng
- Sản phẩm du lịch chậm đổi mới; phần lớn các doanh nghiệp du lịch có quy
mô vừa và nhỏ, thiếu vốn, công nghệ nên khai thác những tài nguyên có sẵn hoặc
sao chép để hình thành sản phẩm du lịch. Vì vậy tính chất độc đáo, giá trị nguyên
bản và ý tưởng của sản phẩm du lịch rất nghèo nàn và trùng lắp giữa các vùng
miền. Quá trình phát triển sản phẩm chưa được nghiên cứu bài bản vì vậy chất
lượng và giá trị hàm chứa trong sản phẩm thấp. Sự nghèo nàn, ít sáng tạo, thiếu
tính độc đáo, đặc sắc; thiếu đồng bộ và thiếu liên kết là thuộc tính phổ biến của sản

thiếu đồng bộ và chưa huy động được các nguồn lực cho phát triển du lịch. Nhiều
chính sách còn chồng chéo, bó chân lẫn nhau. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật chuyên ngành chưa được hình thành và hợp chuẩn khu vực và quốc tế; thủ tục
hành chính còn rườm rà và chậm đặc biệt là thủ tục thị thực xuất nhập cảnh và quy
trình quản lý chất lượng dịch vụ còn nhiều yếu kém;
- Tổ chức bộ máy của ngành có nhiều thay đổi, chưa thực sự ổn định để phát
huy hiệu lực, hiệu quả; quản lý liên ngành, liên vùng rất yếu. Công tác quản lý và
thực hiện quy hoạch du lịch còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa được như mong
muốn.
- Công tác quản lý đảm bảo phát triển bền vững, an ninh, an toàn, văn minh
du lịch còn thiếu kinh nghiệm và chưa có tầm nhìn dài hạn nên kém hiệu quả và
thiếu tính bền vững; quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di sản, bảo vệ môi trường
chưa đáp ứng yêu cầu.
25

- Nhận thức về du lịch cả ở cấp quản lý nhà nước, quản lý kinh doanh và
trong nhân dân còn thấp, chưa đầy đủ và đồng bộ, tầm nhìn ngắn hạn trong tư duy
chịu tác động của nhóm lợi ích cục bộ do vậy vẫn còn khoảng cách xa so với yêu
cầu phát triển.
- Du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề yếu kém như ô nhiễm
môi trường tại các điểm du lịch, nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây
hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác xa mẫu cổ và luôn thu phí vào cửa, tình
trạng chèo kéo, bắt chẹt khách, tăng giá phòng tùy tiện, chất lượng hạ tầng cơ sở và
giao thông thấp, dịch vụ kém, trong khi đó công tác quản lý của các cơ quan chức
năng chưa đạt hiệu quả Theo đánh giá của ngành du lịch, từ năm 2006 đến nay
hơn 70% du khách quốc tế sau khi đến Việt Nam đều có ý "một đi không trở lại".
- Vì những yếu kém trong những mặt khác so với các nước trong khu vực,
nên ngành du lịch Việt Nam thường chỉ chú trọng khai thác quá đáng các thắng
cảnh thiên nhiên như một điểm mạnh, nhưng việc "xã hội hóa" các danh thắng (cho
phép các công ty đầu tư khai thác và bán vé vào cửa) dẫn đến việc hầu hết các nơi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status