Con người hành hương trong thơ Thiền Lý Trần và Đường Tống
1. Con người trong thơ thiền – một khám phá vô tận nhìn từ mối quan hệ giữa văn
chương và tôn giáo:
Con người trong văn học tôn giáo thường có hai đặc tính: con người với đức tin tôn giáo,
hành trình tôn giáo và con người trong vẻ đẹp muôn màu của văn học. Văn học Phật giáo là
một kho tàng lớn lao có lịch sử từ hàng nghìn năm, nếu kể cả các kinh điển, kinh luan nói
chung. Con người trong văn học Phật giáo được mô tả và khơi gợi ở nhiều góc độ phong
phú, bao gồm chính hình ảnh Đức Phật với những tiền thân, các vị Phật, các kiếp người, với
nhiều trạng thái và cơ duyên Phật phap khác nhau. Do vậy, tìm hiểu hình ảnh con người
trong văn học Phật giáo nói chung vừa để tìm hiểu hành trình tu chứng của chính con người
trên bước đường tâm linh mà họ đã chọn; đồng thời, cũng là tìm kiếm các giá trị mỹ học
Phật giáo đã làm nền và chuyển hóa vào các hình ảnh sâu sắc đó.
Trong bài viết ngắn này, chúng tôi chọn đối tượng khảo sát của mình là thơ thiền Lý – Trần
của Việt Nam và Đường – Tống của Trung Quốc. Chọn đối tượng kép như vậy, bài viết hướng
đến so sánh hai nền thơ ca thiền tông bắt nguồn từ hệ thống văn học Phật giáo phương
Đông thông qua hình tượng con người, ở đây là hình tượng con người hành hương.
Bài viết Vấn đề con người trong văn học thời đại Lý – Trần của Đoàn Thị Thu Vân[1] đã phân
loại bốn quan niệm biểu hiện con người cá nhân trong thơ thiền Lý- Trần là: 1- Con người tự
do, 2- Con người vô ngã, 3- Con người vô ý, 4- Con người vô ngôn. Tác giả kết luận bốn
quan niệm này đều hướng đến Con người vũ trụ. Nguyễn Phạm Hùng trong chuyên luận Thơ
thiền Việt Nam – những vấn đề nghệ thuật và tư tưởng[2] lại chia hình ảnh con người trong
thơ thiền ra làm hai loại lớn: Con người Phật giáo và con người cá nhân. Trong con người
Phật giáo có bốn tiểu loại: 1 – Con người tự do, 2- Con người vô ngã, 3- Con người vô ngôn,
4- Con người vũ trụ. Về con người cá nhân trong thơ thiền, tác giả nhận xét: “Trực giác
trong thơ thiền giúp cho con người cá nhân có điều kiện xuất hiện nhất định”, “Con người
thường được nói tới trong thơ thiền là con người siêu việt, có bản lĩnh, có nghị lực và sức
mạnh, có thể tự mình giac ngộ chân lý”, “Thơ thiền quả là sự bộc lộ một cách kiên nhẫn và
thuyết phục cho sức sống, cho khả năng sống, cho niềm vui sống của con người”. Như vậy,
những đặc điểm mà tác giả Đoàn Thị Thu Vân dùng để đặt cho quan niệm con người cá
nhân thì Nguyễn Phạm Hùng xếp vào kiểu con người Phật giáo, phân biệt với con người cá
nhân là con người của trực giác. Nguyễn Hữu Sơn trong bài Thơ thiền – Những nẻo đường tu
trường hợp này dựa trên tiêu chí mỹ học Phật giáo.
2. Hình tượng con người hành hương trong văn học Thiền tông Phật giáo:
Hành hương trong tôn giáo thường được xem như biểu tượng về hành trình đức tin. Kinh
Thánh đã kể lại nhiều cuộc hành hương vĩ đại của loài người như hành trình của dân Chúa từ
Ai Cập về Đất hứa với 40 năm lưu lạc giữa sa mạc nóng bỏng, cuộc hành hương của Chúa
Jesus về thành địa Jerusalem Hành hương về sông Hằng, về Bồ Đề đạo tràng – nơi Đức
Phật chứng đắc… cũng thường được nhắc đến trong các đien truyện Phật giáo. Nhưng hành
hương không chỉ là những chuyến đi của những tín đồ hoặc các tu sĩ đến một địa danh cụ
thể nào đó. Về mặt tinh thần, hành hương mang nhiều lớp nghĩa tâm linh sâu sắc. Hành
hương vừa gợi đến những chuyến đi, những cuộc phiêu bồng của đời người, vừa mang ý
nghĩa tu tập, kham nhẫn của người học đạo.
Kinh Hoa Nghiêm, bộ Kinh tiêu biểu cho Phật giáo Đại thừa với hình tượng Thiện tài Đồng
tử, nhân vật trải qua 53 thế giới để gặp gỡ chư Phật và cầu học đạo, đã mở ra chiều sâu vô
tận cho ý niệm về những chuyến đi của tâm linh con người. Thiên Tiêu dao du, Tề Vật luận
của Trang Tử luận bàn rất nhiều về những cuộc du ngoạn vĩ đại, từ cái thế trôi vô tận của
loài cá Côn đến cái tung vẫy của cánh chim Bằng. Bên cạnh đó, âm hưởng “qui khứ lai từ”
của thơ ca Trung Quốc đời Đường cũng phản chiếu tinh thần “trở về” trong thơ ca thời kỳ
này; trở về với thiên nhiên, với tâm nhàn. Do vậy, cũng có thể nói, hành hương vừa là cảm
thức mang màu sắc tôn giáo nói chung, vừa là cảm thức phổ biến của con người trong
những biến cố đời sống và tinh thần. Do hòa hợp sâu sắc triết học Lão Trang, Thiền tông
Trung Hoa đã du nhập trọn vẹn tinh thần chơi đùa tiêu dao của học thuyết này, mặt khác,
nó cũng không từ chối ghi nhận và diễn bày cả những cảm thức thân phận khác mà con
người có thể có trong cuộc đời rộng lớn.
Tính chất biểu tượng của hành hương trong Thiền học là đi từ đau khổ tới giác ngộ, từ lưu
lạc đến lúc trở về. Hành hương trong Thiền là con đường “đồng với bụi bặm”, nhưng chính
lúc ấy, hành giả cung hướng trọn tâm mình đến sự chứng ngộ viên mãn, trở về ngôi nhà của
bản tâm. Hình ảnh “về nhà” là một trong những hình ảnh biểu trưng bản thể đặc sắc nhất
mà thơ thiền của cả hai thời đại lớn : Lý – Trần (Việt Nam) và Đường – Tống (Trung Quốc)
đã mang lại cho nền văn học Phật giáo.
Không phải ngẫu nhiên mà D.T Suzuki đã dành rất nhiều trang cho phần viết về cảm thức
Núi non trong kinh điển Phật giáo là những hình ảnh quen thuộc, biểu tượng cho giác ngộ, ví
dụ như núi Tu Di, núi Linh Sơn (hay Linh Thứu), núi Lăng già… Núi non rừng sâu từ xa xưa
cũng là nơi tu tập của nhiều bậc đại sư, thánh hiền. Vì thế, hình ảnh những ngọn núi cao
ngất và hành trình lên núi cao thường để lại nhiều dấu ấn trong thơ ca thiền tông. Nói như
Thiền sư Vân Nham, “Núi sông đất đai đều hiển lộ pháp thân” hoặc như Trương Duyệt: “Núi
sâu tịch lịch đạo tâm sinh”. Hành trình lên núi là hành trình của những thien nhân “Giày cỏ
đan vài ba tháng – Ao gai từng vá đôi lần” (Thiền sư Linh Trừng), “ngồi nhàn với hoa trên
non, chim dưới suối” (Vương An Thạch), là “người cầm ngang ống sáo ngọc” mà đi giữa
đường hoa nửa sáng nửa tà lên nui (Trần Nhân Tông), là người “chống gậy nhởn nhơ ngoài
thế gian” mà ngắm nhìn mây trên đỉnh núi cao ngất (Tuệ Trung thượng sĩ)…
Tô Thức có bài vịnh núi Lô Sơn đậm phong thái thiền học: “Thiền đạo với thi ca là đồng hay
khac, chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi; hãy quên đi những sự phân biệt Ta và Người, cuối cùng,
anh với tôi hãy mở cánh cửa bắc, ngẩng đầu nhìn lên ba mươi sáu ngọn núi xanh”. Tô Thức,
cũng như Hàn Sơn, Vương Duy, Trần Thái Tông đều là những bậc thiền nhân thiết tha với
cảnh núi non, am vắng. Núi non là nơi cất giữ tâm linh cho họ, cũng là nơi trở về của Tâm
thể. Núi cao, sâu, vắng lặng. tương đồng kỳ diệu với Tâm không.
Đường quanh theo non núi xanh xanh, đường núi, đường mòn, đường vắng chính là những
biến thể khác nhau của tinh thần hành hương thiền tông. Trong bài Ngẫu tác, Tuệ Trung
thượng sĩ đã viết như sau:
Đường trung đoan tọa tịch vô nghiên
Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên
Dịch thơ:
Giữa nhà không nói chỉ ngồi yên
Nhàn ngắm Côn Luân sợi khói lên
(Huệ Chi dịch)
Tác giả ngồi giữa phòng thiền nhưng tâm linh đang xuôi chảy một hành trình riêng – hành
trình lên đỉnh tinh thần mà nhà thơ gói gọn bằng một chữ “nhàn”: Nhàn ngắm sợi khói bay
trên đỉnh Côn Luân. Sợi khói mong manh ấy có thể thu hút toàn tâm của một thiền nhân
ngồi an tọa giữa nhà. Đó là một pháp chứa vạn pháp trong thế giới Hoa Nghiêm chăng? Tâm
người và sợi khói trên đỉnh chót núi kia đồng nhau chăng? Tâm người lên núi theo sợi khói
Thiên địa diếu vọng hề hà mang mang
Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương
Hoặc cao cao hề vân chi sơn
Hoặc thâm thâm hề thủy chi dương
Cơ tắc xan hề hòa la phạn
Khốn tắc miên hề hà hữu hương
Hứng thời xuy hề vô khổng địch
Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương
Quyện tiểu phại hề hoan hỷ địa
Khát bão xuyết hề tiêu dao thang
Dịch nghĩa:
Ngắm trời đất sao mà mênh mông
Chống gậy nhởn nhơ ngoài thế gian
Hoặc đến chỗ núi mây cao cao
Hoặc đến chỗ biển nước sâu sâu
Đói thì ăn cơm hòa la
Mệt thì ngủ làng “không có làng”
Khi hứng thì thổi sáo không lỗ
Nơi yên tĩnh thì thắp hương giải thoát
Mệt thì nghỉ tạm đất hoan hỷ
Khát thì uống no thang tiêu dao…
(Huệ Chi – Đỗ Văn Hỷ)
Đó là thế giới của hoan hỷ và kỳ diệu. Cuộc tiêu dao của Tuệ Trung tuy chứa đựng sâu thẳm
niềm an nhiên của Thiền, nhưng vẫn không ngừng trở thành niềm hân hoan của con người
trước cuộc chơi lớn, nơi đạo và đời cùng một gương mặt.
Huyền Quang tôn giả cũng có bài Chu trung (Trong thuyền) gợi khí vị thiền rất khéo: Một lá
thuyền con, một khách hải hồ – Chèo khỏi rặng lau, tiếng gió xào xạc – Bốn bề mịt mù, con
nước buổi chiều đương lên – một chim âu trắng giữa khoảng trời nước liền nhau[3]. Hay ở
bài Phiếm chu (Chơi thuyền), nhà thơ cũng kể về còn thuyền xa tít ruổi rong giữa chốn non
xanh nước biếc, nơi có trăng rơi xuống đáy sông…
Vì thế, tính chất “phản tỉnh” trong tìm kiếm thường xuất hiện rất nhiều trong thơ thiền của
cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc.
Bài thơ sau của Sơ Sơn Như mang khí thiền lồng lộng:
Bất xuất man man thảo lộ già
Xuất môn do cánh cách thiên nhai
Hồi cơ đạp trước thông tiêu lộ
Hà xứ thanh sơn bất thị gia
Dịch nghĩa:
Không đi cỏ phủ che đường lối ra cửa vẫn còn cách trời xa
lúc xoay đầu lại đạp nhằm con đường dẫn lên trời
chỗ núi xanh nào mà chẳng phải là nhà của thiền nhân trở về”[5].
Con đường-chẳng phải đường ấy lại trở thành bản tâm, được nhìn từ thế lưỡng vong - cả hai
đều quên của chính hành gia - quên con đường vọng động để trở lại lập tức với sơ tâm.
Thiền sư Trạm Đường Trung Quốc có câu thơ rất huyền diệu: “Phong đầu lộ, tạm kinh quá”
nghĩa là: Phật chỉ là con đường trên đỉnh cô phong, có thể đi qua mà chẳng thể ở lại. Vạn
pháp là vô môn, kể cả pháp vĩ đại nhất là Niết Bàn, vì vậy mà hãy đi qua nó, như cánh chim
không để lại dấu vết. Vương Lão Sư (Trung Quốc) có cả chùm 10 bài thơ vịnh tranh chăn
trâu. Cảm thức tìm dấu, thay dấu, tìm trâu, được trâu… phản chiếu cái nhìn thiền học về
bản thể rất rõ nét. Hình ảnh con đường xa thẳm, mênh mông, không có lối… là nỗi ám ảnh
lớn lao nhất đối với người “cầu đạo”. Thiền sư Linh Vân Chí Cần viết: “Tam thập niên lai tầm
kiếm khách – Kỷ hồi lạc diệp hựu trừu chi”, nghĩa là: Ba mươi năm qua đi tìm bậc chân sư –
bao lần lá rụng lại đâm chồi. Hay như Thuyền Tử Đức Thành: “Tam thập niên lai hải thượng
du – thủy thanh ngư hiện bất thôn câu”, nghĩa là: Ba mươi năm nổi trôi trên biển đạo –
Nước trong thấy rõ cá mà cá chẳng ăn mồi…[6]
Không khí khắc khổ tìm kiếm trong thơ thiền Trung Quốc thường được thay bằng niềm an
nhiên hồn hậu “đừng tìm kiếm” của thơ thiền Việt Nam. Đó là các lời khuyên nhủ tưởng
chừng rất ngược giáo pháp: “Chẳng cần niệm Phật, chẳng cần Thiền, Muốn biết không tội
phuc thì đừng trì giới và nhẫn nhục (Tuệ Trung) Vô tâm trước cảnh hỏi chi Thiền; Ai trói
buộc mà phải tìm cách giải thoát (Trần Nhân Tông)…
Hình ảnh con đường và nỗi niềm hành hương còn ghi lại dấu ấn vô cùng sâu sắc trong thơ