MỐI QUAN hệ lạm PHÁT và THÂM hụt NSNN GIAI đoạn 2010 đến NAY - Pdf 25

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát và thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọi quốc gia trên thế giới đều
gặp phải. Việc xử lý lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm,
bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển
bền vững của mỗi quốc gia. Ở nước ta, mức độ thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và
ngày càng tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ nền kinh tế, tình
trạng lạm phát cũng ngày càng cao. Vì vậy vấn đề lạm phát và thâm hụt ngân sách là một
trong những mối quan tâm sâu sắc của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Vậy lạm phát
và thâm hụt ngân sách có mối quan hệ với nhau hay không? Để tìm hiểu vấn đề này, trong
bài viết này em xin trình bày chủ đề: Mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách
nhà nước giai đoạn 2010 – nay
2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ THÂM
HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Lạm phát
1.1.1 Khái niệm lạm phát
Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian
của mức giá chung hầu hết các hàng hóa và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó.
Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một loại hàng
hóa vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi.
Khi giá trị của hàng hóa và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền
giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng
hóa ít hơn so với năm trước.
1.1.2 Các loại lạm phát
Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con số (single-digit
inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyper inflation)…
Lạm phát một con số (single-digit inflation): Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá
3% đến 7% một năm.
Lạm phát phi mã (galloping inflation): Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ hai
con số tới ba con số một năm những vẫn thấp hơn siêu lạm phát.

– P
-1
)/P
-1
1.1.4 Nguyên nhân lạm phát
Theo lý thuyết kinh tế học hiện đại, lạm phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí
đẩy và quá thừa mức tiền cung ứng trong lưu thông. Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát gia
tăng còn do một số nguyên nhân nữa, thí dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối trong
cơ cấu đầu tư…
1.1.4.1 Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cẩu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao
động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS. Đường AD
dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng
tăng.
Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có
cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng. Do đó có lạm phát.
1.1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng. Các
xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm.Mức giá
chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.
1.1.4.3. Lạm phát do cung ứng tiền tệ
4
Cung tiền tăng(chẳng hạn do [ngân hàng trung ương] mua ngoại tệ vào để giữ cho
đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung
ương mua [công trái] theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông
tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.
Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượng tiền tệ trong nền kinh tế quá nhiều,
vượt quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị nền kinh tế. Có
thể do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh tế bằng các
nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách tiền tệ lới lỏng. Khi lượng tiền lưu thông quá lớn,

B là cán cân ngân sách
G là chi tiêu ngân sách
Y là thu ngân sách
Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc
hội phê chuẩn và giao cho chính phủ tổ chức thực hiện.
Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và
được định lượng. Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ - quỹ NSNN – và các
khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy.
Xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN các khoản thu – luồng thu nhập quỹ
SNN, các khoản chi – xuất quỹ NSNN đều phản ánh những quan hệ kinh tế nhất định
giữa Nhà nước và người nộp, giữa Nhà nước với cơ quan, đơn vị thụ hưởng quỹ.
Từ đây có thể rút ra nhận xét: NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với
quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước
tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước
trên cơ sở luật định.
1.2.2 Thâm hụt ngân sách nhà nước:
Thâm hụt ngân sách nhà nước (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước) là tình
trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch
chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản
chi được gọi là thặng dư ngân sách.
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử sụng chi tiêu tỷ lệ thâm hụt
so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước
Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:
6
Thu Chi
A.Thu thường xuyên
(thuế, phí, lệ phí).
B. Thu về vốn (bán tài sản nhà nước).
C. Bù đắp thâm hụt.
- Viện trợ.

7
Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là thâm hụt ngân sách bị động do dự vận động theo chu kỳ
của nền kinh tế thị trường. Thâm hụt ngân sách chu kỳ được tính bằng hiệu số giữa ngân
sách thực có và ngân sách cơ cấu.
Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa
chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động. Việc
phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng
thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt
sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp
điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế.
1.2.4 Nguyên nhân gây thâm hụt ngân sách:
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra thâm hụt NSNN:
Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho
thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó
khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức thâm hụt NSNN tăng lên, ở giai
đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng
tương ứng. Điều đó làm giảm mức thâm hụt NSNN. Mức thâm hụt do tác động của chu
kỳ kinh doanh gây ra được gọi là thâm hụt chu kỳ.
Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi
Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức
thâm hụt NSNN. Ngước lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước
thì mức thâm hụt NSNN sẽ giảm bớt. Mức thâm hụt do tác động của chính sách cơ cấu
thu chi gây ra được gọi là thâm hụt cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng hợp
của thâm hụt chu kỳ và thâm hụt cơ cấu sẽ là thâm hụt NSNN.
1.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt NSNN
Lạm phát và thâm hụt ngân sách có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau:
Thâm hụt ngân sách cao sẽ dẫn đến lạm phát và ngược lại.
Chi ngân sách là một trong những công cụ chính sách quan trọng của Nhà nước
nhằm tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội. khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới

và liên tục. Việt Nam sẽ dựa vào nguồn vốn từ các nhà tài trợ và có khả năng phát hành
trái phiếu quốc tế từ nay đến năm 2014.
2.1.1 CPI năm 2010:
Qua bảng số liệu trên ta thấy, lạm phát tăng trong năm 2010 trước áp lực về nguồn
cung và tăng giá hàng tiêu dùng thế giới. Tỉ lệ lạm phát sẽ ở mức trung bình 9,2% trong
giai đoạn 2010-2011 và giảm còn 7,2% giai đoạn 2012-2014.
2.1.2 CPI năm 2011:
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 tăng 0,53% so với tháng trước (thấp hơn nhiều
so với mức tăng 1,38% và 1,98% của cùng kỳ năm 2009 và năm 2010). Tháng 12 là tháng
thứ 5 liên tiếp trong năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn 1%.
10
Biểu đồ 2.1: Lạm phát năm 2011 so với năm 2010
So với tháng 12 năm ngoái, chỉ số giá tiêu dùng tháng này đã tăng 17,05%, cách chỉ tiêu
lạm phát năm 18% một khoảng không xa, tạo sức ép đối với chỉ số giá trong 2 tháng còn
lại của năm nay.
Tương tự, so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ số giá tiêu dùng tháng này tiếp tục rời xa đỉnh,
từ mức tăng 22,42% trong tháng trước hạ xuống 21,59% ở tháng này.
2.1.3 CPI năm 2012:
Theo số liệu của Tổng cục thống kê công bố chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 tăng
9,21% so với bình quân năm 2011. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2013 cả nước tăng
0,49% so với tháng 9/2013. So với cuối năm 2012, chỉ số tăng 5,14% và tăng 5,92% so
với cùng kỳ 2012
Nhìn lại năm 2012, CPI tháng 12 chỉ tăng 6,81% so với cùng kỳ năm 2011, xấp xỉ
mức tăng 6,52% của năm 2009, thấp hơn nhiều so với mức tăng 11,75% của năm 2010 và
mức tăng 18,13% của năm 2011 nhưng là năm giá có nhiều biến động bất thường. Bởi vì,
CPI tăng không quá cao vào 2 tháng đầu năm nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức
tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục.
Bên cạnh đó, trong năm có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng
chỉ tăng dưới 0,5%. Một điều khác thường nữa của thị trường giá cả trong nước năm nay
11

Mức thâm hụt vượt 5% GDP và cao hơn 2 năm liền trước đang đặt ra những hoài
nghi về tính bền vững của ngân sách và khả năng kiểm soát nợ công. Trong khi nguồn thu
giảm đi do doanh nghiệp suy yếu thì chi ngân sách không giảm tương ứng với nguồn thu.
Sau 2 năm có dấu hiệu được kiềm chế thì thâm hụt ngân sách tăng vọt trong 2 năm 2012,
2013. Việc phải đi vay nợ nhiều hơn sẽ ảnh hưởng lên thị trường vốn, dù có thể không
trực tiếp nhưng vẫn tiềm tang những rủi ro, như kỳ vọng về lạm phát cao sẽ làm giảm lưu
lượng các hoạt động kinh tế hoặc giữ cho lãi suất cho vay không giảm nữa. Hiện nợ công
đang tăng nhanh hơn GDP và tới cuối 2013 được ước tính ở mức 95 tỷ USD, tương
13
đương 56,2% GDP (tăng so với 54,9% năm 2011 và 55,7% năm 2012, chưa gồm các
khoản nợ nước ngoài DNNN); còn nợ nước ngoài giảm còn khoảng 39,5% GDP.
2.2.1 Thực trạng thâm hụt NSNN năm 2010
Thâm hụt NSNN năm 2010 bằng 5,5% GDP, giảm 0,7% so với mục chỉ tiêu của
Nghị quyết Quốc hội.
Bộ tài chính cho biết năm 2010 các công cụ thuế, phí, lệ phí… đối với hàng hóa
xuất, nhập khẩu đã được sử dụng linh hoặt để đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu,
khuyến khích sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước để hạn chế nhập siêu.
Bên cạnh đó là việc đẩy mạnh triển khai thủ tục hải quan điện tử, hiện đại hóa thu
NSNN nhằm giảm thiểu chi phí, thời gian cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập
khẩu.
Bộ tài chính xác định nhiệm vụ năm 2011 là tăng cường phối hợp đồng bộ, chặt
chẽ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các chính sách khác nhằm tăng cường ổn
định kinh tế vĩ mô, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế-xã hội.
Những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, sẽ được vận dụng linh
hoạt hơn. Bên cạnh đó, khẩn trương nghiên cứu để hình thành quỹ xúc tiến nhập khẩu
công nghệ nguồn trên cơ sở quỹ xúc tiến xuất khẩu, trong đó tính toán tỷ lệ đóng góp hợp
lý giữa nhà nước và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế để hình thành quỹ.
Bộ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ
các thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ, thị trường lao
động, thị trường bất động sản…

(15000 tỷ đồng) cũng có thể coi như gián tiếp giảm thâm hụt.
2.2.3 Thực trạng thâm hụt NSNN năm 2012
Thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2012 dự toán là 140.200 tỷ đồng
Tổng thu NSNN năm 2012 là 1.058.140 tỷ đồng, tăng 1,9% so với dự toán, nhiều khoản
thu đạt thấp so với dự toán (thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 84,4%, thu
từ khu vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 82,8%, thu từ hoạt động
xuất nhập khẩu đạt 82,6%).
Thu ngân sách tăng chủ yếu từ nguồn dầu thô và các khoản thu về đất đai, chiếm tỷ
trọng khá lớn trong tổng thu NSNN, thể hiện tính thiếu ổn định, bền vững của nguồn thu.
15
Tổng chi NSNN năm 2012 là 1.170.924 tỷ đồng, tăng 8,3% so với dự toán. Chi
thường xuyên vẫn còn lãng phí, chi sai chế độ quy định, không đúng mục đích đang có
dấu hiệu gia tăng tại các địa phương. Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị thu hồi 648 tỷ
đồng chi sai chế độ tại 34 địa phương.
Chi quản lý hành chính tại hầu hết các địa phương đều vượt dự toán (tăng 12,5%,
tương đương 9.924 tỷ đồng), trong đó có 20/34 tỉnh được kiểm toán đã chi vượt dự toán
hơn 30%.
Tuy nhiên, một số khoản chi quan trọng lại thấp hơn dự toán (chi giáo dục, y tế,
khoa học, chương trình mục tiêu quốc gia ), ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội và gây lãng phí nguồn lực NSNN.
Qua kiểm toán quyết toán NSNN năm 2012, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị tăng
thu 4.047 tỷ đồng, giảm chi 5.099 tỷ đồng, nợ đọng thuế và các khoản thu ngân sách phát
hiện tăng thêm 2.623 tỷ đồng.
Thâm hụt NSNN năm 2012 theo báo cáo quyết toán của Chính phủ là 154.126 tỷ
đồng (4,75% GDP), tỷ lệ dư nợ công, dư nợ Chính phủ và dư nợ quốc gia so với GDP
được bảo đảm an toàn trong phạm vi giới hạn cho phép. Mặc dù tỷ lệ bội chi NSNN tính
trên GDP có giảm so với dự toán (4,8%) Quôc hội đã phê chuẩn nhưng số bội chi NSNN
lại tăng 13.926 tỷ đồng so với dự toán, tăng bội chi NSNN do tăng giải ngân nguồn vốn
ODA (tăng 17.143 tỷ đồng).
Ủy ban Tài chính ngân sách đề nghị Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN năm

Do nguồn thu đồi đào nên bội chi nhìn chung bám sát và vượt dự án, riêng năm
2013, do khả năng cân đối NSNN năm 2013 rất khó khăn, vì vậy Chính phủ đã báo cáo
Quốc hội quyết định giữ tỷ lệ thâm hụt NSNN năm 2013 như năm 2012 là 4,8% GDP
(162.000 tỷ đồng) để có thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, Theo Tổng cục
Thống kê, sau nhiều năm vượt thu, 2013 là năm đầu tiên số thu NSNN ước tính không đạt
dự toán thu cân đối ngân sách, ảnh hưởng lớn tới việc điều hành ngân sách và cân đối, bố
trí vốn để thực hiện các nhiệm vụ chi NSNN. Thâm hụt NSNN 2013 là trên 195 nghìn tỷ
đồng. Tỷ lệ thâm hụt NSNN năm ở mức 5,3% GDP, vượt mức 4,8% đã dự toán.
Thâm hụt NSNN tăng liên tục qua các năm,từ 4.4% GDP năm 2011 đến nay đã
vượt trên 5%. Theo giới hạn mà Quốc hội đề ra, thâm hụt ngân sách tối đa được phép là
5% GDP/năm. Nhưng trên thực tế rất khó để thực hiện đúng được quy định đó. Vấn đề
thực sự là với nền tài khóa quốc gia như hiện nay, nếu bội chi ngân sách cứ luôn vượt quá
5% GDP trong một thời gian dài sẽ nguy hiểm. Điều này có khiến cho thị trường hiểu
rằng đang có sự không thống nhất giữa chủ trương và thực thi chính sách của Chính phủ,
làm giảm niềm tin của thị trường, gây sức ép rất lớn lên việc điều hành kinh tế vĩ mô.
2.2.5 Thực trạng thâm hụt NSNN năm 2014
Dự toán bội chi ngân sách năm 2014 do cơ quan này đưa ra là 224.000 tỷ đồng,
bằng 5,3% GDP. Tổng thu cân đối ngân sách năm 2014 là 782.700 tỷ đồng. Trong đó, thu
nội địa chiếm 539.000 tỷ, từ dầu thô 85.200 tỷ, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu
154.000 tỷ và thu viện trợ là 4.500 tỷ.
Bên cạnh đó, mức chi dự toán được đưa ra là 1,0067 triệu tỷ đồng. Trong đó, mức
chi đối với từng hạng mục như sau:
Mức dự chi (Đơn
vị: Tỷ đồng)
Chi đầu tư phát triển 163.000
Chi trả nợ và viện trợ 120.000
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính
704.400
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100

lạm phát.
19
Thực tế những năm qua, thâm hụt ngân sách Việt Nam được tài trợ phần lớn bằng
cách vay nợ thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Lượng trái phiếu này có thể được
mua bởi Ngân hàng Nhà nước (hình thức cấp tín dụng trực tiếp cho Chính phủ) sẽ làm
tăng lượng tiền cơ sở. Hoặc lượng trái phiếu được mua bởi các ngân hàng thương mại,
sau đó các ngân hàng thương mại đem cầm cố chúng tại Ngân hàng Nhà nước thông qua
nghiệp vụ thị trường mở hoặc nghiệp vụ tái cấp vốn (cấp tín dụng gián tiếp cho Chính
phủ). Điều này cũng làm tăng lượng tiền cơ sở và tăng cung tiền gây lạm phát. Theo
thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), khối lượng trái phiếu Chính phủ
và Trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đang lưu hành có giá trị lên tới 336.000 tỷ đồng, tương
đương hơn 13% GDP danh nghĩa và gần 12% cung tiền M2 năm 2011. Ngoài ra, bên
cạnh việc vay nợ trong nước, Việt Nam còn vay nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt, số tiền
vay nợ nước ngoài chiếm 1/3 thâm hụt NSNN, tương đương 1,5 – 1,7% GDP. Đây chính
là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao ở Việt Nam trong năm 2010 - 2011.
20
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP XỬ LÝ THÂM HỤT NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
3.1 Giải pháp kiềm chế lạm phát
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiềm
chế lạm phát đảm bảo an sinh xã hội, làm tiền đề đạt mức tăng trưởng kinh tế cao và bền
vững. Qua những phân tích ở trên thấy rằng một mức lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực tới
tăng trưởng kinh tế .Trong khi đó, nền kinh tế duy trì tỷ lệ lạm phát thấp sẽ giống như
một "thứ dầu bôi trơn" hỗ trợ tăng trưởng . Tuy nhiên, CPI tăng thấp nhưng tốc độ tăng
tính theo năm như thông lệ quốc tế vẫn còn cao gấp đôi tốc độ tăng theo mục tiêu của các
nền kinh tế phát triển (trên dưới 2,5%/năm). Do đó, vẫn cần chú ý việc kiểm soát lạm
phát. Nhưng cũng cần hiểu rằng, điều này không có nghĩa là kìm lạm phát xuống quá
thấp, bởi hệ quả của các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thắt chặt quá mức là đầu
tư nền kinh tế giảm, không khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất tăng sản lượng,
không kích thích tiêu dùng của dân cư…, dẫn đến tăng trưởng sẽ chậm lại.

thực hiện một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, phương pháp tính, hạch toán ngân sách phải được thực hiện công khai, minh
bạch theo chuẩn mực quốc tế. Hiện nay, có nhiều khoản chi ngân sách từ nguồn trái phiếu
Chính phủ tài trợ cho lĩnh vực y tế, giáo dục, các khoản cho vay, cho vay lại của Chính
phủ… để ngoại bảng cân đối ngân sách, không tính đầy đủ vào thâm hụt ngân sách và nợ
công như thông lệ quốc tế. Nhiều khoản chi vào những dự án lớn dài hạn được phân bổ
dần vào quyết toán ngân sách trong nhiều năm thay vì tính cả vào năm trái phiếu được
phát hành để vay nợ Ngoài ra, sự không thống nhất trong cách hạch toán ngân sách
khiến cho các con số thống kê không phản ảnh chính xác thực trạng nợ công của Việt
Nam, gây nhiễu loạn thông tin cho các chủ thể nền kinh tế, và gây trở ngại cho việc so
sánh, đánh giá, quản lý rủi ro nợ công giữa Việt Nam với các quốc gia khác. Do vậy, Việt
Nam phải có phương pháp tính đúng, đầy đủ ngân sách theo chuẩn quốc tế nhằm phản
ánh chính xác tình trạng tài khóa, làm cơ sở cho sử dụng chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý
nhằm giảm bội chi và kiểm soát lạm phát.
22
Thứ hai, cắt giảm các khoản chi tiêu công chưa thật cần thiết và kém hiệu quả bằng cách
đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư kém hiệu quả
hoặc chưa khởi công. Tuy nhiên, cần phải có cách đánh giá toàn diện hiệu quả chi tiêu
công theo các lĩnh vực khác nhau, không nên cắt giảm đồng loạt các chi tiêu theo một tỷ
lệ cố định nào đó, thực hiện rà soát, đánh giá chuyển vốn từ các công trình chưa khởi
công, khởi công chậm, thủ tục chưa hoàn thành sang các công trình cấp bách, hiệu quả
kinh tế cao hoặc hướng tới các lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể tham gia cùng. Ngoài
ra, các khoản chi tiêu thường xuyên cũng cần được tra soát lại tất cả các khâu hoạt động
để tổ chức lại bộ máy cho hợp lý hơn, cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết.
Thứ ba, kiểm soát các khoản đầu tư công của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) bằng cách
thành lập một Hội đồng thẩm định đầu tư của DNNN độc lập, nhiệm vụ của Hội đồng sẽ
đánh giá, thẩm định toàn diện khách quan các dự án đầu tư của DNNN. Các kết luận của
Hội đồng sau đó sẽ được công bố rộng rãi. Đồng thời, Hội đồng cũng đánh giá hiệu quả
của DNNN theo các tiêu chí về lợi nhuận, công nghệ, tạo công ăn việc làm, đóng góp vào
ngân sách dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch các thông tin về hoạt động kinh

thâm hụt này phải đi vay nợ quá lớn thì sẽ đưa đến gánh nặng nợ. Kết quả là đưa đến kích
thích tiêu dùng (kích cầu quá mức) thì chu kỳ sau sẽ kéo theo lạm phát, mà lạm phát cao
lại làm giảm đầu tư phát triển và giảm đầu tư phát triển kéo theo giảm tăng trưởng. Như
vậy, thực tế ở đây là cần có liều lượng của chi tiêu NSNN ở mức cho phép nhằm thúc đầy
đầu tư phát triển tăng lên và tiếp theo là đưa tăng trưởng kinh tế lên cao mà không kéo
theo lạm phát cao.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status