Trang
1
CHƯƠNG 1:
CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ
VÀNG VÀ LẠM PHÁT
1.1 Vàng là dấu hiệu chỉ báo và bảo hiểm chống lại lạm phát.
Nghiên cứu này cố gắng điều tra xem liệu vàng hay dầu là chỉ báo tốt hơn về
lạm phát và cố gắng tìm ra giữa vàng và dầu, đâu là nhân tố cung cấp hàng rào
chống lại lạm phát tốt hơn ở Thổ Nhĩ Kỳ. Các m
ối quan hệ lâu dài giữa giá dầu,
vàng và tỷ lệ lạm phát đã được điều tra bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng về
giá dầu, vàng và tỷ lệ lạm phát. Các dữ liệu bao gồm các giai đoạn từ ngày
10/02/1994 đến ngày 12/02/2008. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng chỉ số
CPI hiển thị một mối tương quan cao với cả giá vàng và giá dầu. Kết quả cũng
cho thấy vàng là một ch
ỉ số dự báo lạm phát tốt hơn so với dầu. Nghiên cứu kết
luận rằng khả năng bảo hiểm rủi ro lạm phát của cả vàng và dầu phụ thuộc vào
sự tồn tại của một mối quan hệ ổn định lâu dài với tỷ lệ lạm phát, với lưu ý rằng
vàng và CPI cũng như giá dầu và CPI không có quan hệ đồng liên kết có nghĩa
là không có mối quan hệ lâu dài giữ
a tỷ lệ lạm phát và giá vàng, giá dầu.
Sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods năm 1971, các nhà đầu tư bắt đầu
tìm kiếm các loại tiền tệ làm "nơi trú ẩn an toàn". Tuy nhiên các loại tiền tệ an
toàn nhất lại có liên quan đến nguy cơ kinh tế và chính trị. Vào thời điểm đó đầu
tư vàng hóa ra là một cách để tự bảo hiểm rủi ro. Vàng đóng vai trò tiền tệ trong
nhiều thế kỷ
và không bao giờ được sử dụng trong quá trình sản xuất do đó nó
đã giữ sức mua của nó về lâu dài (Jastram, 1977). Vàng khác với các tài sản
khác bởi vì tiềm năng đối với vàng là tính thanh khoản cao và nó phản ứng với
hiệu bước ngoặt của giá vàng trong giai đoạn 1960-1995 tại Hoa Kỳ để xem giá
vàng có phải là chỉ báo tốt về lạm phát. Mahdavi và Zhou (1997) so sánh giá
vàng và giá hàng hóa, đâu là chỉ số lạm phát hàng đầu bằng cách áp dụng
phương pháp đồng liên kết qua các thời kỳ 1958:Q1-1994:Q4 và 1970:Q1-
1994:Q4. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá vàng có thể là chỉ báo lạm phát tốt
phụ thuộc vào khoảng thời gian kiểm tra. Harmston (1998) xây dựng sức mua
của các chỉ
số vàng bằng cách chia các chỉ số vàng cho các chỉ số giá bán buôn
và so sánh các chỉ số này với nhau giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Nhật
Bản trong những khoảng thời gian khác nhau. Nghiên cứu của ông khẳng định
rằng vàng là nơi trú ẩn hiệu quả chống lại lạm phát lâu dài. Gosh và cộng sự
(2002) cũng kết luận rằng có một mối quan hệ lâu dài giữa giá vàng và chỉ số giá
bán buôn của Mỹ bằng cách sử dụng dữ
liệu hàng tháng 1976-1999 với kỹ thuật
Trang
3
đồng liên kết. Ranson và Wainright (2005) áp dụng phương pháp bình phương
bé nhất (OLS) để xem liệu dầu hay giá vàng là chỉ báo tốt hơn về lạm phát và lãi
suất không dự kiến trước được. Nghiên cứu kết luận rằng giá vàng tốt hơn so với
giá dầu trong vai trò là yếu tố dự báo lạm phát năm tới.
Dữ liệu sử dụng trong phân tích được lấy từ tháng 01/1996 đến tháng 02/2008
với 146 quan sát. Dữ liệu bao gồm các quan sát hàng tháng của giá vàng, giá dầu
và tỷ
lệ lạm phát dựa trên chỉ số giá tiêu dùng thu được từ Istanbul Gold
Exchange, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ và Reuters.
Để đánh giá độ mạnh của mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ lệ lạm phát, dầu và tỷ
lệ lạm phát, phương pháp đơn giản nhất là nhìn vào cấu trúc tương quan của các
nhân tố được đo bằng hệ số tương quan. Kiểm định nghiệm đơn vị và tiêu chuẩ
vi giá hội tụ trên thị trường vàng giao sau và họ đã tìm thấy sự tồn tại của hội tụ
giá. Bertus và Stanhouse (2001) tìm kiếm bong bóng giá trong giá vàng tươ
ng
lai và sử dụng phân tích nhân tố năng động, đã không thể tìm thấy chứng cứ của
bong bóng đầu cơ hợp lý. Cai và đồng sự (2001) xem xét các yếu tố trong biến
động lợi nhuận hằng ngày của các hợp đồng vàng giao sau và thấy rằng trong số
23 thông báo về kinh tế vĩ mô của Mỹ, báo cáo việc làm, GDP, CPI, và thu nhập
cá nhân có tác động lớn đến biến động lợi nhuận của vàng. Ciner (2001) xem xét
các mối quan hệ dài hạn giữ
a giá vàng và giá bạc và không tìm thấy mối quan hệ
trong dài hạn giữa giá của hai kim loại này. Phát hiện của ông mâu thuẫn với
những nghiên cứu trước đó của Adrangi và đồng sự (2002), Wahab và đồng sự
(1994), Escribano và Granger (1998), tất cả những người này đều tìm thấy quan
hệ đồng liên kết giữa giá vàng và bạc giao sau. Bailey (1998) nghiên cứu tác
động của cung tiền đối với sự bất ổn của thị trường vàng và thấy rằng sự biến
động của vàng gia tăng khi tốc độ tăng trưởng của cung tiền cao hơn mong đợi.
Cùng mạch suy nghĩ, Christie – David và đồng sự (2000) phân tích tác động của
các tin tức vĩ mô phát ra đối với giá vàng và giá bạc, và họ thấy rằng giá vàng
phản ứng khá mạnh đối với tin CPI.
Thị trường vàng đã có sự tăng giá khá vững chắc trong suốt thập kỷ qua. Điển
hình trong suốt giai đoạn 2002 – 2008 mức tăng giá của vàng trung bình hàng
năm khoảng 18.5%. Cùng trong thời gian đó, giá dầu cũng tăng khá mạnh, ở
mức trung bình 53.9%. Điều này đưa ra câu hỏi: phải chăng thị trường dầu đang
dẫn dắt thị trường vàng? Nếu điều này xảy ra, có nghĩa là giá dầu có thể được sử
dụng để dự đoán giá của thị trường vàng và ngược lại. Điều này cũng có nghĩa là
có sự không hiệu qu
ả trong cả hai thị trường.
Trang
5
tính toán từ tốc độ tăng trưởng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Ba dữ liệu này cụ
thể là giá vàng, giá dầu trung bình và CPI được lấy từ thống kê tài chính quốc tế,
được xuất bản bởi quỹ tiền tệ
quốc tế.
Trang
6
Đồ thị 1.1: Tốc độ tăng của giá vàng, giá dầu và tỷ lệ lạm phát của Mỹ trong giai
đoạn 1963-2008
Các quan sát chính là tốc độ tăng trưởng của giá dầu và giá vàng giao ngay di
chuyển rất chặt chẽ với nhau, trong khi lạm phát ổn định mà không có sự chênh
lệch đáng kể so với tốc độ tăng của giá vàng và giá dầu. Vì vậy, mối quan hệ
giữa lạm phát và giá dầu; lạm phát và giá vàng rõ ràng không phải là đồ hoạ.
Tác giả xác nhận điều này dựa vào kinh nghiệm sau đó bằng cách tiếp cận
phương pháp bình phương nhỏ
nhất. Liên quan đến ba giả thuyết thảo luận ở
trên, bài nghiên cứu đưa ra ba mô hình hồi quy tương ứng với từng giả thuyết
như sau:
Giả thuyết 1: π
t
= α
0
+ α
1
goil
t
+ ε
t
t
= 0.039 + 0.041goil
t
+ ε
t
(10.759) (3.358)
ggold
t
= -0.064 + 3.119π
t
+ µ
t
(-1.162) (2.870)
ggold
t
= 0.039 + 0.365goil
t
+ ω
t
(1.430) (3.842)
Kết quả thực nghiệm trong ngắn hạn hỗ trợ cho những giả thuyết thảo luận trên
về mối quan hệ giữa giá vàng và giá dầu; nói cách khác, kết quả tìm thấy sự hỗ
trợ cho cả ba giả thuyết. Tóm lại: (a) sự gia tăng giá dầu gây ra lạm phát, (b) sự
gia tăng lạm phát dẫn đến sự tăng giá của vàng, và (c) sự tăng giá của dầu làm
cho vàng tăng giá.
Một vài nghiên cứu
đã kiểm tra mối quan hệ giữa giá vàng và các biến kinh tế vĩ
mô khác, ví dụ như lạm phát cũng được tìm thấy có ý nghĩa thống kê đáng kể và
có mối quan hệ cùng chiều với giá vàng. Một nghiên cứu khác của Jaffe (1989)
nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận của vàng sử dụng số liệu
Một số chỉ số hàng đầu được theo dõi bởi các ngân hàng trung ương và các cơ
quan khác trong nền kinh tế để dự báo tỷ lệ lạm phát. Giá các tài sản tài chính
cũng được tìm thấy hữu ích đối với thuộc tính chỉ báo hàng đầu củ
a lạm phát vì
tỷ suất sinh lợi của chúng đã tính đến lạm phát kỳ vọng, nhưng sức mạnh dự
đoán của các tài sản tài chính chỉ được tìm thấy trong một số giai đoạn và đối
với một số nước nhất định, xem thêm khảo sát của Stock và Watson (2003).
Trong số tài sản tài chính đó, có thể kế đến giá vàng. Trong thực tế, vàng thường
được phân tích với vai trò là hàng hoá, nhưng không giống các hàng hóa thông
thường khác, vàng có sự khác bi
ệt lịch sử, vàng đã và đang được sử dụng để bảo
tồn giá trị và là nơi trú ẩn để chống lại lạm phát. Nếu xem vàng là một loại tài
sản tài chính, vàng có thể được kỳ vọng để xác định là nhân tố dự báo hàng đầu
cho lạm phát. Các nghiên cứu gần đây đã kiểm tra các chỉ báo hàng đầu khác
nhau cho lạm phát, như là nghiên cứu của Stock và Watson (1999), Cecchetti,
Chu và Steindel (2000), Boivin và Ng (2006) và Banerjee và Marcellino (2006)
đã không xem là giá vàng như là một ứng c
ử viên của chỉ báo hàng đầu. Tuy
nhiên, với sự đồng thuận chung đang nổi lên từ những nghiên cứu này cho thấy
Trang
9
rằng rất khó khăn để tìm một chỉ số hàng đầu cho lạm phát mà có thể thể hiện tốt
bước ngẫu nhiên (random walk), nên việc xem xét giá vàng tại thời điểm này có
thể là một quyết định đáng giá.
Vàng là một tài sản đặc biệt, vì vàng vừa là một loại hàng hóa, ví dụ trong việc
sản xuất đồ trang sức và các thiết bị công nghiệp, vừa là tài sản tài chính, nơi nó
có thể được sử dụ
ng như để bảo tồn giá trị. Vàng không có đối thủ trong việc
- Giá vàng là một chỉ số thống kê đáng kể nhất đối với các nước OECD đã
thông qua chính sách lạm phát mục tiêu. Cụ thể nếu giá vàng thế giới tăng
10% thời gian này, tỷ lệ lạm phát tại Canada sẽ tăng 0,25% trong 12 tháng kế
tiếp. Tại New Zealand, quốc gia đầu tiên đã thực hiện chính sách lạm phát
mục tiêu, 10% gia tăng của giá vàng thế giới sẽ dẫn đến một sự gia tăng
1,1% trong tỷ
lệ lạm phát trong 24 tháng tới, nếu tỷ giá vẫn không đổi.
- Đối với các nước OECD không thông qua chính sách lạm phát mục tiêu
chính thức, như Nhật Bản và Mỹ, nghiên cứu cho thấy sức mạnh giải thích
của vàng đối với lạm phát nói chung là yếu hơn. Vàng là một yếu tố dự báo
quan trọng của lạm phát ở Mỹ trong vòng một năm mặc dù mức độ phù hợp
của phương trình này là tương đố
i khiêm tốn. Vàng không cho thấy được yếu
tố dự báo đối với lạm phát tại Nhật Bản.
- Đối với các nước ngoài nhóm OECD, vàng là dấu hiệu chính xác cho lạm
phát tại Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Cụ thể
vàng tăng giá 10% sẽ kéo theo tỷ lệ lạm phát tại Trung Quốc tăng 1.2% trong
12 tháng tiếp theo; tuy nhiên, chất lượng của các dự báo này có thể bị ảnh
hưởng bởi tỷ giá h
ối đoái của Trung Quốc, được cố định trong suốt phần lớn
của mẫu thời gian nghiên cứu.
Một so sánh sâu hơn của giá vàng với các chỉ số lạm phát khác cho Canada
chứng tỏ vàng vẫn còn ý nghĩa thống kê khi được ghép đôi với các biến khác,
chẳng hạn như tiền, khoảng cách sản lượng, lạm phát của Mỹ hoặc giá dầu.
1.4 Tác động của sự thay đổi trong lạm phát k
ỳ vọng đến giá vàng.
Bài nghiên cứu này xem xét những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng tác động
đến giá vàng giao ngay như thế nào. Các bài báo tài chính thường đề cập đến
việc giá vàng chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng. Bài
nhà phân tích thị trường thường cho là những thay đổi đáng kể trong giá vàng do
tác động của thay đổi trong lạm phát kỳ vọng. Alan Greenspan, cựu chủ tịch Cục
dự trữ liên bang Mỹ đã nhận xét rằng vàng là “một ch
ỉ số rất tốt” của lạm phát
và rất có ích trong cuộc chiến chống lại lạm phát.
Mặc dù có được sự công nhận rộng rãi về mối quan hệ giữa lạm phát và giá
vàng, tuy nhiên không có bằng chứng thực nghiệm thuyết phục đễ hỗ trợ nó.
Garner (1995) xem xét năm yếu tố dự báo hàng đầu cho lạm phát, trong đó có
vàng. Kết quả là ông chỉ tìm thấy sự hỗ trợ yếu duy nhất cho sức m
ạnh dự đoán
của các chỉ số. Mahdavi và Zhou (1997) kiểm tra phạm vi mà giá vàng và giá
các loại hàng hóa khác trong việc dự đoán lạm phát, và họ kết luận rằng sự đóng
góp của vàng đối với việc dự đoán lạm phát là không có ý nghĩa thống kê.
Trang
12
Cecchetti, Chu, và Steindel (2000) cho thấy rằng khi bao gồm vàng trong các chỉ
số hàng đầu dự báo lạm phát thì kết quả kiểm định của mô hình có hệ số âm,
nghĩa là giá vàng tăng cao hơn có liên quan đến lạm phát thấp hơn – hoàn toàn
ngược lại với giả thiết ban đầu.
Trong bài nghiên cứu này sử dụng những thay đổi bất ngờ của chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) như là đại diện cho những thay đổi bất ngờ của lạm phát kỳ
vọng.
Bất cứ khi nào có sự thay đổi bất ngờ của chỉ số CPI, giới tài chính cho rằng các
nhà phân tích sẽ xem xét lại dự báo của họ về lạm phát trong tương lai. Ví dụ,
nếu chỉ số CPI bất ngờ tăng mạnh thì sẽ được hiểu là lạm phát sẽ cao hơn trong
tương lai. Do nguồn vốn cần thiết để đầu tư vào vàng đòi hỏi các quỹ phải từ bỏ
việc đầu tư vào các tài sản khác, nên chi phí đầu tư vào vàng là chi phí cơ hội
đầu tư của các quỹ vào các tài sản khác với cùng mức độ rủi ro. Những nghiên
-
Giá vàng không thay đổi như là kết quả của những thay đổi trong kỳ vọng về
lạm phát trong tương lai. Những bài báo tài chính thường gắn chặt sự thay
đổi của giá vàng với những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng có thể đã sai
lầm.
- Thậm chí nếu một nhà đầu tư có tầm nhìn xa hoàn hảo và biết rằng lạm phát
trong tương lai sẽ khác biệt đáng kể với kỳ vọng của th
ị trường, thì nhà đầu
tư đó cũng không thể thiết lập được sự đầu cơ có lợi nhuận từ thị trường
vàng để được lợi từ những thông tin đó. Tuy nhiên nhà đầu tư có thể tìm
kiếm được lợi nhuận đầu cơ từ thị trường trái phiếu, hay nói cách khác, nhà
đầu tư nên sử dụng thị trường trái phiếu để đầu cơ trên sự thay đổi c
ủa lạm
phát kỳ vọng thay vì là sử dụng thị trường vàng.
- Cuối cùng, không thể xác định được lạm phát kỳ vọng của thị trường bằng
cách xem xét giá vàng giao ngay.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Với những bằng chứng thực nghiệm của những nghiên cứu tiền đề trên thế giới về
mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát, có thể cho thấy rằng giá vàng và lạm phát
tồn tại m
ột mối quan hệ tác động qua lại và trong một số trường hợp có thể sử dụng
giá vàng để làm chỉ số dự báo lạm phát trong tương lai.
Trang
GDP lên đến trên 6,2 lần-một hệ số rất cao. Do vậy, dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức
khoảng 125%, cao gấp đôi con số tương ứng của nhiều nước. Cùng với tăng trưởng
tín dụng là tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, mà tổng phương tiện thanh
toán của Việt Nam không chỉ là tiền đồng mà còn có vàng, có ngoại tệ.
Trang
15
Tình trạng vàng hóa và đô la hóa khá cao cũng gây ra tác động tiêu cực đối với lạm
phát trên 4 mặt.
- Hút vào thị trường vàng và USD một lượng vốn lớn của xã hội mà không được
đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền.
- Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh
toán tăng lên.
- Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác động tớ
i
nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo. Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại tác động đến
tâm lý, đến lòng tin vào đồng nội tệ...
- Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm phát ở
trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phát của
thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND.
Giá cả thế giới tăng là một trong nh
ững yếu tố quan trọng tác động đối với lạm phát
ở trong nước xét trên các góc độ khác nhau.
2.2 Giá vàng và lạm phát trong thời gian từ 2002-2010
Từ năm 2001 đến 2005, giá vàng thế giới liên tục trong xu hướng tăng mạnh, có lúc
tăng đột biến. Bắt đầu từ 2001, khi Tổng thống George Bush chính thức lên nắm
chính quyền tại Mỹ thì cũng là thời điểm khởi đầu của chu kỳ tăng giá vàng, đặc
biệt là từ sau v
400
500
600
700
800
7/82
7/83
7/84
7/85
7/86
7/87
7/88
7/89
7/90
7/91
7/92
7/93
7/94
7/95
7/96
7/97
7/98
7/99
7/00
7/01
7/02
7/03
7/04
7/05
DIỄN BIẾN GIÁ VÀNG THẾ GIỚI THEO THÁNG
Đồ thị 2.2 Nhu cầu về vàng ở Việt Nam 1992 – 2007 (Đvt: Tấn)
Nguồn World Gold Council
Nhìn qua 3 đồ thị 2.3, 2.4 và 2.5, chúng ta thấy rõ tác động của từng yếu tố đến xu
hướng của giá vàng. Cụ thể, trong khi xu hướng của tỷ giá đô la Mỹ và giá dầu là
tăng từ năm 1998 đến 2001 giai đoạn này giá vàng tương đối ổn định. Từ năm 2001
đến 2003 giá vàng tăng nhẹ và giá dầu giảm nhẹ trong khi tỷ giá đô la Mỹ tăng cao.
Từ năm 2003 đến năm 2007, giá vàng, giá dầu và tỷ
giá đô la Mỹ cùng trong xu
hướng tăng cao.
Đồ thị 2.3 Giá vàng TG và giá vàng Việt Nam từ năm 1998 đến 2007
Trang
18
-
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
30,000
35,000
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Giá vàng TG (đ/lượng) Giá vàng VN (đ/lượng)
Nguồn Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh và website www.kitco.com
Tỷ giá đô la Mỹ tăng lên hàng năm, giai đoạn từ 2000 đến 2003 tăng cao, sau đó
tăng nhẹ từ năm 2004 đến 2007
Đồ thị 2.4 Tỷ giá đô la Mỹ từ năm 1998 đến 2007
Giá dầu thế giới (USD/thùng)
Nguồn Reuters
Hai nỗi lo trái ngược thống trị trong năm 2008 là lạm phát và giảm phát đã tạo
những cơn sóng trồi sụt liên tục cho vàng. Vàng liên tục gia tăng giá trị cùng với sự
leo dốc của chỉ số lạm phát trong những tháng đầu năm 2008, tuy nhiên nửa cuối
năm còn lại thật sự là quãng thời gian khó khăn cho giá vàng khi nó phải liên tục dò
tìm những đáy mới trong bối cảnh nỗi lo suy giảm kinh tế toàn cầu gia t
ăng.
Năm 2008 chứng kiến sự lan rộng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất
phát từ sự sụp đổ thị trường địa ốc kéo theo một số lượng con nợ lớn chưa từng thấy
của thị trường cho vay dưới chuẩn tại Mỹ. Ảnh hưởng của nó đã khiến nhiều nền
kinh tế trên thế giới chao đảo và trong bối cảnh lạ
m phát tăng cao, các nhà đầu tư ồ
ạt chuyển vốn sang thị trường vàng - loại hàng hóa an toàn và hấp dẫn trong thời kỳ
lạm phát và xu hướng này thực sự đã tạo ra một hậu phương hết sức vững chắc giúp
quý kim thẳng tiến chinh phục những đỉnh cao mới. Vào ngày 17/03/2008, thị
trường tiền tệ thế giới ghi nhận mức giá kỷ lục trong lịch sử của giá vàng – mức
1.033,90 USD/Oz. Chỉ tính trong quý 1/2008, vàng
đã gia tăng được 14% giá trị của
nó. Nỗi ám ảnh về lạm phát ngày càng đe dọa toàn cầu, trong đó biểu hiện rõ ràng
nhất là việc giá dầu cứ tiếp tục leo lên từng mốc, mốc sau lại cao hơn mốc trước và
việc FED liên tục hạ lãi suất để chống đỡ với sự tàn phá của cuộc khủng hoảng tín
dụng trong khi các NHTW khác lại cố gắng giữ lãi suất ở mứ
c cao nhằm kiềm chế
lạm phát lại càng gây sức ép nặng nề cho đồng USD.
Trang
20
vốn từ lâu đời có tính an toàn và bảo toàn giá trị khiến vàng có những phiên trồi sụt
thất thường và giao động trong biên độ rộng từ 750 – 980 USD/Oz.
“Cơn sóng thần” của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra nhiều hậu quả
nặng nề: sự
thua lỗ, đổ vỡ, quốc hữu hóa, phá sản, vỡ nợ… Chính phủ các nước
Trang
21
phải đưa ra các kế hoạch hỗ trợ cho nền kinh tế tuy nhiên những giải pháp này vẫn
chưa phát đi những tín hiệu đáng mừng nào cho thị trường. Hơn nữa, nỗi ám ảnh về
mối lo giảm phát đã đưa thời kỳ “bong bóng”của thị trường hàng hóa đi vào hồi kết
trong đó giảm sâu nhất phải kể đến dầu thô có lúc giảm tới 70% so với đỉnh điể
m
hồi tháng 7 và liên tục trượt dài đến nay mặc cho những nỗ lực của các nước sản
xuất dầu lớn nhất thế giới như OPEC, Nga, Arab Saudi đã cắt giảm mạnh sản lượng.
Vàng và dầu không còn có thể tiếp tục đồng hành cùng nhau: trong khi dầu liên tục
trượt dốc không phanh từ tháng 7 đến nay và có lúc giảm chỉ còn 33.87 USD/thùng
(19/12); vàng vẫn giữ được phong độ là loại hàng hóa giảm giá ít nhất trong chỉ số
Reuters/Jefferies CRB Index của 19 lo
ại hàng hóa (chỉ giảm khỏang 12% giá trị)
nhờ những tính chất truyền thống vốn có của nó.
Nhu cầu đối với vàng với tư cách là mặt hàng an toàn không mất đi thậm chí cả tình
hình kinh tế không mấy sáng sủa, nhất là dư âm từ vụ sụp đổ Lehman Brother và
các tổ chức tài chính khổng lồ khác đã đưa giá vàng lên đỉnh cao vào ngày
10/10/2008 ở mức 950USD/Oz, đồng thời với những rắc rối vẫn chưa
được tháo gỡ
triệt để của các nền kinh tế hàng đầu và việc FED quyết định đưa lãi suất về mức
thấp nhất trong lịch sử, cộng thêm những biện pháp bơm USD với khối lượng
khổng lồ vào nền kinh tế để chống khủng hoảng đang tạo áp lực mất giá trở lại đối
nhanh và mạnh chưa từng có của vàng trong nước. Ngày lịch sử của thị trường vàng
trong nước năm này là 11/11, khi giá vàng lần lượt chinh phục các mốc giá 27, 28,
rồi 29 triệu đồng/lượng chỉ trong vòng có vài giờ đồng hồ buổi sáng. Đỉnh cao mọi
thời đại của giá vàng trong nước năm 2009 là mốc 29,3 triệu đồng/lượng.
Đầu năm 2009, giá vàng trong nước đứng ở mức g
ần 18 triệu đồng/lượng. Tính tới
ngày 24/12, khi giá vàng ở mức 26,5 triệu đồng/lượng, thì giá vàng trong nước đã
tăng 8,5 triệu đồng/lượng, tương đương 47%.
Điều đáng nói là giá vàng thế giới năm 2009 lập kỷ lục giữa lúc khủng hoảng tài
chính không còn căng thẳng như năm 2008, đồng thời rủi ro lạm phát cũng không
phải là một mối lo lớn của hầu hết các quốc gia. Tuy không phát huy được tố
i đa vai
trò “hầm trú ẩn an toàn”, giá vàng năm nay lại được hỗ trợ nhiều bởi chính sách tiền
tệ và tài khóa nới lỏng của nước Mỹ. Xu hướng suy yếu của tỷ giá USD do Cục Dự
trữ Liên bang Mỹ (FED) duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục là nhân tố nâng
đỡ tích cực nhất cho giá vàng trong năm.
Thay vì là vàng, kênh đầu tư được xem là “vịnh tránh bão” hàng đầu năm nay trên
thị trường thế giớ
i chính là đồng USD. Trong hầu hết thời gian của năm, đồng “bạc
xanh” được nâng đỡ mỗi khi có thông tin kinh tế bất lợi xuất hiện, và giảm giá khi
có tin tốt.
Trang
23
Giảm dự trữ USD và tăng dự trữ vàng là cách đa dạng hóa dự trữ ngoại hối mà ngân
hàng trung ương nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi lớn như Trung
Quốc, Nga, Ấn Độ, Brazil..., đang thực hiện. Trong đợt Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
bán 403,3 tấn vàng đang diễn ra, Ấn Độ đã mua 200 tấn, Sri Lanka mua 10 tấn,
Maritus mua 2 tấn. Ấn Độ, Trung Quốc và Nga được gi
24
Nhìn chung, giá vàng trong nước năm 2009 biến động cùng chiều với giá vàng thế
giới. Tuy nhiên, do còn chịu tác động từ tình hình cung cầu và biến động tỷ giá
USD/VND nên giá vàng trong nước năm này có thời điểm thấp hoặc cao hơn giá
vàng thế giới tới cả triệu đồng/lượng. Ở thời điểm giữa quý 1, khi người dân ồ ạt
bán vàng để chốt lời ở mức giá 19-20 triệu đồng/lượng, còn doanh nghiệp mạnh tay
gom mua để xuất khẩu, giá vàng trong nước có lúc thấp hơn giá vàng thế giới 1,5
triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vào giữa quý 4, khi các nhà đầu tư tranh mua vàng,
giá vàng trong nước lại thường xuyên cao hơn giá thế giới. Trong ngày sốt đỉnh
điểm 11/11, giá vàng trong nước có lúc cao hơn giá vàng thế giới 3,6 triệu
đồng/lượng. Thừa hoặc thiếu cung vàng là lý do chính mà các công ty kim hoàn đưa
ra để lý giải cho sự vênh giá trên. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, sự lệch giá này
là kết quả của hoạt
động ghìm giá hoặc thổi giá của giới đầu cơ.
Đồ thị 2.6: Giá vàng TG, giá vàng VN và tỷ giá USD giai đoạn 2008-2010
0
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
30,000
35,000
40,000
0
1
/20
0
8
nguyên nhân quan trọng khiến giá vàng trong nước không tăng giảm cùng biên độ
với giá vàng thế giới, thậm chí biến động ngược chiều với giá vàng thế giới.
Qua đồ thị 2.6 và 2.7, chúng ta thấy xu hướng giá vàng trong nước là cùng chiều giá
vàng thế giới và tỷ giá đô la Mỹ nhưng ngược chiề
u với giá dầu.
Trang
25
Đồ thị 2.7 Giá dầu thế giới từ năm 2008 đến tháng 3/2010
91.48
53.56
70.26
0
20
40
60
80
100
2008 2009 2010
Giá dầu TG (USD/thùng)
Nguồn website
Năm 2009 tiếp tục chứng kiến tâm lý đám đông của các nhà đầu tư vàng nhỏ lẻ ở
trong nước. Trong quý 1, người dân tỏ ra sáng suốt khi xếp hàng để bán vàng chốt
lãi ở các mức giá 19-20 triệu đồng/lượng. Trong quý 2 và quý 3, do sức hút từ sự
phục hồi của thị trường chứng khoán và nhà đất, thị trường vàng trong nước khá
trầm lắng mặc dù giá vàng lần lượt chinh phục các mốc 21-22 triệu
đồng/lượng.