nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu của công ty cổ phần đầu tư thương mại và dịch vụ tổng hợp hà nội (servico ha noi) - Pdf 25

~ 1 ~

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN………………………………………………………………iv
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………….1
CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG
LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP…………….4
1.1. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh và nâng ca năng lực cạnh
tranh………………………………………………………………………….4
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh……………4
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh sản
phẩm của doanh nghiệp………………………………………………8
1.2. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh sản phẩm của
doanh nghiệp…………………………………………………………………9
1.2.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp………………………9
1.2.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp…………………….13
1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm
của doanh nghiệp…………………………………………… 17
1.3.1. Thị phần sản phẩm………………………………………17
1.3.2. Chi phí sản xuất và giá bán sản phẩm………………… 18
1.3.3. Chất lượng sản phẩm……………………………………19
1.3.4. Thương hiệu và uy tín của sản phẩm……………………20
1.3.5. Doanh thu và lợi nhuận………………………………….21
1.4. Các công cụ cạnh tranh sản phẩm của doanh nhiệp…………21
1.4.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm………………… 22
1.4.2. Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm……………………….23
1.4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối……………………24
~ 2 ~

1.4.4. Cạnh tranh bằng chính sách marketing……………….27

3.1.1. Mục tiêu phát triển…………………………………….56
3.1.2. Định hướng phát triển………………………………… 57
3.2. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu
của Công ty…………………………………………………………………58
3.2.1. Xây dựng quan hệ chặt chẽ và củng cố mối liên kết với đối
tác - bạn hàng…………………………………………………………59
3.2.2. Xây dựng quan hệ tốt với ngân hàng……………………59
3.2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động thu mua và xuất khẩu nông
sản…………………………………………………………… 60
3.2.4. Tăng cường đầu tư cho các cơ sở sản xuất và chế biến
nông sản xuất khẩu……………………………………………………62
3.2.5. Hoàn thiện công tác nghiên cứu và dự báo thị trường… 63
3.2.6. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại……………… 64
3.2.7. Nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ cho cán bộ
nhân viên Công ty…………………………………………………….66
3.3. Một số kiến nghị đối với Nhà nƣớc……………………………….67
3.3.1. Tổ chức tốt việc thu thập, xử lý và dự báo thông tin cho
các doanh nghiệp…………………………………………………………….67
3.3.2. Hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến
thương mại……………………………………………………………69
3.3.3. Thúc đẩy quá trình và tạo cơ chế liên kết giữa 4 „nhà‟…69
3.3.4. Đẩy mạnh cải cách hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho
xuất khẩu…………………………………………………………… 70
KẾT LUẬN…………………………………………………………………72
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………74

~ 4 ~ LỜI CẢM ƠN

hiện nay nói chung và trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam nói
riêng. Hội nhập và cạnh tranh là hai mặt cùng song hành trong tiến trình toàn
cầu hóa. Kể từ khi có chính sách đổi mới kinh tế, Việt Nam ngày càng hội
nhập sâu hơn vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Cùng với việc
tham gia vào các tổ chức và diễn đàn kinh tế lớn như Tổ chức thương mại
thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Khu vực tự
do thương mại các nước ASEAN (AFTA), hay Diễn đàn hợp tác kinh tế
Châu Á Thái Bình Dương (APEC), việc mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế
là hoạt động quan trọng thúc đẩy sản xuất trong nước, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài và nâng cao hiệu quả của phân công lao động, trong đó hoạt
động xuất khẩu đóng vai trò then chốt. Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại
nhiều cơ hội kinh doanh hơn, tạo thêm nhiều ngành nghề mới. Tuy nhiên,
hội nhập càng sâu thì mức độ cạnh tranh càng đa chiều và gay gắt hơn. Bởi
vậy, muốn thành công khi tham gia vào quá trình khu vực hóa và quốc tế hóa
mỗi quốc gia phải không ngừng phát triển kinh tế - xã hội, mỗi doanh nghiệp
phải nỗ lực phát huy nội lực, tăng cường khả năng cạnh tranh của mình.
Đối với các doanh nghiệp Việt nam, trong đó có Công ty Cổ phần Đầu tư
Thương mại và Dịch vụ Tổng hợp Hà Nội (SERVICO HANOI), một trong
những vấn đề lớn và cấp bách đang được đặt ra đối với các công ty là làm
thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và sản
phẩm xuất khẩu nói riêng. Là một doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành
phố Hà Nội, được thành lập từ cuối thập niên 70, hoạt động chủ yếu trong
lĩnh vực kinh doanh, bao gồm cả kinh doanh xuất nhập khẩu, SERVICO
~ 6 ~

HANOI đã và đang có những đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế
của thủ đô Hà Nội. Sau hơn 30 năm hoạt động, SERVICO HA NOI đã tạo
lập cho mình vị thế nhất định trong sồ các doanh nghiệp cổ phần hóa của
Thủ đô Hà Nội. Song cũng như các doanh nghiệp Việt Nam khác, đứng
trước áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường trong nước và

tranh.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Lý thuyết chung về năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh
nghiệp.
Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu của công ty
Cổ phần Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Tổng hợp Hà Nội
Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu của công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và
Dịch vụ Tổng hợp Hà Nội
~ 8 ~

Chƣơng 1
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh và nâng cao năng lực
cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1.1. Cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, xã hội và kinh
tế. Hiện nay xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều cách hiểu
khác nhau về khái niệm cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong kinh tế nói
riêng. Theo từ điển Contemporary English (2005) do nhà xuất bản Longman

tranh, cần phải có môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các chủ
thể. Xu thế hiện nay là chuyển từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh trên
cơ sở hợp tác, đôi bên cùng có lợi.
1.1.1.2. Năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ „năng lực cạnh tranh‟ (NLCT) là một khái niệm được dùng
để đánh giá khả năng cạnh tranh của các chủ thể, có thể là quốc gia, các
ngành hay các doanh nghiệp. Đây là một khái niệm đa chiều nhận được khá
nhiều sự quan tâm và chưa có sự thống nhất giữa các nhà hoạch định chính
sách, các nhà kinh tế, các học giả ở nhiều nước khác nhau. Tùy vào hoàn
cảnh và mức độ, mỗi cách thức tiếp cận khác nhau đem lại những định nghĩa
khác nhau về năng lực cạnh tranh.
~ 10 ~

Theo tác giả Momaya và Ambastha (2004), năng lực cạnh tranh đơn
giản là khả năng cạnh tranh. Ngày nay đây là một khái niệm phổ biến để chỉ
sức mạnh về mặt kinh tế của một quốc gia, một ngành kinh tế hoặc một
doanh nghiệp khi so sánh với các đối thủ của nó trong nền kinh tế thị trường
toàn cầu mà ở đó hàng hóa, dịch vụ, con người, kỹ năng và ý tưởng có thể
dịch chuyển tự do không giới hạn bởi các biên giới địa lý.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), năng lực cạnh tranh là khả
năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hay một nước giành thắng
lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh
trên thị trường tiêu thụ. Còn theo quan điểm của UNCTAD (Hội nghị Liên
hợp quốc về thương mại và phát triển) thì năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần
một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền,
đẹp, rẻ của doanh nghiệp.
Tác giả Nguyễn Hữu Thắng (2007, tr 22) đưa ra khái niệm về năng lực
cạnh tranh có đề cập đến yếu tố sản xuất và mục tiêu, nhiệm vụ của doanh
nghiệp như sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì

phần lớn, chi phí sản xuất thấp.
Nhìn chung, cho đến nay hầu hết các nghiên cứu về NLCT đều có sự
kết hợp cả ba trường phái này bởi vì mỗi trường phái đều có những mặt
mạnh và những hạn chế riêng.

1.1.2. Vai trò của cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh sản
phẩm của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa
ngày càng mạnh mẽ, cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát
~ 12 ~

triển kinh tế ở mỗi quốc gia nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng. Cạnh
tranh là động lực thúc đẩy các chủ thể phải không ngừng đổi mới và liên tục
sáng tạo để bắt kịp xu hướng thời đại, vượt lên đối thủ nếu muốn tồn tại và
phát triển, nếu không sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.
Như đã đề cập ở phần trên, nếu phát huy được mặt tích cực của cạnh
tranh và hạn chế được mặt tiêu cực của cạnh tranh thì các doanh nghiệp sẽ
phát triển, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển, xã hội phồn vinh, đời sống
dân sinh được nâng cao và vị thế quốc gia được khẳng định. Một đất nước
cường thịnh phải có những người dân giầu, những doanh nghiệp mạnh và
nền kinh tế phát triển.
Để có thể cạnh tranh thành công trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế, trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì các doanh nghiệp
phải có năng lực cạnh tranh cao. Muốn có NLCT cao doanh nghiệp phải xây
dựng được cho mình những sản phẩm có NLCT cao. Toàn cầu hóa đem lại
nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho các doanh nghiệp. Cùng
với nó, sự hình thành và ra đời của nhiều tổ chức quốc tế và các khu vực
thương mại tự do đã dần xóa bỏ các hàng rào thuế quan khiến cho sản phẩm
của các doanh nghiệp phải cạnh tranh không chỉ trên sân nhà mà trên phạm
vi toàn cầu. Do vậy chỉ có nâng cao NLCT sản phẩm của mình thì các doanh

chính trị - pháp luật và đối thủ cạnh tranh. Đây là những yếu tố nằm ngoài
khả năng kiểm soát của doanh nghiệp song lại có tác động mạnh đến NLCT
và khả năng nâng cao NLCT sản phẩm của doanh nghiệp
1.2.1.1. Yếu tố chính trị - pháp luật
Thể chế, chính sách chính là tiền đề cho hoạt động của doanh nghiệp.
Nội dung của thể chế, đường lối chính trị bao gồm các qui định pháp luật,
các biện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư sản xuất, kinh doanh đối với
~ 14 ~

hàng hóa, dịch vụ, ngành nghề, công nghệ, địa bàn v v, và các chính sách
đối ngoại của quốc gia, nghĩa là các biện pháp điều tiết cả đầu vào lẫn đầu ra
và toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đây là yếu rất quan trọng
và bao quát nhiều vấn đề của doanh nghiệp, ảnh hưởng mạnh tới việc nâng
cao NLCT sản phẩm của doanh nghiệp.
Các chính sách ưu tiên hoặc hỗ trợ của nhà nước có tác động tích cực
lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần đáng kể vào việc ổn
định sản xuất và nâng cao NLCT sản phẩm của doanh nghiệp.
Hơn nữa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,
các doanh nghiệp không chỉ đương đầu với đối thủ trong nước mà cả đối thủ
nước ngoài. Vì thế môi trường chính trị và kinh tế thế giới cũng rất có ý
nghĩa đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu. Sự ổn định hoặc bất ổn định về chính trị hay kinh tế ở mỗi quốc gia,
cùng với các chính sách ưu đãi hoặc hạn chế của chính phủ nước đó đối với
một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nào đấy đều ảnh hưởng tới khả năng tiếp
cận thị trường và khả năng cạnh tranh của các doanh nhiệp nước ngoài muốn
xâm nhập thị trường và làm ăn với đối tác tại thị trường đó.
1.2.1.2. Yếu tố môi trƣờng kinh tế
Sự ổn định kinh tế vĩ mô có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động
của doanh nghiệp nói chung và nâng cao NLCT sản phẩm của doanh nghiệp
nói riêng. Một nền kinh tế ổn định là cơ sở của một nền tài chính quốc gia ổn

Nhóm đối tượng thứ hai của doanh nghiệp đó là các đối thủ cạnh tranh
tiềm ẩn, là những chủ thể hiện nay chưa xuất hiện trên thị trường nhưng có
khả năng cạnh tranh trong tương lai. Khả năng cạnh tranh của nhóm đối thủ
này tùy thuộc vào chi phí đầu tư để gia nhập ngành, nếu phí tổn gia nhập
ngành càng cao thì rào cản ngăn chặn việc gia nhập sẽ càng cao và ngược lại.
~ 16 ~

Rào cản chủ yếu ngăn chặn sự gia nhập ngành của các đối thủ tiềm ẩn là tính
kinh tế nhờ qui mô, sự khác biệt hóa sản phẩm, nhu cầu vốn đầu tư tối thiểu,
các lợi thế đặc biệt của các đối thủ hiện có, và cuối cùng là chính sách của
Nhà nước.
Một nhóm đối thủ khác mà doanh nghiệp không thể không tính đến là
các doanh nghiệp cung cấp các mặt hàng hoặc dịch vụ thay thế. Sự xuất hiện
của các sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với
các doanh nghiệp trong cùng ngành. Sự sẵn có của các sản phẩm, dịch vụ
thay thế trên thị trường và khả năng thay thế dễ dàng là mối đe dọa trực tiếp
đến cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp, khả năng phát triển, khả năng
cạnh tranh của sản phẩm và mức lợi nhuận của doanh nghiệp.

quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Năng lực quản lý được
thể hiện tập trung ở năng lực của hàng ngũ đứng đầu doanh nghiệp và xuất
phát từ trình độ học vấn và quá trình đào tạo của các nhà quản lý. Năng lực
quản lý của người lãnh đạo được thể hiện ở:
- Trình độ văn hóa.
- Trình độ chuyên môn.
- Sự năng động, nhậy bén trước những biến động trên thị trường và khả năng
phân tích nắm bắt cơ hội.
- Sự mạnh dạn dám đầu tư, đổi mới.
- Tầm nhìn chiến lược.
Nguồn nhân lực là vốn quý của doanh nghiệp, có ý nghĩa quyết định
đối với sự sống còn của doanh nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến NLCT sản
phẩm của doanh nghiệp. Nhân lực có trình độ cao sẽ tạo ra các sản phẩm có
hàm lượng chất xám cao và có khả năng đưa ra những ý tưởng mới, những
sáng kiến hay, những kế hoạch kinh doanh hiệu quả tận dụng được thời cơ
nhờ đó giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
tăng lợi nhuận đồng thời củng cố vị thế của doanh nghiệp, nâng cao NLCT.
Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ chuyên môn, tay nghề, tác
phong lao động và ý thức kỷ luật.
1.2.2.2. Năng lực tài chính
Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đối với sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn hoạt động và
canh tranh được trước hết phải có đủ năng lực tài chính. Trong môi trường
cạnh tranh gay gắt thì vị thế tài chính của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh
của doanh nghiệp trong cạnh tranh và có ảnh hưởng lớn đến sự thành bại của
doanh nghiệp trên thương trường.
~ 19 ~

Năng lực tài chính của doanh nghiệp phản ánh sức mạnh kinh tế của
doanh nghiệp, là điều kiện bắt buộc phải có để doanh nghiệp thành công

nghệ tác động đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng tới
năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Việc áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện
đại làm giảm chi phí tiêu hao, tăng năng suất lao động, rút ngắn thời gian sản
xuất, nâng cao chất lượng, giảm ô nhiễm, hạ giá thành dẫn đến NLCT sản
phẩm của doanh nghiệp được nâng lên. Tuy nhiên, để có thể sử dụng công
nghệ, máy móc thiết bị có hiệu quả, doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ
thích hợp với đặc tính của sản phẩm, phải dự báo trước được chu kỳ đổi mới
của công nghệ để thay thế.
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, sức cạnh tranh của hàng hóa và
dịch vụ còn thể hiện ở hàm lượng công nghệ trong đó. Khả năng tiếp nhận,
lĩnh hội và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phản ánh NLCT của
doanh nghiệp. Đặc biệt việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp doanh
nghiệp nhanh chóng tiếp cận và xử lý thông tin, nắm bắt những thay đổi trên
thị trường và của đối thủ cạnh tranh để đưa ra quyết sách, kịp thời nắm bắt
cơ hội, chủ động trong hoạt động sản xuất và kinh doanh cũng như quản lý,
nhờ đó giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. 1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm của
doanh nghiệp
Để đánh giá NLCT sản phẩm của doanh nghiệp cần phải sử dụng kết
hợp nhiều tiêu chí khác nhau. Dưới đây là một số tiêu chí quan trọng để đánh
giá NLCT sản phẩm của doanh nghiệp.
~ 21 ~

1.3.1. Thị phần sản phẩm
Thị phần là một trong những tiêu chí định lượng quan trọng cho thấy
vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và của sản phẩm nói riêng trên
thị trường. Đó là phần thị trường mà doanh nghiệp bán được sản phẩm của
mình một cách thường xuyên và có xu hướng phát triển. Sản phẩm của

của doanh nghiệp. Nếu các sản phẩm cùng loại có chất lượng và chức năng
tương tự nhau, dịch vụ khách hàng được cung cấp như nhau, các điều kiện
mua bán như nhau thì tiêu chí về giá sẽ là tiêu chí quan trọng quyết định sự
lựa chọn của người tiêu dùng. Nếu cùng sản xuất một sản phẩm như nhau,
trong suốt giai đoạn bán sản phẩm trên thị trường, doanh nghiệp nào giữ
được mức giá cao ban đầu mà vẫn thu hút được lượng khách hàng, lợi nhuận
tương đối so với doanh nghiệp khác thì sản phẩm của doanh nghiệp đó có
năng lực cạnh tranh hơn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, doanh nghiệp không chỉ cạnh
tranh với các đối thủ trong nước mà còn cả các đối thủ nước ngoài. Sự xâm
nhập ngày càng lớn của hàng hóa, dịch vụ vào mọi thị trường, mọi quốc gia
khác nhau đã buộc các doanh nghiệp phải tìm cách duy trì khả năng cạnh
tranh của mình bằng chiến lược về giá cả. Giá cả cũng ảnh hưởng nhiều đến
thị phần của doanh nghiệp. Trung Quốc là một ví dụ điển hình cho thấy sự
thành công trong việc cạnh tranh giá thấp. Các sản phẩm như dệt may, da
giầy, điện tử v v của Trung Quốc có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới và
được người tiêu dùng chấp nhận. Được như vậy chủ yếu là nhờ sản phẩm
của Trung Quốc có giá thấp hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại của các đối
thủ cạnh tranh.
1.3.3. Chất lƣợng sản phẩm
~ 23 ~

Chất lượng sản phẩm là yếu tố hàng đầu để thành công trong cạnh
tranh. Trong môi trường hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì
chất lượng sản phẩm là vấn đề bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp để có thể
đứng vững cả trên thị trường nội địa lẫn thị trường quốc tế. Khi điều kiện
sống và thu nhập của người tiêu dùng được nâng cao thì giá cả không còn là
mối bận tâm lớn nhất của họ, vậy nên những đòi hỏi về chất lượng sản phẩm
ngày càng khắt khe hơn.
Chất lượng sản phẩm được thể hiện ở mức độ thỏa mãn nhu cầu của

cấu thành từ các yếu tố như logo, khẩu hiệu, biểu tượng, mầu sắc . v v. Phần
lớn người tiêu dùng có thói quen mua các hàng hóa có thương hiệu quen
biết, rất ngại mua sản phẩm có thương hiệu mới do chưa tin tưởng. Một sản
phẩm, dịch vụ gắn với một thương hiệu uy tín sẽ tạo cho khách hàng cảm
giác thân quen và yên tâm hơn, hướng tới việc tiêu dùng sản phẩm mang
thương hiệu đó, dần dần thu hút khách hàng mua nhiều hơn.
Hơn nữa, thương hiệu và uy tín tạo sự khác biệt giữa các doanh
nghiệp. Thương hiệu mạnh không những giúp khẳng định hình ảnh, vị thế
của doanh nghiệp trên thị trường mà còn có khả năng điều khiển thị trường
như thay đổi giá, kiểm soát kênh phân phối, đồng thời giúp doanh nghiệp dễ
dàng thâm nhập nhanh và sâu hơn vào thị trường mới. Chính vì vậy, thương
hiệu và uy tín là tiêu chí không kém phần quan trọng để đánh giá NLCT sản
phẩm của doanh nghiệp.
1.3.5. Doanh thu và lợi nhuận
Doanh thu và lợi nhuận cũng là những tiêu chí có tính định lượng thể
hiện hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và liên quan
chặt chẽ với nhau. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện ở
chỉ số doanh thu trên tổng tài sản, doanh thu/vốn chủ sở hữu, lợi nhuận hay
tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp, đi cùng với đó là các chỉ số về tăng
~ 25 ~

trưởng doanh thu, tăng trưởng lợi nhuận qua các thời ky. Các chỉ số này cho
thấy mức độ duy trì ổn định và phát triển của doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện
mức độ đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng trị số
tuyệt đối (lợi nhuận thu được trên một đơn vị vốn kinh doanh hoặc lợi nhuận
thu được trên một đơn vị doanh thu), hoặc tỷ số tương đối (tỷ suất lợi nhuận
của doanh nghiệp so với tỷ suất lợi nhuận trung bình của ngành hoặc thị
trường). Chỉ tiêu này phản ánh rõ mức độ hiệu quả trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status