skkn tạo hứng thú học tập môn hóa học bằng cách liên hệ thực tế thpt trần phú - Pdf 25

Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vò: Trường THPT Trần Phú
Mã số:
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
Lĩnh vực nghiên cứu :
• Quản lý giáo dục 
• Phương pháp dạy học bộ mơn : Hóa Học 
• Phương pháp giáo dục 
• Lĩnh vực khác 
Có đính kèm :
Mơ hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác 
Năm học : 2010 – 2011
1
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
SƠ LƯỢC VỀ LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :
1. Họ và tên : Nguyễn Thị Phương Dung
2. Ngày, tháng, năm sinh : 25/10/1976
3. Nam, Nữ : Nữ
4. Địa chỉ : K37, khu phố 2 – phường Xuân Bình – Thị xã Long Khánh – Đồng
Nai
5. Điện thoại : 0613726311 (CQ)/ ĐTDĐ : 0933.432.806
6. Fax :…………………………….E-mail :………………….
7. Chức vụ : Giáo viên
8. Đơn vị công tác : Trường THPT Trần Phú
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất : Cử nhân Hóa học
- Năm nhận bằng : 1999
- Chuyên ngành đào tạo : Hóa học
III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC :

1.1.1.Hóa học với thực tiễn cuộc sống :
a) Tác động của hóa học đến đời sống con người :
Không có môn khoa học nào lại có nhiều ứng dụng như môn Hóa học :
- Trong tự nhiên, nhờ có hóa học mà chúng ta có thể khám phá thiên nhiên,
nắm được tính chất, quy luật của thiên nhiên và con người ngày càng thành công
trong ngành khoa học khám phá vũ trụ, trái đất,…
- Trong đời sống, sản xuất : Hóa học được ứng dụng trong việc nghiên cứu
thành phần, tác dụng, chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm, các quy trình sản
xuất (sản xuất, chế biến các nguồn nguyên liệu thô thành các nguyên liệu có thể sử
dụng trong đời sống sản xuất, chế biến các loại nông sản, chế tạo ra các đồ dùng,
vật dụng hằng ngày).
b) Tác dụng của các kiến thức thực tế về hóa học :
- Giúp học sinh nắm được cơ sở hóa học, nắm vững và củng cố kiến thức cơ
bản về hóa học.
- Nắm nhanh và kĩ các kiến thức đã học trong bài. Hóa học là ngành hóa học
thực nghiệm, học lý thuyết và kiểm tra lại bằng các thí nghiệm. Chính việc tiến
hành các thí nghiệm sẽ phát sinh các vấn đề để các em có thể hiểu sâu và kĩ các
kiến thức đã học, qua đó các em hiểu bài hơn.
3
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- Các kiến thức hóa học thực tế làm cho học sinh hiểu được vai trò to lớn
của hóa học trong đời sống : kinh tế, quốc phòng, sinh hoạt,… thúc đẩy sự ham hỏi
của học sinh.
- Giúp học sinh hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng trong đời sống
hằng ngày một cách đúng đắn. Các em sẽ nhận thức được những gì có ích, những
gì có hại để điều chỉnh hành vi của mình.
1.1.2. Tác dụng của việc liên hệ thực tế trong giảng dạy :
a) Với người thầy :
- Phát huy khả năng truyền thụ kiến thức của người thầy. Khi mở rộng kiến
thức hóa học thực tế trong bài giảng sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy.

tượng tự nhiên là một động cơ thúc đẩy học sinh học tập. Các kiến thức hóa học sẽ
thu hút sự chú ý lắng nghe trong giờ học và ham thích học hỏi, tìm kiếm sách vở,
rèn luyện khả năng sử dụng sách… Qua đó, các em sẽ thấy được những lý thú của
các kiến thức đã học, tăng thêm lòng yêu thích môn học.
4
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tập của
học sinh. Học sinh có khả năng mà không có hứng thú thì cũng không đạt kết quả,
giáo viên giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng tạo hứng thú học tập cho học sinh
thì chưa thành công. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải hội tụ kiến thức và tất cả
các yếu tố phục vụ cho công việc dạy học. Kỹ năng tạo hứng thú là kỹ năng quan
trọng nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiên người giáo viên phải có kiến
thức sâu, rộng, phải luôn cung cấp cho học sinh lượng kiến thức : ĐỦ, ĐÚNG,
MỚI, THIẾT THỰC.
Với giáo viên bộ môn Hóa học, kiến thức hóa học thực tế sẽ đáp ứng mặt
thiết thực của kiến thức.
1.2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT TRẦN
PHÚ :
1.2.1. Thuận lợi :
- 100% giáo viên đã đạt chuẩn.
- Trong quá trình giảng dạy môn hóa, giáo viên đều cố gắng thay đổi
phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
thông qua các phương pháp như : phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết
vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp liên hệ thực tế trong bài giảng….
- Giáo viên đã có sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học như thí
nghiệm, mô hình, tranh …. và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học hóa học.
- Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung quan sát thí nghiệm, giải thích một
số hiện tượng trong cuộc sống và suy nghĩ trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra.
- Học sinh tích cực thảo luận nhóm và đã đem lại hiệu quả trong quá trình

H
2
O + Cl
2
HCl + HClO
Hợp chất HClO khơng bền có tính oxi hóa mạnh :
HClO → HCl + O
Oxi ngun tử có khả năng diệt khuẩn.
Ví d ụ 2 : Khi dạy về bài Amoniac và muối amoni (ở lớp 11), giáo viên có thể mở
bài như sau :
- HS suy nghó trả lời :
* Trong q trình học về tính chất của muối amoni, học sinh sẽ hiểu được hiện
tượng trên là do :
(NH
4
)
2
CO
3
được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc hấp bánh
thì (NH
4
)
2
CO
3
sẽ bị phân hủy dưới tác dụng của nhiệt :
(NH
4
)

các em hiểu được hiện tượng này. Đó là bài PHOT PHO.
* Sau khi học xong bài Photpho giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được hiện
tượng trên là do :
6
- GV : Khi ăn bánh bao ta thường thấy có những lổ xốp. Đó là do những
bọt khí thoát ra để lại các lổ hổng trên bột. Đó là khí gì vậy ?
- GV : Thành phần để làm bánh bao là bột nở (NH
4
)
2
CO
3
. khi nhiệt phân
sẽ giải phóng ra khí CO
2
và 1 chất khí có mùi khai. Khí mùi khai này có tính
chất gì? Nó có độc không, ăn bánh bao có nguy hiểm không ? Bây giờ chúng ta
sẽ tìm hiểu tính chất của chất khí trên qua bài : Amoniac và muối amoni
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
Trong cơ thể (xương động vật) có chứa một hàm lượng photpho khi chết
phân hủy tạo một phần thành khí PH
3
(photphin), khi có lẫn một chút khí P
2
H
4
(diphotphin), khí PH
3
tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu
khí (lửa “ma trơi”)bay trong không khí. Bất kể ngày hay đêm đều có PH

Ozon khi rất loãng không có mùi hôi, ngược lại còn cho con người ta có
cảm giác tươi mát, thanh sạch dễ chịu. Nó còn có tác dụng sát trùng, làm sạch
không khí, rất có lợi cho cơ thể con người.
Ví dụ 5 : Khi học về bài IOT (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :
- GV : Hằng ngày, các em thường ăn muối gì ?
- HS : Đó là muối iot ?
- GV : Tại sao phải ăn muối có iot ?
- HS : Để trị bệnh bướu cổ.
- GV : Ăn muối iot để bổ sung hàm lượng iot cho cơ thể, trong cơ thể một
người trưởng thành có chứa 20 - 50mg iot chủ yếu tập trung tuyến giáp trạng, thiếu
iot trong tuyến này thì cơ thể sẽ bị một số bệnh : Bướu cổ, nặng hơn là dẫn đến đần
độn, phụ nữ thiếu iot dẫn đến vô sinh, có biến chứng sau khi sanh. Mỗi ngày phải
đảm bảo cho cơ thể hấp thụ với < 150 microgam iot. Vậy iot có những tính chất
như thế nào ? Bài IOT hôm nay sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về tính chất của nguyên
tố này.
b) Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học. Cách nêu
vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý
nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học
sinh.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài ANKIN, sau khi học xong phần điều chế axetilen, giáo viên
có thề liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ? Trong nông nghiệp, đất
đèn dùng để làm gì ?
- HS : Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua, khi tác dụng với nước
sinh ra khí axetilen và canxi hydroxit.
7
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
CaC
2
+ 2H

quét mà nên rắc bột S lên trên ?
- HS : Thủy ngân là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là
một chất độc. Vì vậy, khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì
thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi làm cho quá trình thu gom
khó khăn. Ta phải rắc bột S lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng với
thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi.
Hg + S → HgS↓
Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.
Ví dụ 4 : Khi dạy bài MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA KIM LOẠI
KIỀM, sau khi học xong tính chất của NaHCO
3
, giáo viên có thể liên hệ như sau :
- GV : Vì sao muối NaHCO
3
được dùng để chế thuốc đau dạ dày ?
- HS : Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người
có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO
3
dùng để chế thuốc
đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản
ứng :
NaHCO
3
+ HCl → NaCl + CO
2
+ H
2
O
Ví dụ 5 : Khi dạy về bài PEPTIT VÀ PROTEIN (ở lớp 12), sau khi học xong phần
tính chất của protein, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau

2
(SO
4
)
3
.24H
2
O
Phèn chua không độc, có vị chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều
trong nước nóng. Khi tan trong nước, phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành
Al(OH)
3
ở dạng kết tủa keo lơ lửng trong nước :
Al
2
(SO
4
)
3
→ 2Al
3+
+ 3SO
4
2-
Al
3+
+ H
2
O → AlOH
2+

+ 3H
2
SO
4
Chính những hạt Al(OH)
3
kết tủa dạng keo lơ lửng ở trong nước này đã kết
dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và
lắng xuống. Vì vậy, mà nước trở nên trong hơn.
Ví dụ 8 : Khi dạy về bài AMIN (ở lớp 12), sau khi học xong tính bazo yếu của
amin giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao khi nấu canh cá người ta thường nấu canh chua ?
- HS : Bởi vì chất chua (axit lactic có trong nước dưa, axit axetic có trong
dấm, axit citric có trong chanh ) rất có duyên với cá. Nó nâng cao hương vị của
món canh chua cá. Mặt khác, nó còn hạn chế mùi tanh của canh khi ăn. Vì trong
chất tanh của cá có chứa hỗn hợp các amin như : đimêtyl amin, trimetyl amin. Hai
amin trên có tính chất bazo yếu. Trong các chất chua dùng để nấu cá đều có các
axit hữu cơ chúng có phản ứng với các amin có tính bazo yếu trong cá tạo thành
muối do đó sẽ giảm hay làm mất vị tanh của cá.
Ví dụ : CH
3
COOH + (CH
3
)
2
NH → CH
3
COOH
2
N(CH

2

 →
C
0
3000
2NO
Sau đó : 2NO + O
2
→ 2NO
2
Khí NO
2
sẽ tan vào trong nước mưa :
4NO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 4HNO
3
HNO
3
→ H
+
+ NO
3
-
- GV : Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6 – 7kg N cho mỗi mẫu đất.

y… Gần đây do công nghiệp phát triển, các nhà máy xuất hiện khí thải, động cơ
phản lực… thải vào khí quyển một lượng bụi và khí ô nhiễm, thì ozon lại góp phần
oxi hóa chất gây ô nhiễm, cũng chính vì vậy mà tầng ozon bị mỏng dần. Trong
vòng 50 năm gần đây, lượng ozon bị thủng và gây ra không ít hiện tượng như :
bão, lũ lụt, cháy rừng, bệnh nan y…
Ví dụ 4 : Sau khi học xong bài TINH BỘT (ở lớp 12), giáo viên có thể liên hệ thực
tế như sau :
- GV : Vì sao ban đêm không để nhiều cây xanh trong nhà ?
- HS : Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá trình
quanh hợp, hấp thụ CO
2
trong không khí và giải phóng khí oxi
6nCO
2
+ 5nH
2
O
as
clorophin
→
(C
6
H
10
O
5
)
n
+ 6nO
2

+ H
2
O → Ca(HCO
3
)
2
Khi nước chảy sẽ cuốn Ca(HCO
3
)
2
trôi theo, qua thời gian đá sẽ bị
mòn dần.
- GV (Có thể giải thích bổ sung thêm nguyên nhân khác ): Trong đá, thông
thường chủ yếu là CaCO
3
nên trong nước sẽ tồn tại phương trình điện li :
CaCO
3
Ca
2+
+ CO
3
2-
(*)
Khi nước chảy sẽ cuốn theo các ion Ca
2+
, CO
3
2-
, theo nguyên lí chuyển

- GV : Nêu cách lấy dấu vân tay của tội phạm lưu trên các vật ở hiện trường chỉ
sau một vài phút thí nghiệm :
Lấy một tờ giấy sạch, ấn một ngón tay vào mặt giấy rồi nhấc ra sau đó đem
phần giấy có dấu vân tay đặt trên miệng ống nghiệm có đựng cồn iot, dùng đèn cồn
để đun nóng phần đáy ống nghiệm. Đợi cho khí màu tím thoát ra (I
2
) từ ống
nghiệm thấy phần giấy có vân tay dần hiện lên rõ nét (màu nâu). Nếu bạn cất tờ
giấy có vân tay đi mấy tháng sau làm tương tự cũng vẫn có hiện tượng như trên
Do đầu ngón tay có chất béo, dầu khoáng, mồ hôi, khi ấn tay vào giấy sẽ lưu
lại một phần trên giấy mặc dù mắt thường không nhận ra. Các chất này khi gặp hơi
iot cho màu nâu (chú ý hơi iot rất độc không được ngửi).
Ví dụ 8 : Sau khi học xong bài MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA
NATRI, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn NaCl ?
11
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- HS : Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1at là 100
0
C, nếu ta thêm NaCl thì
lúc đó làm cho nhiệt độ của nước muối khi sôi là > 100
0
C. Do nhiệt độ sôi của
muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn, thời gian luộc rau không lâu nên
rau ít mất vitamin. Vì vậy, khi đó rau muống sẽ mềm hơn và xanh hơn.
Ví dụ 9 : Sau khi học xong bài CACBON (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ thực
tế như sau :
- GV : Vì sao khi cơm khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than
củi ?
- HS : Do than củi xốp có tính hấp phụ, nên hấp phụ được mùi khét của cơm

được một cấu tạo nào tương ứng với tính chất của benzen. Ông mơ màng nhìn ra
ngoài xe và chợt thấy trên cành cây ở công viên có sáu con khỉ, con nọ đánh đu
vào chân con kia thành vòng sáu cạnh. Trong khi nô đùa, có lúc các chú khỉ bám
với nhau bằng cả hai chân hai tay, có lúc lại chỉ bằng một cặp tay chân. Một tia
chớp nảy ra trong đầu ông :
12
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- “Phải chăng sáu nguyên tử cacbon trong benzen cùng liên kết với nhau
giống như sáu chú khỉ con vui vẻ kia ?”
Kekule đã xác định được cấu trúc vòng của benzen và xây dựng lí thuyết các
hợp chất thơm nhờ … các chú khỉ.
Ví dụ 4 : Khi học về bài VẬT LIỆU POLIME, giáo viên có thể kể cho học sinh
giai thoại “Phát minh do … ngủ quên” (khi dạy về nilon) :
Một đêm Carothers – nhà hóa học Mĩ, sau nhiều ngày đêm làm việc căng
thẳng, định chớp mắt ít phút. Nhưng … ông đã ngủ liền tới sáng. Tỉnh dậy, ông hốt
hoảng lo cho tất cả công sức thí nghiệm : có lẽ đã tan thành mây khói ? Ai ngờ, khi
vừa nhấc chiếc đũa thủy tinh ở trong bình phản ứng lên, ông thấy chiếc đũa mềm
nhũn và kéo theo một hỗn hợp có dạng sợi nhỏ mỏng manh óng ánh rất đẹp. Đó là
sợi tổng hợp poliamit đầu tiên trên thế giới – sợi nilon ngày nay.
Ví dụ 5 : Khi học bài CHẤT GIẶC RỬA, ở phần “Xà phòng”, giáo viên có thể kể
câu chuyên hài sau :
- Mẹ : Tại sao con nghịch xà phòng làm bẩn hết nước của mẹ ?
- Con : Không phải con nghịch đâu! Thấy nước bẩn, con lấy xà phòng rửa
nước đấy. Như là mẹ rửa tay bẩn của con bằng xà phòng ấy mà!
e)Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời
sống hằng ngày… sau khi đã học bài giảng. Cách nêu vấn đề này có thể làm cho
học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái tạo lại
kiến thức qua các thí nghiệm. Giúp học sinh phát huy khả năng ứng dụng hóa học
vào đời sống thực tiễn.
Ví dụ 1 : Sau khi học xong bài TINH BỘT (ở lớp 12), giáo viên có thể giới thiệu

2
S + 4NH
3
→ 2[Ag(NH
3
)
2
]
+
+ S
2-
Nên Ag
2
S bị hòa tan, bề mặt dây bạc lại trở nên sáng bóng.
13
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
Ví dụ 3 : Sau khi học xong bài ANKIN (ở lớp 11), giáo viên có thể giới thiệu thí
nghiệm vui “Đốt nước đá cháy” để học sinh có thể tự làm thí nghiệm ở nhà.
* Cách làm : Ta đặt sẵn vài mẫu canxi cacbua (đất đèn), rồi lấy một ít
nước đá bỏ vào ống bơ thấp và rộng miệng rồi bật diêm đốt trên mặt ống bơ. Thật
kì lạ! Nước đá bốc cháy.
* Giải thích : Khi bỏ nước đá vào CaC
2
sẽ có tác dụng với nước giải phóng
khí C
2
H
2
:
CaC

vào, trứng sẽ chín.
* Giải thích : Khi vôi sống gặp nước sẽ xảy ra phản ứng :
CaO + H
2
O → Ca(OH)
2
+ Q
Nhiệt lượng tỏa ra rất lớn đến nổi làm cho nước sôi. Do vậy, sau khi cho vôi
vào nước rồi thả một quả trứng, trứng sẽ chín.
f) Để nâng cao kiến thức hóa học thực tế, giáo viên có thể phối hợp với nhà
trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh như đưa các em đi tham
quan các nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp… Qua đó, các em sẽ có cơ hội
tham khảo, bổ sung các kiến thức còn trống và tìm hiểu xác thực hơn tác động của
hóa học đến đời sống của chúng ta.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI :
Sau khi áp dụng một số phương pháp mở rộng kiến thức thực tế trong bài
giảng hóa học vào các tiết dạy, tôi thấy đã đạt được kết quả khả quan :
+ Lớp học sinh động, sôi nổi, giúp nâng cao hứng thú học tập của các em.
+ Chất lượng bài giảng được nâng lên rõ rệt : học sinh dễ tiếp thu và nhớ bài
lâu hơn.
+ Giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập .
+ Phát triển năng lực chú ý, óc tò mò khoa học.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG :
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy một vài điểm cần lưu ý sau :
1. Về phía giáo viên :
- Để thực hiện tốt, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định
được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù
hợp với học sinh. Hình thành giáo án theo hướng phát huy tính chủ động của học
sinh, phải mang tính hợp lí và hài hòa.
2. Về phía nhà trường :

Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác :…………………… 
1. Tính mới :
- Có giải pháp hoàn toàn mới 
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 
2. Hiệu quả :
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao. 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
tại đơn vị có hiệu quả cao. 
3. Khả năng áp dụng :
- Cung cấp tốt được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách :
Tốt  Khá  Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
và dễ đi vào cuộc sống :
Tốt  Khá  Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng.
Tốt  Khá  Đạt 
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status