TẠO HỨNG THÚ HỌC TÂP CHO HỌC SINH
BẰNG VIỆC KẾT HP GIẢI THÍCH
CÁC HIỆN TƯNG TRONG HÓA HỌC VÀO BÀI GIẢNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chăm lo phát triển giáo dục là một nhiệm vụ rất quan trọng mà mọi quốc gia
trên thế giới đều lấy đó làm chiến lược phát triển của dân tộc mình. Đảng và nhà nước
ta cũng đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”! Tương lai của mỗi quốc gia
phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển giáo dục của quốc gia đó.
Để theo kịp sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, tri thức của nhân
loại thì ngành giáo dục phải đổi mới và phát triển nhiều hơn nữa để đáp ứng với nhu
cầu hội nhập thời đại. Giáo dục của ta đã và đang đổi mới theo hướng lấy học sinh
làm trung tâm, dạy cách học, cách vận dụng kiến thức vào thực tế, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, tránh lối
“truyền thụ kiến thức một chiều”. Đồng thời với việc đổi mới trong kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực, tránh nặng nề trong
kiểm tra, đánh giá nặng về trí nhớ, kiến thức hàn lâm.
Đối với mục tiêu giảng dạy mơn hóa học trong nhà trường phổ thơng là học
sinh tiếp thu kiến thức, tri thức khoa học cơ bản về các đối tượng hóa học quan trọng
trong tự nhiên, hiểu các khái niệm cơ bản của hóa học, chất, sự biến đổi chất, cơng
nghệ hóa học, mơi trường và con người…và các ứng dụng của chúng. Từ đó giúp cho
học sinh có nhận thức khoa học, góp phần phát triển năng lực nhận thức, năng lực
hành động, rèn luyện nhân cách, u thương cuộc sống, u thương thiên nhiên và
con người, phấn đấu rèn luyện vươn lên thành người có ích cho xã hội.
Để đạt được mục tiêu giảng dạy mơn hóa học trong nhà trường phổ thơng thì
vai trò của người giáo viên là hết sức quan trọng. Do đó, ngồi những kiến thức sâu
rộng về hố học, người giáo viên dạy hố học còn phải đổi mới phương pháp giảng
dạy (sử dụng cơng nghệ thơng tin, sử dụng các phương tiện trực quan, làm thêm các
thí nghiệm biểu diễn…) nhằm thu hút và gây hứng thú cho học sinh khi lĩnh hội kiến
thức hố học. Như đã nói ở trên, mục tiêu của dạy hóa học trong trường phổ thơng là
học sinh phải hiểu được các kiến thức cơ bản về hóa học, vận dụng được các kiến
thức đó vào giải thích các vấn đề trong đời sống, trong tự nhiên. Để đóng góp vào
người hướng dẫn học sinh nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thức, đừng biến các em
thành “cái bình đựng kiến thức” cần phải đổ đầy và xa rời thực tiễn. Một trong những
yếu tố để giờ dạy đạt hiệu quả là phải phát huy tính tích cực của học sinh thông qua
lồng ghép kiến thức vào thực tế, giáo dục về môi trường… Phát huy những cái cũ còn
có giá trị, tìm tòi và cập nhật những cái mới đảm bảo tính khoa học và hiện đại. Có
những kiến thức hoá học có thể giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự
nhiên, tránh mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trong
những câu Ca dao - Tục ngữ của cha ông để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời
sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán,
xa lạ sẽ có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học; làm
cho hoá học không khô khan, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thích thú.
2
Để góp phần giải quyết thực trạng trên, trong thời gian qua, việc giảng dạy bộ
môn hóa học của các thầy cô ở trường THPT Thanh Bình đã có những đổi mới rất tiến
bộ. Ngoài việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, các tiết thực hành được
thực hiện đầy đủ, chất lượng, tổ bộ môn còn tổ chức các buổi ngoại khóa, hội thảo
chuyên đề, giúp các em tìm hiểu thêm về kiến thức trong thực tiễn. Cá nhân tôi đã cố
gắng làm thêm những thí nghiệm biểu diễn hấp dẫn để kích thích học sinh. Nhưng
điều đó vẫn còn chưa đủ để tạo hứng thú cho việc học tập môn hóa học cho học sinh.
Để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy hơn nữa, tôi đã mạnh dạn đưa ra
sáng kiến kinh nghiệm: “Tạo hứng thú học tập cho học sinh bằng việc kết hợp giải
thích các hiện tượng hóa học trong bài giảng”. Có những vấn đề hóa học có thể
giúp học sinh giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, tránh được mê tín dị đoan,
hoặc là giải thích được các câu ca dao tục ngữ mà dân gian để lại trên phương diện
khoa học. Từ đó học sinh cảm thấy không nhàm chán mà kiến thức môn hóa học rất
gần gũi và như là đâu đó ở xung quanh mình, góp phần làm cho hóa học bớt đi khô
khan, nhàm chán và những đặc thù phức tạp của bộ môn.
nhà hay những lúc bắt gặp các hiện tượng đó. Học sinh sẽ chủ động tư duy, vận dụng
các kiến thức đã được học để giải thích các vấn đề một cách thích thú.
4) Kết hợp các vấn đề trong thực tiễn hằng ngày thông qua các câu chuyện ngắn có
tính khôi hài có thể xen vào bất cứ lúc nào trong suốt buổi học. Cách nêu vấn đề này
tạo tâm lý thoải mái, tạo hứng thú học tập cho học sinh.
5) Giải thích các hiện tượng thực tế hằng ngày thông qua các thí nghiệm biểu diễn.
Cách nêu vấn đề này giúp học sinh vận dụng kiến thức để quan sát và giải thích các
hiện tượng thí nghiệm, phát huy khả năng ứng dụng hóa học vào thực tiễn đời sống.
6) Kết hợp các vấn đề thực tiễn hằng ngày thông qua các bài tập tính toán, như tính
nồng độ chất gây ô nhiễm… làm cho bài tập tính toán trở nên sinh động, hấp dẫn.
III.2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Để tổ chức thực hiện, giáo viên có thể vận dụng nhiều phương pháp kết hợp với
nhiều phương tiện như sau:
+ Thuyết trình, giải thích.
+ Phim ảnh, máy chiếu.
+ Thí nghiệm thực hành.
+ Các hình vẽ, tranh ảnh, các mẫu vật.
+ Sưu tầm nhiều vấn đề minh họa, nhiều hiện tượng trong thực tiễn đời sống.
+ Cho học sinh nêu câu hỏi và thảo luận về các hiện tượng tự nhiên gặp phải.
4
III.3. MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG, VẤN ĐỀ HÓA HỌC TRONG TỰ NHIÊN,
ĐỜI SỐNG CÓ THỂ KẾT HỢP VÀO BÀI GIẢNG:
VẤN ĐỀ 1: Tại sao người ta dùng muối rải trên đường ở những thành phố có
tuyết rơi (đây cũng là lý do tại sao người ta dùng muối khi làm cà rem)? Vì sao khi
luộc rau muống nên cho vào nước một ít muối ăn (NaCl) ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Nhiệt độ đông đặc của dung dịch NaCl thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ đông
đặc của H2O. Khi rải muối trên đường, tuyết không thể nào đặc lại trừ khi nhiệt độ
VẤN ĐỀ 3: Làm thế nào để khắc chữ, vẽ hình trên thủy tinh ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Như học sinh đã biết, dung dịch axit flohiđric (HF) ăn mòn được thủy tinh theo
phản ứng như sau: SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O.
- Muốn khắc chữ lên thủy tinh, người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, sau đó
lấy ra để nguội. Dùng vật nhọn tạo hình, chữ cần khắc nhờ cạo đi lớp sáp. Nhỏ dung
dịch HF vào các chỗ đó. Sau một thời gian lớp thủy tinh sẽ bị ăn mòn tạo ra hình hoặc
chữ như ý muốn.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giúp học sinh biết được công nghệ khắc chữ trên thủy tinh, làm cho các em cảm
thấy hứng thú, thấy hóa học gần gũi với đời sống.
- Học sinh cũng biết được vì sao không dùng chai lọ bằng thủy tinh để dựng dung
dịch axit flohiđric (HF).
- Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong bài FLO- BROM- IOT ở lớp 10.
VẤN ĐỀ 4: Tại sao nước máy dùng trong các thành phố lại có mùi khó chịu ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Đó là mùi khí clo (Cl2).
- Khi khí Cl2 tan vào nước thì một lượng nhỏ khí clo tác dụng với nước :
→
Cl2 + H2O ¬
HCl + HClO
(Hợp chất HClO có tính oxi hóa mạnh chính vì thế mà có thể diệt được các vi khuẩn
trong nước). Còn lại phần lớn khí clo vẫn tồn tại dưới dạng phân tử nên nước máy có
mùi khó chịu của clo. Để giảm bớt mùi khí Cl2 ta có thể chứa nước máy qua bồn chứa
một thời gian, hạn chế dùng trực tiếp nước máy từ vòi nước chính. Hạn chế tưới cây
bằng nước máy vì khí Cl2 có thể làm cho cây chậm phát triển.
- Học sinh sẽ hứng thú khi gặp vấn đề này, giải thích các hiện tượng tự nhiên dưới
góc độ khoa học, tránh mê tín dị đoan, góp phần làm cuộc sống lành mạnh hơn.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về PHOT PHO ở lớp 11.
VẤN ĐỀ 7 : Tại sao khi quẹt diêm thì que diêm bốc cháy ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Thuốc ở đầu que diêm chứa các chất oxi hóa mạnh thường là KClO 3 và các chất
khử như S, tinh bột... Thuốc ở vỏ bao diêm chứa P đỏ, Sb 2O3... Để tăng độ ma sát
người ta trộn bột thủy tinh nghiền mịn vào cả hai thứ thuốc trên. Khi quẹt que diêm,
những hạt nhỏ P tác dụng với các chất oxi hóa, phản ứng tỏa nhiều nhiệt làm cháy
thuốc ở đầu que diêm, rồi sau đó que diêm bốc cháy theo.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giúp học sinh thấy tầm quan trọng của hóa học với đời sống con người.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài Photpho ở lớp 11.
VẤN ĐỀ 8 : Thuốc chuột là gì ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Thuốc chuột có thành phần chính là Zn3P2 (kẽm photphua), đây là chất rắn dạng
bột không mùi, không vị nên khi trộn với thức ăn thì con chuột không phát hiện được.
Khi chuột ăn vào thì muối này bị thủy phân tạo ra khí PH3 rất độc, giết chết con chuột.
Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3↑
+ Phạm vi ứng dụng:
- Vấn đề góp phần cho học sinh biết được thành phần hóa học của thuốc chuột, học
sinh cảm thấy hứng thú hơn khi học.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về Photpho ở lớp 11.
7
VẤN ĐỀ 9 : Xăng pha chì là gì ? Tại sao bây giờ không dùng xăng pha chì nữa?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Xăng pha chì là thêm tetraetyl chì vào xăng, làm tăng khả năng chịu nén của
- Núi đá vôi chứa chủ yếu là canxi cacbonat (CaCO 3). Trong nước mưa có hòa tan
khí CO2 có thể hòa tan được đá vôi tạo thành các hang động theo phản ứng thuận:
→
CaCO3 + CO2 + H2O ¬
Ca(HCO3)2
- Sự tạo thành thạch nhủ trong các hang động, cặn trong ấm khi đun nước.
- Nước mưa có chứa muối Ca(HCO3)2 do chảy qua vùng núi đá vôi ngấm vào các
khe hở của hang, do áp suất CO2 giảm nên cân bằng dịch chuyển theo chiều nghịch
tạo thành các thanh thạch nhũ qua thời gian hàng trăm năm. Điều này giải thích tương
tự cho sự tạo cặn khi đun nước lấy từ sông, hồ...
→
Ca(HCO3)2 ¬
CaCO3↓ + CO2 + H2O
+ Phạm vi ứng dụng:
- Vấn đề này giúp cho học sinh hiểu được thêm một số hiện tượng tự nhiên, sự
hình thành các kì quan hang động núi đá vôi. (ở Việt Nam có hệ thống hang động
Phong Nha – Kẻ Bàng). Giáo viên có thể áp dụng vào bài giảng ở mục HỢP CHẤT
QUAN TRỌNG CỦA CANXI và NƯỚC CỨNG.
8
VẤN ĐỀ 12: Ca dao Việt Nam có câu:
“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ.
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.”
- Khi đốt cháy than (cacbon) sẽ xảy ra phản ứng: C + O2
→ CO2
t
Trong điều kiện thiếu O2 thì xảy phản ứng:
CO2 + C → 2CO
- Khí CO rất độc do có khả năng hóa hợp với hemoglobin trong máu tạo ra hợp
chất bền ngăn cản quá trình vận chuyển oxi từ phổi đến các mao quản máu trong cơ
thể con người và động vật, gây đông máu, gây trụy tim mạch dẫn đến tử vong.
- Trong quá trình hô hấp của con người, khí CO sẽ thâm nhập từ từ, làm cho ta bị
“lịm” dần, gây tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.
- Trong mùa lạnh, nhất là phụ nữ mới sinh người ta thường hay đốt lò than trong
nhà kín cửa để giữ ấm. Đây là việc làm rất nguy hiểm vì sẽ bị ngộ độc khí CO. Nhà
bếp cũng nên rộng thoáng, có thông hơi để tránh ngộ độc khí CO cho con người.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giúp học sinh hiểu và tránh bị ngộ độc khí CO cho bản thân và những người
xung quanh, đặc biệt là không nên dùng lò than để giữ ấm trong nhà kín.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này khi giảng bài CACBON ở lớp 11.
0
0
9
VẤN ĐỀ 14 : Ngộ độc khí CH4 như thế nào?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Trong thực tế có xảy ra hiện tượng khi người ta leo xuống các giếng sâu, hoặc
vào trong các bồn chứa nước xây thành bằng xi-măng thì bị chết do ngộ độc khí.
- Học sinh đã biết, khí metan (CH 4) có thể sinh ra khi xác thực vật bị phân hủy lâu
ngày. Cho nên khí metan còn được gọi là “khí bùn ao”. Trong các giếng sâu hoặc hồ
- Vấn đề này gần gũi với cuộc sống, gây hứng thú cho học sinh.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về AMIN ở lớp 12.
10
VẤN ĐỀ 17 : Vì sao “bánh bao” thường rất xốp và có mùi khai ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Khi làm bánh bao người ta thường cho ít bột nở NH 4HCO3 vào bột mì. Khi
nướng bánh, NH4HCO3 phân hủy thành các chất khí và hơi thoát ra nên làm cho bánh
xốp và nở. Do khí NH3 sinh ra nên làm cho bánh bao có mùi khai.
t
NH4HCO3(r)
→ NH3↑ + CO2↑ + H2O↑
0
+ Phạm vi ứng dụng:
- Vấn đề này cũng rất gần gũi cuộc sống hàng ngày, gây thích thú nhiều cho học
sinh. Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về AMONIAC ở lớp 11.
VẤN ĐỀ 18 : Tại sao khi nhai cơm lâu ở miệng ta cảm thấy có vị ngọt? Tại sao ăn
cơm cháy cảm thấy ngọt?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Trong cơm có chứa một lượng lớn tinh bột (khoảng 80%). Trong nước bọt của
người có rất nhiều các enzym. Khi ta nhai kĩ cơm trong miệng, tinh bột trộn đều với
nước bọt tạo ra sự thủy phân tinh bột tạo ra đường mantozơ và cuối cùng là glucozơ.
+H O
+H O
+H O
→ Mantozơ →
→ Đextrin (C6H10O5)x
đài làm từ đá cẩm thạch, đá hoa, đá phấn (thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
+ Phạm vi ứng dụng:
11
- Vấn đề ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Giáo viên có thể đưa
vấn đề này vào khi dạy bài “Axit sunfuric - Muối sunfat” hoặc bài“Axit nitric”.
VẤN ĐỀ 20 : Thế nào là “hiệu ứng nhà kính”?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Vấn đề khí hậu trái đất đang ngày càng ấm dần lên có nguyên nhân do sự gia
tăng hàm lượng khí CO2 trong khí quyển. Khí CO2 trong khí quyển hấp thụ một phần
các bức xạ nhiệt có bước sóng nhất định từ mặt trời chiếu xuống. Những bức xạ nhiệt
có bước sóng cao hơn phát ra từ mặt đất thì khí CO 2 lại hấp thụ mạnh và phát trở lại,
làm cho Trái đất ấm dần lên.
- Người ta tính rằng, nếu hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với
hiện tại thì mặt đất sẽ tăng thêm khoảng 4oC.
- Về mặt bức xạ, lớp CO2 trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh của các
nhà kính dùng để trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó, hiện tượng làm cho trái đất ấm dần lên
như vừa nêu được gọi là hiệu ứng nhà kính. Hiệu ứng nhà kính có ảnh hưởng đến khí
hậu và môi trường: Mùa hè nóng hơn, mùa đông bớt lạnh, băng ở hai cực trái đất tan
nhiều hơn làm cho mực nước biển dâng cao hơn gây thiên tai lũ lụt.
- Hiện nay, đã có nhiều quốc gia tham gia Hiệp ước toàn cầu về cắt giảm khí thải
để hạn chế lượng khí CO2 đưa vào khí quyển.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giúp học sinh có ý thức bảo vệ môi trường sống.
- Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này trong bài giảng về HỢP CHẤT CỦA
CACBON ở lớp 11 và bài giảng về HÓA HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG ở lớp 12.
nhiều loại hoá chất với nhau. Magiê và nhôm đốt cháy tạo ra ánh sáng trắng, muối
natri tạo ra màu vàng, stronti nitrat hoặc cacbonat tạo ra màu đỏ và bari nitrat tạo ra
màu xanh lá cây. Màu sắc rực rỡ của pháo hoa là do một số ion kim loại khi bị đốt
nóng ở nhiệt độ cao tạo nên như:
- Ion Na+ khi cháy cho ngọn lửa màu vàng tươi.
- Ion K+ khi cháy cho ngọn lửa màu tím.
- Ion Li+ khi cháy cho ngọn lửa màu đỏ tía.
- Ion Ca2+ khi cháy cho ngọn lửa màu đỏ da cam.
- Ion Sr2+ khi cháy cho ngọn lửa màu đỏ thắm (đỏ máu).
- Ion Ba2+ khi cháy cho ngọn lửa màu lục.
- Các kim loại hoặc muối của chúng được nghiền thành bột nhỏ, trộn với thuốc
pháo. Khi bắn vào trời đêm các ion này bị đốt nóng bởi thuốc pháo nổ tung vào không
gian tạo nên màu sắc đẹp của pháo hoa dùng trong các dịp lễ hội.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Vấn đề này học sinh đã gặp trong thực tiễn, làm cho học sinh rất hứng thú.
- Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này trong bài giảng về KIM LOẠI KIỀM, KIM
LOẠI KIỀM THỔ hay NHẬN BIẾT MỘT SỐ CATION ở chương trình lớp 12.
VẤN ĐỀ 23 : Người ta tạo máu giả trong các cảnh chiến đấu gây thương vong ở
trong điện ảnh như thế nào ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Trong phim điện ảnh, các cảnh chiến đấu gây thương vong có chảy máu như thật.
Vậy các cảnh đó được thực hiện như thế nào?
- Học sinh đã được biết: ion Fe3+ khi kết hợp với ion SCN- (thioxianat) sẽ tạo ra
các ion phức có màu đỏ máu:
Fe3+ + 3SCN-
→ Fe(SCN)3 (màu đỏ máu)
- Trên bề mặt thanh vũ khí (tất nhiên là bằng nhựa dẻo) có thoa một lớp dung dịch
muối của Fe(III) không màu. Trên da của diễn viên có thoa một lớp muối thioxianat
(NaSCN) không màu. Khi chiến đấu, chạm thanh vũ khí vào da người diễn viên thì
hai dung dịch này nhanh chóng kết hợp với nhau tạo ra chất lỏng màu đỏ như máu
+ Cơ sở lý thuyết:
- Trong máu người luôn luôn có nồng độ glucozơ (C6H12O6) không đổi khoảng
0,1%. Nếu lượng glucozơ trong máu bị giảm đi thì người bị mắc bệnh suy nhược
(thường gọi là bị hạ đường huyết). Ngược lại, nếu lượng glucozơ trong máu tăng lên
thì sẽ bị thải ra ngoài theo đường nước tiểu. Người ta gọi là bệnh đường huyết (hay
còn gọi là bệnh đái tháo đường). Bệnh đường huyết là bệnh rối loạn glucozơ.
- Chất ađrenalin của tuyến thượng thận là homon biểu hiện nhu cầu tiêu hóa
glucozơ của máu. Hai quá trình “cung” và “tiêu” này làm cho lượng glucozơ trong
máu được điều hòa. Nếu thiếu ađrenalin người ta sẽ bị mắc bệnh suy nhược.
- Chất Insulin được tạo ra ở tụy là hormone làm giảm lượng glucozơ trong máu.
Nếu thiếu Insulin thì người ta sẽ mắc bệnh đường huyết (bệnh đái tháo đường).
+ Phạm vi ứng dụng:
- Học sinh sẽ hiểu thêm một trong những bệnh phổ biến hiện nay của con người.
14
- Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này trong bài giảng về GLUCOZƠ ở lớp 12.
VẤN ĐỀ 26 : Tại sao phèn chua lại có thể làm trong được nước ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Phèn chua có công thức hóa học là K 2SO4.Al2(SO4)3.24H2O. Phèn chua có rất
nhiều ứng dụng, một trong những ứng dụng đó là dùng làm trong nước sinh hoạt.
- Khi hòa tan phèn chua vào nước thì muối nhôm sunfat bị thủy phân tạo ra lớp kết
→ Al(OH)3↓ + 3H+
tủa dạng keo trắng:
Al3+ + 3H2O ¬
- Lớp kết tủa dạng keo trắng Al(OH) 3↓ trong quá trình lắng xuống nó kết dính và
- Bôi lên chổ bị đốt một ít vôi tôi Ca(OH) 2 có môi trường bazơ trung hòa axit
fomic có trong nọc ong, làm cho hết cảm thấy đau nhức.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Đây là hiện tượng thực tế, học sinh có thể gặp nhiều trong đời sống.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài AXIT CACBOXYLIC lớp 11.
VẤN ĐỀ 29 : Tại sao người ta cảnh báo ngộ độc khi ăn khoai mì và măng tươi?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Hiđroxianua là một chất lỏng không màu, rất dễ bay hơi và cực độc. Những
trường hợp bị say hay tử vong do ăn khoai mì hay măng tươi là do trong khoai mì hay
măng tươi có một lượng nhỏ HCN, tập trung chủ yếu ở vỏ.
- Để không bị nhiễm độc xianua do ăn khoai mì hay măng tươi thì khi luộc khoai
ta nhớ bóc vỏ, mở nắp nồi khi luộc để HCN bay hơi.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Cung cấp cho học sinh thêm một kiến thức về thực tiễn, để các em hiểu và phòng
tránh những nguy cơ ngộ độc thực phẩm cho những người xung quanh.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong các bài giảng có liên quan đến
xianua, như bài NITƠ ở lớp 11, bài kim loại VÀNG (Au) ở lớp 12.
VẤN ĐỀ 30 : Máy đo nồng độ cồn hoạt động như thế nào?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc tính của
rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với rượu nhưng
người chọn một chất oxi hóa là crom(VI) oxit CrO 3. Đây là một chất oxi hóa rất
mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da cam. Bột oxit CrO 3 khi gặp
rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr2O3 là một hợp chất có màu xanh.
- Các cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa CrO 3.
Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa hơi rượu
thì hơi rượu sẽ tác dụng với CrO 3 và biến thành Cr2O3 có màu xanh. Dựa vào sự biến
đổi màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho cảnh sát biết được mức độ uống
CO2 có tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng tiết dịch vị, giúp cho tiêu hóa.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Hiện tượng có nhiều bọt khí thoát ra từ bình nước ngọt có ga hay chai bia thì
chắc hẳn học sinh nào cũng biết. Nhưng khi giải thích khí đó là khí gì và có công
dụng ra sao thì không nhiều học sinh biết được. Giáo viên có thể nêu câu hỏi trên khi
dạy phần “Cacbon Đioxit” ở lớp 11.
VẤN ĐỀ 33: Hàn the là chất gì?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Hàn the có thành phần chính là chất Natri tetraborat, ở dạng tinh thể ngậm nước.
Tinh thể trong suốt, tan nhiều trong nước nóng, không tan trong cồn 90o.
- Trước đây, người ta thường dùng hàn the làm chất phụ gia cho vào giò lụa, bánh
phở, bánh cuốn… để cho những thứ này khi ăn sẽ cảm thấy dai và giòn. Ngay từ năm
1985, Tổ chức Y tế thế giới đã cấm dùng hàn the làm chất phụ gia cho thực phẩm vì
nó độc, có thể gây sốc, trụy tim, co giật và hôn mê.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Hàn the là chất được dùng làm chất phụ gia thực phẩm nhưng đã bị cấm sử dụng
từ lâu vì độc. Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong bài kim loại kiềm ở lớp 12.
VẤN ĐỀ 34: “Chảo chống dính”?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Đó là chảo đã được tráng một lớp poli(tetrafloetylen) CF2-CF2 được tôn vinh
n
là “vua chất dẻo” có tên thường gọi là “teflon”. Teflon rất bền vững với môi trường,
độ bền nhiệt cao, hệ số ma sát rất nhỏ nên chảo được tráng một lớp teflon sẽ có khả
năng chống dính khi chiên, nấu.
17
- Một điều chú ý là không nên đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon ở nhiệt
độ trên 300oC là bắt đầu phân hủy và thoát ra chất độc. Khi rửa chảo không nên chà
quét mà nên rắc bột lưu huỳnh lên trên?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một chất
rất độc. Vì vậy khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy ngân
sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi làm tăng khả năng hít phải hơi độc và
làm cho quá trình thu gom khó khăn hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có
18
thủy ngân, vì S có thể tác dụng với thủy ngân ở điều kiện thường tạo thành HgS dạng
rắn và không bay hơi. Làm cho quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.
Hg + S → HgS↓
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài LƯU HUỲNH ở lớp 10, hay TÍNH
CHẤT HÓA HỌC CỦA KIM LOẠI lớp 12.
VẤN ĐỀ 39: Nhôm được dùng làm dây dẫn điện cao thế? Còn dây đồng lại được
dùng làm dây dẫn điện trong nhà?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của nhôm là
2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 8,7 g/cm 3), đồng thời đồng
đắt hơn nhôm. Do đó, nếu như dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến
việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó không có
lợi về mặt kinh tế. Còn trong nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh
hưởng lớn lắm. Vì vậy ở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng.
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giáo viên có thể áp dụng vào bài TÍNH CHẤT VẬT LÝ KIM LOẠI ở lớp 12.
VẤN ĐỀ 40: Vì sao gạo nếp lại dẻo hơn gạo thường ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Tinh bột là hỗn hợp của hai thành phần: amilozơ và amilopectin. Hai loại này
tìm tòi, chắt lọc những vấn đề có liên quan đến kiến thức các bài học ở chương trình
sách giáo khoa THPT. Trong quá trình giảng dạy của mình, tôi sẽ cố gắng dần dần bổ
sung thêm các vấn đề có liên quan đến nhiều kiến thức hóa học khác, mục đích là làm
cho bài giảng sinh động hơn, gần gũi hơn với cuộc sống.
Quá trình nghiên cứu và áp dụng giải thích các vấn đề liên quan đến các hiện
tượng hóa học trong tự nhiên và đời sống vào bài giảng, kết hợp với nhiều phương
pháp khác như cho học sinh thảo luận nhóm, cố gắng làm thật nhiều các thí nghiệm
minh chứng... Trong thời gian qua tôi đã đạt được một số kết quả khả quan: Tôi cảm
giác được học sinh cảm thấy hứng thú với bộ môn hóa học hơn. Nhiều học sinh chủ
động tự tìm hiểu các hiện tượng xung quanh rồi gặp thầy, cô để hỏi, hoặc xác nhận
cách giải thích của em có đúng không. Trong giờ học có kết hợp các vấn đề trong đề
tài này làm cho lớp học vui vẻ, nhẹ nhàng gần gũi hơn, học sinh tiếp thu bài tốt hơn.
Bên cạnh đó, học sinh còn rèn luyện được kĩ năng quan sát, tư duy trừu tượng, phân
tích, tổng hợp để giải quyết các vấn đề hóa học mà các em có thể bắt gặp ở sách giáo
khoa, phòng thí nghiệm, cuộc sống xung quanh...
Thông qua đó lại làm cho tôi có thêm động lực để tìm tòi, bồi đắp thêm vào vốn
kiến thức của mình những điều tưởng chừng như gần gũi, hiển nhiên nhưng thực tế
không phải ai cũng có thể giải thích một cách tường tận nếu không đào sâu tìm hiểu,
học hỏi, chắc lọc qua nhiều nguồn tài liệu. Điều đó làm cho một giáo viên thực sự
hạnh phúc khi biết được những vấn đề tưởng chừng khó khăn đó lại rất thực tế, gần
gũi với hóa học, tạo thêm sự tự tin rất lớn khi đứng trên bục giảng cho người thầy.
Thực tế trong năm học 2014 – 2015 vừa qua tôi đã mạnh dạn áp dụng các vấn
đề trên khi giảng dạy cho các em lớp 10ª2, 10ª4, 10ª6 trường THPT Thanh Bình. Tôi
cũng đã lo lắng nếu liên hệ quá nhiều đến các vấn đề thực tế đời sống thì liệu học sinh
mình có đáp ứng được yêu cầu của các kì thi hay không. Và kết quả thật khả quan khi
20
cả 3 lớp đều đạt kết quả cao trong kì thi HKII vừa rồi khi so sánh với các lớp khác.
Tân Phú, ngày 15 tháng 5 năm 2015
NGƯỜI THỰC HIỆN
HÀ TẤN LỘC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hoàng Anh, Đặc trưng của dạy học tích cực. <url:giaoduc.edu.vn>
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định
hướng phát triển năng lực học sinh, Hà Nội (2014).
3. Ngô Xuân Quỳnh, Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học bằng việc giải thích
các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học. < >
4. 46 câu hỏi thực tiễn có thể đưa vào bài học. < >
22