SKKN Tạo hứng thú học tập môn toán cho học sinh lớp 6a2 trường THCS túc duyên, thái nguyên - Pdf 24

LỜI NÓI ĐẦU
Nhân loại đã bước sang thế kỉ XXI – thế kỉ của khoa học kĩ thuật, của sự tiến
bộ và phát triển. Đất nước VN cũng đang chuyển mình ngày càng mạnh mẽ để hòa
nhập với sự phát triển của thế giới. Thời đại mới đang tạo cho chúng ta cơ hội
nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Để phát huy sức mạnh
truyền thống và tiềm năng của đất nước, con người VN, để VN tiến nhanh tiến
mạnh trên con đường phát triển xã hội, việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ có trí
thức, có năng lực, lý tưởng trở thành nhiệm vụ cấp thiết của xã hội. Nhận thức
được yêu cầu đó, Đảng ta rất coi trọng công tác giáo dục, coi “ giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân”. Chính vì vậy,
việc tìm hiểu, năm bắt công tác giáo dục ở các trường phô thông là việc làm thường
xuyên và cần thiết, nhất là đối với người giáo viên – những ng trực tiếp tham gia và
góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Xuất phát từ yêu cầu đó, hằng năm trường ĐHSP Thái Nguyên tổ chức cho
sinh viên năm thứ 3 đi kiến tập sư phạm để bước đầu vạn dụng kiến thức lý thuyết
giáo dục vào thực tế, học hỏi những ng đi trước để tích lũy kinh nghiệm về công
tác giáo dục cho bản thân. Vì thế, khi nhận được nhiệm vụ tại trường THCS Túc
Duyên, tập thể Toán – Tin K43 chúng tôi mặc dù chỉ trong thời gian 3 tuần ngắn
ngủi đã nghiêm túc và tích cực học hỏi với tinh thần trách nhiệm cao. Qua đó, bản
thân tôi đã không những thu được những kinh nghiệm thực tế quý báu mà còn được
thực hành phương pháp nghiên cứu khoa học về TLGD khi thực hiện đề tài: “ Tạo
hứng thú học tập môn toán cho học sinh lớp 6A2 trường THCS Túc
Duyên,Thái Nguyên”.
Đề tài được hoàn thành với sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của thầy Trần Văn
Sơn – Giảng viên khoa tâm lý giáo dục trường ĐHSP – ĐH Thái Nguyên và sự
giúp đỡ nhiệt tình của cô Nhâm Thị Chung giáo viên giảng dạy môn toán lớp 6A2
cùng toàn thể các em học sinh trong lớp 6A2.
1
Xuất phát từ hoạt động học tập thực tế của trường nói chung và của lớp 6A2
nói riêng tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề này. Mặc dù việc nghiên cứu đã
hoàn thành nhưng đây là bài viết đầu tay và với vốn kinh nghiệm ít ỏi nên không

học sẽ rất dễ và giúp ích cho học sinh (hs) và rất cần thiết trong cuộc sống. Thật
vậy, do tính chất trừu tượng, khái quát cao, sự suy luận lôgic chặt chẽ, toán học có
3
khả năng hình thành ở người học óc trừu tượng, năng lực tư duy lôgic chính xác.
Việc tìm kiếm cách chứng minh một định lý, tìm lời giải hay cho một bài toán có
tác dụng trong việc rèn luyện cho HS các phương pháp tư duy khoa học trong học
tập, trong việc giải quyết các vấn đề, biết cách quan sát, phân tích, tổng hợp, so
sánh, dự đoán, suy luận, chứng minh qua đó rèn luyện cho HS trí thông minh sáng
tạo. Không những thế, môn Toán còn góp phần tích cực vào việc giáo dục cho các
em những phẩm chất đáng quí trong học tập, lao động và cuộc sống, như: tính kỷ
luật, tính kiên trì, tính chính xác, biết cảm thụ cái đẹp trong những ứng dụng phong
phú của toán học, tìm ra cái đẹp của những lời giải hay, Khi nhận ra điều này, HS
ngày càng yêu thích, say mê môn Toán hơn, tích cực học tập, ứng dụng nó, từ đó
mà chất lượng học toán ngày càng cao hơn. Ngược lại môn Toán làm cho hs sợ trở
nên chán ngán, lo sợ, thiếu tự tin gây ức chế trong giờ học Toán và càng ngày khó
học các môn học khác. Trong chương trính toán lớp 6, tuy mức độ hơi khó nhưng
kiến thức kỹ năng có tính cơ bản mở đầu, nếu hs học kém Toán sẽ hạn chế trong
năm học tiếp theo. Cho nên đối với cấp học, bậc học hay môn học nào cũng có mặt
mạnh, yếu của nó và điều có hs khá giỏi, trung bình yếu, kém nhưng với hs khá
giỏi thì các em tiếp thu được vốn tri thức được nhanh hơn so với hs yếu kém. Vì
vậy trong môn Toán việc hs giỏi hay khá còn phụ thuộc rất nhiều vào cách truyền
đạt kiến thức và hứng thú của học sinh với môn học, khả năng tiếp nhận kiến thức
của mỗi học sinh hay do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Vì vậy hứng thú càng trở nên quan trọng trong việc học tập môn Toán ở
trường THCS. Chỉ khi có hứng thú thật sự đối với việc học tập môn Toán HS mới
thấy được sự hấp dẫn của nội dung tri thức toán học, cũng như những phương pháp
khám phá ra nội dung đó. Đồng thời các em cũng cảm nhận được vai trò của toán
học đối với đời sống và các ngành khoa học khác.
Trong những năm gần đây, hứng thú học môn Toán của HS ở nhiều trường
THCS nhìn chung vẫn còn bị hạn chế, không ít em sợ toán, coi việc học toán là một

IV. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về: Hứng thú, hứng thú học tập, đặc điểm
hứng thú học môn Toán của HS nói chung, hứng thú học môn Toán của HS lớp
6A2 nói riêng; các yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển hứng thú của
HS THCS.
Điều tra, phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng hứng thú học
môn Toán của HS ở một số trường THCS; xác định những đặc điểm của hứng thú
học môn Toán ở HS THCS.
Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng cao
hứng thú học môn Toán cho HS.
Đề xuất kiến nghị sư phạm nhằm phát triển hứng thú học môn Toán của HS
THCS.
V. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu một vấn đề có rất nhiều phương pháp tuy nhiên việc thực hiện các
phương pháp còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan và chủ quan. Do điều kiện
hạn chế nên tôi không vận dụng được tất cả các phương pháp trong quá trình
nghiện cứu. Tôi đã vận dụng chủ yếu các phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát: phương pháp này được sử dụng trong các giờ học các
giờ truy bài để nhận xét thái độ, ý thức học tập của học sinh.
- Phương pháp điều tra: phương pháp này được sử dụng dưới các hình thức
như phát phiếu điều tra, thu thập số liệu để nắm được hứng thú của học
sinh với môn học.
- Phương pháp toán học: đây là phương pháo được áp dụng trong khi thống kê,
xử lí số liệu thu thập được. Trên cơ sở đánh giá, phân loại học sinh.
- Phương pháo đàm thoại: tiếp xúc, trò chuyện trực tiếp với học sinh và giáo
viên bộ môn, từ đó nắm được tình hình chung của lớp và chất lượng học tập
6
của học sinh.
- Ngoài ra đề tài còn được thực hiện nhờ việc đọc, phân tích các tài liệu có liên
quan.

mối quan hệ với hoạt động” các tác giả này đã coi hứng thú là động cơ có ý
nghĩa của hoạt động. Trong xu hướng này còn có nhiều nhà nghiên cứu khác
như: L.X.Rubinstêin, A.V.Daparôzét, M.I.Bôliép, L.A.Gôđôn
+ Xu hướng thứ III: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các
giai đoạn lứa tuổi: Đại diện là G.ISukina “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa
tuổi”. D.P.Xalônhisư nghiên cứu sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu
giáo. V.G Ivanôp đã phân tích sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh
lớn trong trường trung học. V.N. Marôsôva nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú
trẻ em trong điều kiện bình thường và trong điều kiện không bình
thường”(1957). Những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm hứng
thú của từng lứa tuổi, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các
8
giai đoạn phát triển lứa tuổi của trẻ.
Đề tài này đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, tôi cũng nhận
thấy đề tài này rất hay và lý thú nhưng trong giới hạn của đề tài nên tôi chỉ nghiên
cứu một mặt mới đó là nghiên cứu thực trạng hứng thú học tập môn toán của học
sinh lớp 6A2 trường THCS Túc Duyên, Thái Nguyên nói riêng, từ đó có một số
nhận định về hứng thú học tập môn toán của học sinh THCS nói chung.
II. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Lịch sử đã chứng minh có rất nhiều con đường để tiếp thu và nắm vững tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo như bằng lao động sản xuất, bằng các hoạt động xã hội, bằng hoạt
động dạy học. Trong các con đường đó thì con đường dạy học là con đường ngắn
nhất, thuận lợi nhất giúp người học có thể nắm vững khối lượng kiến thức nhiều
nhất trong một thời gian ngắn nhất. Hiện nay dạy học rrat được coi trọng, được
Đảng và nhà nước ta quan tâm. Mục đích của dạy học là đào tạo những con người
độc lập có năng lực, trí tuệ, có bản lĩnh để đưa đất nước theo kịp với sự phát triển
của khoa học, công nghệ, theo kịp với các quốc gia trên thế giới. Để đạt được mục
đích này chúng ta cần phải có chất lượng giáo dục cao. Có rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Một trong những yếu tố đó thì hứng
thú học tập đóng vai trò quan trọng tạo nên chất lượng học tập. Chính vì vậy việc

giảng dạy, cách truyền đạt trí thức thế nào để tạo cho học sinh cảm giác thích học,
say mê với môn học và chính bản thân mỗi em học sinh cần tự tạo cho mình hứng
thú học tập.
Hứng thú học tập của học sinh còn bị ảnh hưởng của vốn kiến thức phong phú, sâu
rộng của thầy và năng lực tiếp thu của trò, thầy dạy có giỏi, học sinh tiếp thu bài
nhanh, sáng tạo thì trở thành động lực thúc đẩy các em say mê học tập.
10
+ Hứng thú học tập được biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê hấp
dẫn bởi nội dung bài học, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú. Do vậy sự tập trung
chú ý cao đọ cảu các em trong mỗi bài học có điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, có
đặc điểm tâm lý khác nhau. Do đó việc khơi gợi hứng thú cho học sinh cũng khác
nhau.
+ Hứng thú có vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân làm tăng hiệu quả của quá
trình nhận thức vào đối tượng, khiến cho việc nhận thức sâu sắc và nhạy bén hơn.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, hành động sáng tạo, khi đó hứng thú
trở thành động lực, động cơ thúc đẩy lôi cuốn cá nhân hành động để thỏa mãn hứng
thú đó. Chính vì vậy nó giúp con người trong quá trình hành động, đem lại hiệu quả
cao. Hứng thú làm tăng cường sức làm việc, khi làm việc tạo cho cá nhân có sức
chịu đựng khó khăn làm việc rất dẻo dai.
+ Học sinh có hứng thú học tập, các em nảy sinh khát vọng học tập. Khi đó nó thúc
đẩy, lôi cuốn các em tập trung chú ý, say mê học tập nghiên cứu, các em tiếp thu
bài nhanh hơn, hiệu quả hơn, do đó chất lượng học tập của các em cao hơn.
+ Ý nghĩa của việc tìm hiểu hứng thú học tập của học sinh thông qua sự tập trung
chú ý cao độ của các em trong học tập giúp chúng ta biết được thái độ của các em
đối với môn học, từ đó phần nào ta có thể biết được kết quả học tập của các em,
nếu các em thích học môn nào đó, các em có sự say mê nghiên cứu nó thì chắc
chắn các em sẽ đạt kết quả cao, ngược lại nếu các em phải học với sự gò ép thì kết
quả không cao, giúp người giáo viên tự điều chỉnh mình, rút kinh nghiệm trong
phương pháp giảng dạy. Đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đó là nâng cao chất lượng
học tập và giáo dục ở trường THCS.

nên rất khó vận dụng vào việc giải toán. GV hướng dẫn cho em kèm HS yếu trong
tuần, ngày nào em cũng phải kiểm tra bài và cả lý thuyết, lí thuyết thì các em học
12
thuộc,còn em ra đề cho HS làm bài tâp thì các em không làm, hoặc nói là quên,
mất, làm sai, em hướng dẫn sửa bài thì các em vẫn chú ý lắng nghe, nhưng khi cho
các em sửa bài tập lại thì làm cũng không được,các em chỉ học máy móc điều quan
trọng là không tự mình suy nghĩ, đợi chờ chép bài của bạn là xong, lúc nào cũng
vậy, các em đều không tự làm, mặc dù em đã nhiều lần nhắc nhở. Trong lúc dạy tiết
học tôi được dạy 1 tiết, còn bạn tôi được dạy 2 tiết toán, lúc dạy chúng tôi luôn cố
gắng truyền tải đầy đủ hết nội dung của bài hướng dẫn làm bài tập một cách tận
tình để các em yếu có thể theo kịp và làm được đúng các bài tập, trong lúc học
dưới sự hướng dẫn của GV thì HS đều có thể hiểu bài, nhưng khi các em làm vào
vở bài tập, thì các em lại găp khó khăn về cách đổi các đơn vị đo thời gian như
ngày đổi ra tháng năm … và đổi ngược lại vì các em chưa thật sự hiểu sâu, chỉ có
nhưng em học giỏi toán thì tiếp thu kiến thức thật nhanh còn HS kém thì càng gặp
khó khăn nhiều, tình trạng này luôn diễn ra trong lớp học hằng ngày, mặc dù GV
chủ nhiệm đã cố gắng hướng dẫn, nhưng việc học yếu toán của Hs do nhiều nguyên
nhân khác nhau. Vì vậy GV cần phải tìm hiểu và xem xét các nguyên nhân ảnh
hưởng đến HS rồi từ đó có thể đề ra các biện pháp thích hợp để giúp đỡ HS. Việc
HS học kém toán ở trường THCS nói chung và lớp 6A2 luôn có, số lượng HS nhiều
hay ít là do mỗi trường,mỗi lớp có biện pháp giúp đỡ tốt hay không? Và HS yếu
kém ở mỗi môn học là tất yếu, có lúc HS này không thích học nên việc học được
tốt môn toán là rất hạn chế vì đặc trưng của môn toán là suy luận, tư duy và khái
quát cao nên các em cần phải tự phát hiện, tìm tòi rất khó với HS, nhưng nói như
vậy không phải là khó hoàn toàn nếu ta biết cách học sẽ học tốt, nó có nhiều ứng
dụng trong cuộc sống. Qua việc tìm hiểu ý kiến của HS thì có rất nhiều HS không
thích học toán, HS ngại và sợ tính toán, mặc dù các em đều đạt điểm 9,10 nhưng
câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao không thích học toán mà đạt điểm cao, một câu hỏi
khó mà trả lời được, với những lí do đó tôi tự mình tìm hiểu, thật ra là qua việc tiếp
xúc và trò chuyện thì các em nói rằng: “ Môn Toán thật lòng các em không thích,

phần đông, và trường cũng đã có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và nề nếp học
tập cũng rất tốt, nhưng trong khi điều tra xin ý kiến những em hs trong lớp thì có
một điều rất lạ là hs học toán trong lớp đều được điểm 9,10 mà lại không thích học
toán ,cũng không biết học môn Toán dễ hay khó nữa và các em đều cho là không
biết, câu hỏi đặt ra tại sao lại như vậy? Phần dông hs học được toán có thể là các
em được học thêm hay trên lớp được GV hướng dẫn hết hs không cần phải suy
nghỉ cũng như xác định đề yêu cầu làm gì, hỏi gì, chỉ ghi lại kết quả mà không cần
suy luận, mà khi ghi kết quả lại hs cũng ghi sai nữa. Vì vậy trong lúc thực tập dạy
học thì đa số hs thích học môn Tiếng Việt, Mĩ Thuật, Âm Nhạc,…các em không
thích học toán, nhưng chất lượng học vẫn cao. Đây không phải là chất lượng thực
sự. Trong giáo dục ngành học hay môn học nào cũng có hs giỏi, khá và yếu, nếu
trong việc dạy học mà ta chấp nhận lấy chất lượng học tập của hs thật sự thì việc
dạy và học có thể nâng cao, nhưng thực tế thì cho thấy trong tất cả các lớp sự yếu
kém của hs có lẽ GV còn e ngại, cố dấu đi sự yếu kém của hs trước sự thăm dò của
sinh viên (SV) và cho đó là một số hs học vẫn tốt nhưng điểm vẫn trên 5, thật sự hs
là không hiểu bài nên không vận dụng vào làm bài tập được, sự tiếp thu của hs rất
yếu nên các em chỉ việc chép bài là xong, đối phó với GV chớ không khi nào tự
giác làm bài. Như thế làm hạn chế sự phát triển của hs, nếu như GV chúng ta cho
hs thuộc dạng yếu kém toán mà qua đó tìm hiểu nguyên nhân, các biện pháp để
giúp đỡ hs học toán như vậy mới tốt……………
Để tìm hiểu cụ thể về hứng thú học tập của các em học sinh lớp 6A2 tôi đã
lập phiếu điều tra hứng thú học tập môn toán. Trong phiếu tôi đặt ra một số câu hỏi
như: em hãy cho biết thái độ của em đối với môn toán như thế nào? Em nhận thức
thế nào về vai trò của môn toán trong chương trình học tập của nhà trường? Em
thích học môn toán vì lý do nào? Sau đó tôi phát phiếu điều tra cho 39/39 học
15
sinh lớp 6A2 trường THCS Túc Duyên, Thái Nguyên. Kết quả thu được như bảng
sau:
Bảng 1: bảng mức độ hứng thú học tập môn toán
Rất thích Thích Bình thường Không thích

Hồng Tuyên, Bùi Quốc Khánh
Ở bảng 3 ta thấy xét chung các em đều đạt kết quả khá cao ở cả 3 môn toán –
ngoại ngữ - văn số học sinh đạt tỉ lệ yếu kém là rất ít, số học sinh đạt loại giỏi
chiếm tỉ lệ tương đối 8.8%.
Tất nhiên kết quả cụ thể của 3 môn vẫn có sự chênh lệch tuy nhiên là không
lớn.
Môn Văn là môn có số học sinh xếp loại giỏi nhiều nhất: 4 em chiếm 7%,
môn toán có 2 em chiếm 3.5%, và môn ngoại ngữ không có em nào.
Môn toán và môn ngoại ngữ là môn có số học sinh xếp học lực khá nhiều
nhất: môn toán có 35 em chiếm 61.4%, môn văn có 39 em chiếm 68.4%, môn anh
văn ít nhất chỉ có 20 em chiếm 35.1%.
17
PHẦN THỨ BA
Kết luận và nhận xét
1. Kết luận
Các em đã có hứng thú học tập và đạt kết quả tốt. Tuy nhiên vẫn còn tình trạng
nhiều em chưa chú trọng vào học tập môn toán và kết quả học tập chưa cao.
2. Nguyên nhân
- Đối với HS:
+ HS chưa nắm vững các kiến thức cơ bản trong môn Toán.
+ HS còn quá yếu chưa theo kịp bạn bè, trong môn Toán thiếu sự tích cực, chủ
động, sáng tạo cũng như sự linh hoạt, không có sự tìm tòi, tự giác giải quyết các
bài tập, phần lớn là chờ vào sự hướng dẫn hay giải của GV.
+ Các em còn sợ học môn Toán vì phải tính toán rất nhiều số, các em chưa thích
học Toán vì nó phức tạp và suy luân hơi cao.
+ Do tâm lý sợ, thiếu tự tin, lười học, cẩu thả, chán ngán e sợ khi học Toán.
+ Các em còn chưa biết cách học, tự tập luyện, đa số là các em học thêm chứ chưa
tự nghiên cứu bài tập ở nhà.
+ Không có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng cơ bản yếu.
+ Các em còn e sợ, ngại bạn bè chê cười khi các em hỏi những thứ mà các em

nên các em bị chi phối, thời gian học ít, chơi nhiều, dẫn đến kết quả yếu kém.
- Đối với GV:
+ Nội dung phương pháp chưa thật sự thu hút và lôi cuốn HS vào việc học toán.
+ Phương pháp học không thích hợp.
+ Không có phương tiện dạy học hay tổ chức ở trường chưa phù hợp với từng đối
tượng HS.
19
+ Thời gian không đảm bảo viễc truyền thụ và rèn kĩ năng cho HS.
+ GV ôm làm hết và HS chỉ biết chép là xong.
+ GV chưa chú ý đến HS yếu và chưa bao quát HS.
+ Cách thức hướng dẫn của GV chưa kỉ lắm, nặng về cách giải nên HS không cần
suy nghĩ, tìm tòi cách giải nên khó mà giải bằng năng lực thật sự của mình.
+ Chưa thật sự quan tâm sâu sát đến HS yếu.
+ Thời gian trên lớp quá ngắn nên không chú ý nhiều đến HS.
+ GV chứa phối hợp tốt đối với gia đình và nha trường tróng việc kèm và
hướngdẩn HS kém toán.
+ Dạy quá nhiều phân môn nến không có thời gian để hướng củng như ôn luyện
thường xuyên cho HS.
+ Chưa có biện pháp cụ thể đối với từng HS.
+ Chưa tạo ra nhiều tình huống học tập để giúp đở HS học tốt môn Toán hơn.
+ Chưa tác động kịp thời đến từng HS, để hạn chế khả năng học kém toán
3. Ý kiến đề xuất
Trên cơ sở các nguyên nhân thì có những đề xuất trên cơ sở lí luận như sau:
1. Đối với HS kém Toán cần bồi dưỡng thêm kiến thức một cách có hệ thống, GV
cần quan tâm hướng dẫn thật sát đối với HS, tạo điều kiện cho các em có động lực
học tập đúng đắn, khuyến khích các em cố gắng học hiểu và vận dụng các nguyên
tắc vào bài tập một cách hợp lí và chính xác. Không để cho HS học mà không hiểu
(cũng như học thuộc lòng mà không vận dụng). GV cần hướng dẫn cách tự học, lí
thuyết và cách học như sau:
+ Về cách học: Cần phân chia thời gian một cách hợp lý giữa các môn học, mỗi

+ GV luôn theo dõi và quan tâm nhiều đến HS để từng bước uốn nắn, hỗ trợ kiến
thức cho các em để các em tự tin trước bạn.
21
+ GV cần tổ chức các hình thức đa dạng như học nhóm, bồi dưỡng nhau học tập để
HS yếu có thể hòa nhập và tâp thể, tạo sự phấn đấu vươn lên.
3. GV cần bồi dưỡng động cơ tạo hứng thú trong quá trình học toán, vì động cơ và
hứng thú là rất quan trọng tùy thuộc vào mỗi GV có cách thức và phương pháp
khác nhau, nhưng dạy để đạt hiệu quả là tạo ra động lực trong học tập, để các em
có thể tiếp nhận kiến thức một cách tốt hơn và hiểu bài nhanh hơn.
4. GV cần tìm hiểu các nguyên nhân vì sao mà HS lại học kém toán, có phải bắt
nguồn từ gia đình, hay ý thức của các em chưa đúng, lười biếng, cẩu thả…hay còn
nhiều nguyên nhân khác nữa. Tùy thuộc các nguyên nhân mà cần có biện pháp
thích hợp đối với từng HS rồi mới bồi dưỡng HS được.
+Vì những nguyên nhân do hoàn cảnh: GV cần tìm hiểu gia đình, trau đổi với gia
đình về việc học tập của con em, nếu như gia đình càng không để ý quan tâm thì
với tư cách là GV chủ nhiệm thì cần chú ý nhiều hơn nữa đối với HS yếu kém, vấn
đề gia đình có rất nhiều khía cạnh nhưng ở đây chỉ nêu lên một vấn đề nhỏ.
+ Vì chưa có ý thức học tập đúng đắn: Lứa tuổi các em còn lo ham chơi nhiều. Vì
vậy GV cần uốn nắn từ từ, đặt kỉ luật ngay từ đầu, dần dần sẽ tạo ra nề nếp học tập
tốt, trong lớp học thấy các bạn học giỏi nếu mình không cố gắng thì các bạn sẽ chê
cười, và thua về mặt thành tích.
+ Về lười biếng: Trị bệnh lười biếng bằng cách mỗi ngày giao 1 đến 2 bài tập cho
HS làm, GV nhớ kiểm tra và hướng dẫn cho HS, nếu Hs không hoàn thành thì sẽ
phạt, hoặc cho làm bài tập tăng gấp đôi, làm nhiều lần như vậy HS sẽ sợ mà phải
nghe theo lời của GV mà hoàn thành bài.
+ Về cẩu thả: HS tiểu học là có tính ẩu làm rồi chẳng xem lại bài đôi lúc làm sai do
tính không cẩn thận khi làm bài tập. Nếu HS cứ như vậy hoài thì GV nhắc nhở hoặc
trừ điểm HS.
5. Việc GV phát hiện HS yếu kém hoặc không hiểu về những kiến thức nào thì GV
cần phải có phương pháp, hình thức sao cho việc dạy học đạt hiệu quả như việc tính

kết thúc đợt thực tập sư phạm 1 và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo cáo về công tác chủ nhiệm trường THCS Túc Duyên, Thái Nguyên.
[2] Báo cáo của ban giám hiệu trường THCS Túc Duyên, Thái Nguyên.
[3] Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm ( Khoa tâm lý giáo dục –
ĐHSP Thái Nguyên)
[4] Giáo trình giáo dục học phần II (Khoa tâm lý giáo dục – ĐHSP Thái Nguyên)
[5] Học bạ học sinh lớp 6A2
[6] Sổ chủ nhiệm lớp 6A2
Giáo viên chủ nhiệm và giảng dạy môn toán: Cô Nhâm Thị Chung
[7] Sổ điểm lớp 6A2
[8] www.tailieu.vn
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status