Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm...................................................... 4
2. Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm..................................................... 5
3. Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm...................................................... 6
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1. Cơ sở lí luận.......................................................................................... 7
1.2.
Cơ
sở
thực
tiễn
....................................................................................................................
9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỨNG THÚ HỌC HÓA HỌC Ở
TRƯỜNG THPT........................................................................................ 10
CHƯƠNG 3: TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC THÔNG
QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC
3.1. Sử dụng hệ thống bài tập có nhiều cấp độ nhận thức từ dễ đến khó......11
3.2. Sử dụng hệ thống bài tập có nhiều cách giải.......................................... 17
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM................................................................ 30
PHẦN 3. KẾT LUẬN................................................................................ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................... 33
1
nhân loại. Vì thế, nhiệm vụ của mỗi giáo viên hóa học càng nặng nề hơn khi gánh
trên vai trọng trách: “trồng người” đáp ứng nhu cầu của xã hội. Thời gian trên lớp
thì có hạn trong khi kiến thức hóa học của nhân loại là vô hạn. Giáo viên không
thể cung cấp hết cho học sinh được. Việc gây hứng thú cho các em về môn hóa
học để chúng có thể tự tìm hiểu, bổ sung kiến thức là thực sự cần thiết.
2
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Thực tế điểm đầu vào học sinh trường THPT Yên Phong số 2 luôn nằm
trong số những trường có điểm chuẩn thấp của tỉnh, các em đa phần có học lực
trung bình. Hơn thế trong những năm ở trường THCS các em hầu như không
chú tâm tới môn Hóa học mà chỉ học 3 môn Toán, Ngữ văn, Anh văn để thi vào
THPT. Do vậy, kiến thức hóa học của các em khi bước vào lớp 10 hầu như rỗng
dẫn tới một bộ phận không nhỏ các em không thích học môn Hóa, chán học hóa,
vì các em không hiểu bài, không làm được bài tập, mất hứng thú học tập môn
Hóa. Tình trạng chán học, không thích học môn Hóa do mất hứng thú học này
đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập môn Hóa của các em nói riêng và
chất lượng bộ môn Hóa ở trường THPT Yên Phong số 2 nói chung.
Với tất cả những lí do trên tôi lựa chọn, nghiên cứu và đưa ra sáng
kiến kinh nghiệm “Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài
tập hóa học”.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm
việc tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học giúp
nâng cao hiệu quả quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông.
2. Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
4
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1.1.
1.1.1.
Cơ sở lí luận
Khái niệm hứng thú và hứng thú học tập
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý
nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt
động.
Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội
dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt
động nhận thức, tăng sức làm việc.
Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được định nghĩa của hứng thú
học tập: hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của
hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó
trong đời sống cá nhân.
1.1.2.
- Làm cho hoạt động học trở nên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạng
thái tỉnh táo của cơ thể, giúp học sinh phấn chấn vui tươi, học tập lâu mệt mỏi.
- Ảnh hưởng đến tính chất, cường độ, diễn biến, kết quả của dạy và học
giúp cho hiệu quả của hoạt động này được nâng cao.
- Tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu, tìm
hiểu kiến thức.
- Giúp điều khiển hoạt động định hướng vì chính cảm xúc hứng thú tham
gia điều khiển tri giác và tư duy.
- Đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở, động cơ trong các hoạt động nghiên
cứu và sáng tạo.
- Góp phần quan trọng trong sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ của
học sinh, làm cho hiệu quả của hoạt động học tập được nâng cao.
1.1.3. Sử dụng bài tập trong dạy học hóa học
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, bài tập hóa học giữ vai trò
rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Bài tập hóa học vừa là mục
đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Nó không
chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức mà còn
mang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi, phát hiện của việc tìm ra đáp
số. Đặc biệt, bài tập hóa học còn mang lại cho người học một trạng thái hưng
phấn, hứng thú nhận thức. Đây là một yếu tố tâm lý quan trọng của quá trình
nhận thức đang được chúng ta quan tâm.
Việc dạy học hóa học không thể thiếu bài tập hóa học. Bài tập hóa học có
những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt:
6
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
được các bài tập hóa học dẫn đến chán nản, không có hứng thú với môn hóa.
7
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HỨNG THÚ HỌC HÓA HỌC Ở
TRƯỜNG THPT
Để tìm hiều về việc gây hứng thú trong giờ dạy môn hóa học ở trường
THPT chúng tôi đã tiến hành điều tra trên một số trường THPT trên địa bàn.
* Đối tượng điều tra:
Tiến hành điều tra với học sinh của trường về môn hóa học nói chung và
hứng thú học môn hóa nói riêng thông qua các phiếu thăm dò.
Điều tra với giáo viên môn hóa học của trường thông qua dự giờ thăm lớp.
* Kết quả điều tra:
Dựa vào kết quả điều tra, tôi nhận thấy việc gây hứng thú trong dạy học
hóa học ở nhà trường được hầu hết giáo viên quan tâm. Giáo viên đã khai thác
và vận dụng nhiều kiến thức, nội dung mới nhằm gây hứng thú cho học sinh
trong quá trình dạy học.
Về phía học sinh, các em chưa có nhiều hứng thú với môn hóa. Các em
chưa thích tự tìm hiểu, trau dồi thêm kiến thức hay trao đổi những hiểu biết của
mình với người khác. Nhiều em học sinh chỉ học máy móc các cách giải bải tập
để làm bài tập trắc nghiệm mà không chú ý đến bản chất hóa học của bài tập. Có
thể thấy rõ điều này qua ý kiến của học sinh: Đa phần chưa tìm và đọc tài liệu về
hóa học và các tài liệu có liên quan đến môn hóa lúc rảnh rỗi; Ít tự tìm hiểu, giải
thích các vấn đề về hóa học; chưa dành nhiều thời gian tự học cho môn hóa …
tượng học sinh mà giáo viên có thể ra bài tập với mức độ từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến phức tạp.
Ví dụ 1: Bài tập viết phương trình phản ứng ở chương halogen
(Chương 5 – Sách giáo khoa hóa học 10)
+ Với học sinh yếu, chỉ yêu cầu các em ở mức độ nhận biết – thông hiểu
thì có thể yêu cầu các em học sinh hoàn thành các phản ứng với các chất cho
trước. Ví dụ ở bài clo:
Hoàn thành các phương trình hóa học của các phản ứng sau (nếu xảy ra):
(1) Cl2 + H2
as
→
0
(2) Cl2 + Fe
t
→
(3) Cl2 + O2 →
(4) Cl2 + NaOH →
0
(5) Cl2 + KOH
t
NaCl
NaCl
A3
A2
A1
B1
NaCl
NaCl
B3
B2
A5
A4
B4
NaCl
B5
Ví dụ 2: Bài toán xác định nguyên tố halogen chương halogen
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Với học sinh khá, có thể hướng dẫn học sinh giải nhanh theo bảo toàn
khối lượng và bảo toàn nguyên tố như sau:
m X2 = 19 − 4,8 = 14, 2(g); n X2 = n MgX2 = n Mg = 0, 2(mol) ⇒ M X2 =
14, 2
= 71 ⇒ M X = 35,5
0, 2
Từ bài toàn này, yêu cầu cao hơn với học sinh khá – giỏi giáo viên có thể
yêu cầu học sinh xác định hai halogen ở hai chu kì liên tiếp hoặc hai halogen
biết tỉ lệ mol:
Bài toán 1: Cho 4,8g kim loại magie tác dụng vừa đủ với hỗn hợp hai
halogen X và Y ở hai chu kì liên tiếp thì thu được 27,9g hỗn hợp muối. Xác định
hai halogen.
Bài toán 2: Cho 4,8g kim loại magie tác dụng vừa đủ với hỗn hợp gồm
hai halogen X và Y thì thu được 27,9g hỗn hợp muối. Xác định hai halogen, biết
hai halogen được trộn theo tỉ lệ 1:1 về số mol.
Ví dụ 3: Bài toán về hidrocacbon không no
Sau khi học hết phần hidrocacbon không no, giáo viên có thể yêu cầu học
sinh làm các bài tập 6.9; 6.10; 6,11 trong sách bài tập hóa học 11 trang 42, 43.
Bài 6.9: Hỗn hợp khí A chứa eten và hidro có tỉ khối hơi đối với hidro là
7,5. Dẫn A qua xúc tác Ni đun nóng thu được hỗn hợp B có tỉ khối hơi đối với
hidro là 9,0. Tính hiệu suất phản ứng cộng hidro của eten
Bài 6.10: Hỗn hợp khí A chứa một anken và hidro có tỉ khối hơi đối với
hidro là 6,0. Dẫn A qua xúc tác Ni đun nóng thu được hỗn hợp B có tỉ khối hơi
đối với hidro là 8,0. Biết B không làm mất màu nước brom, xác định công thức
phân tử và phần trăm thể tích từng chất trong hỗn hợp A và hỗn hợp B.
y
y
x-y
x-y
Sau phản ứng
y
→ Hỗn hợp Y chứa (x-y) mol C2H4; (x-y) mol H2 và y mol C2H6
⇒ MB =
28(x − y) + 2(x − y) + y.30
1
y
= 9.2 ⇒ y = x ⇒ H = .100% ≈ 33,33%
x−y+x−y+ y
3
x
Bài 6.10: Gọi công thức anken là CnH2n
Giả sử ban đầu có 1 mol A. Gọi số mol anken trong đó là x mol → số mol
hidro trong A là (1-x) mol → 2(1-x) + 14nx = 12 (*)
Do B không làm mất màu nước brom nên phản ứng xảy ra hoàn toàn và
anken hết. Ta có:
CnH2n + H2 → CnH2n+2
Vậy A chứa C3H6 chiếm 25% và H2 chiếm 75%; B chứa C3H8 chiếm
33,33% và H2 chiếm 66,67%
12
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Bài 6.11: Tương tự bài 6.10 với giá trị số nguyên tử C trung bình
Như vậy, có thể yêu cầu học sinh giải tuần tự các bài thì vừa đảm bảo học
sinh trung bình – khá có thể giải được vừa là gợi ý để học sinh khá – giỏi làm
các bài với yêu cầu cao hơn qua đó tạo hứng thú cho mọi đối tượng học sinh.
Ví dụ 4: Bài toán điện phân trong phần đại cương kim loại
Bài 1: Điện phân 200ml dung dịch Y gồm KCl 0,1M và Cu(NO3)2 0,2M
với cường độ dòng điện 5A trong thời gian 1158 giây, điện cực trơ, màng ngăn
xốp. Dung dịch sau khi điện phân chứa những chất gì sau đây?
A. KNO3 và KCl dư
B. KNO3 và Cu(NO3)2
C. KNO3, Cu(NO3)2, HNO3
D. KNO3 và KOH.
Bài 2: Tiến hành điện phân (điện cực trơ, màng ngăn xốp) 1 dung dịch
chứa m gam hỗn hợp CuSO4 và NaCl cho tới khi nước bắt đầu bị điện phân ở cả
2 điện cực thì dừng lại, thu được 0,448 lít khí (đktc). Dung dịch sau điện phân
có môi trường axit và có thể hoà tan tối đa 0,68 gam Al2O3. Giá trị của m là
2Cl- → Cl2 + 2e
0,04 0,06
0,02
0,01
0,02
2H 2O → 4e + 4H+ +
O2
13
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
0,04
→ Sau điện phân dung dịch chưa: Cu(NO3)2, KNO3, HNO3
Bài 2: Đề cho rất rõ là dung dịch sau phản ứng có môi trường axit nên các
quá trình điện cực như bài 1
Quá trình catot:
Quá trình anot:
Cu2+ + 2e → Cu
Cu2+ + 2e → Cu
2Cl- → Cl2 + 2e
2H2O + 2e → 2OH- + H2
Ví dụ 5: Bài toán về sắt
Bài 1: Cho m gam bột Fe tác dụng với dung dịch HNO 3 loãng, dư thu
được 1,68 lít khí NO duy nhất (đktc). Giá trị của m.
A. 5,6
B. 4,2
C. 2,8
D. 6,3
Bài 2: Cho m gam bột Fe tác dụng với dung dịch HNO 3 loãng, thu được
1,68 lít khí NO duy nhất (đktc) và còn lại 0,42 gam kim loại. Giá trị của m là:
A. 5,6
B. 6,72
C. 6,72
D. 4,62
14
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Mặt khác việc thực hiện giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau, giúp
học sinh không những nắm vững kiến thức mà còn hoàn thiện kỹ năng và hình
thành kỹ xảo. Điều này hết sức cần thiết, giúp học sinh giải quyết nhanh, đạt kết
quả tốt trong việc giải các bài toán trắc nghiệm có yêu cầu mức độ vận dụng
ngày càng cao trong các kỳ thi hiện nay.
Ví dụ 1: Hỗn hợp khí A chứa eten và hidro có tỉ khối hơi đối với hidro là
7,5. Dẫn A qua xúc tác Ni đun nóng thu được hỗn hợp B có tỉ khối hơi đối với
hidro là 9,0. Tính hiệu suất phản ứng cộng hidro của eten
(Trích bài 6.9 – Sách bài tập hóa học 11)
15
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Ngoài cách giải ở phần 3.1 như trên, với học sinh khá hơn có thể hướng
dẫn học sinh giải theo cách 2 như sau:
Giả sử ban đầu có 1 mol hỗn hợp → Số mol C2H4 và H2 đều là 0,5 mol.
Bảo toàn khối lượng:
15 5
5 1
= (mol) ⇒ n H2 pu = n C2 H4pu = 1 − = (mol)
18 6
6 6
1/ 6
⇒H=
.100% ≈ 33,33%
6 ( x + y ) = 8y
14nx = 12x + 10y = 42x
→
⇔
14n = 42
y = 3x
→
n=3
CTPT của anken X là C3H6 .
Trong A ( % Vanken= 25 , % VH2 = 75 )
Hoặc:
MB =
→
(14n + 2) x + 2( y − x)
x+ y−x
=
14nx + 2 y
x
→
14nx = 12x + 10y ( 1 )
16
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
MB =
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
(14n + 2) x + 2( y − x)
x+ y−x
Giải ( 1 ) & ( 2 )
→
=
14nx + 2 y
y
= 16
12x + 10y = 14y
1/2 ( MA - MB ) = 2
1
1
(14nx + 2 y )( −
)
y x+ y
⇔
=4
x
y( x + y)
14nx + 2 y x
.
⇔ y( x + y) y
=4
x 1
=
⇔ y 3 ⇔
14nx + 2 y
x+ y
MA =
→
-
MB =
→
(14n + 2) x + 2( y − x)
x+ y−x
=
14nx + 2 y
x
=16
→
14nx = 14y = 42x
→
14n= 42
CTPT của anken X là C3H6 .
Cách 4 : Hiệu 2 tỉ khối + Bảo toàn khối lượng + Sơ đồ đường chéo :
dB/H2 - dA/H2 = 2
⇔
mB
nB
⇔
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
(14nx + 2 y )
12.
x
y
=4
x
y( x + y)
=4
x 1
=
⇔ y 3 ⇔
14nx + 2 y x
.
⇔ y( x + y) y
=4
y = 3x.
14n - 12
Hoặc :
CnH2n+2
14n + 2
14
nCn H 2 n + 2
nH 2
MB = 16
H2
2
→
=
14
x
1
=
=
14n − 14 y − x 2 →
nCn H 2 n
nH 2
MA = 12
H2
2
→
14n - 12
=
10
x 1
= =
14n − 12 y 3 →
n=3
CTPT của anken X là C3H6 .
Trong A ( % Vanken= 25 , % VH2 = 75 )
Hoặc :
18
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Trong A ( % Vanken= 25 , % VH2 = 75 )
14n - 14
Cách 6 : Khối lượng mol trung bình + Sơ đồ đường chéo :
MA =
14nx + 2 y
x+ y
= 12
→
14nx + 2y = 12x + 12y
→
14nx = 12x + 10y ( 1 )
Sơ đồ đường chéo :
CnH2n+2 14n + 2
14
MB = 16
H2
n = 3.
CTPT của anken X là C3H6 .
Trong A (% Vanken= 25 , % VH2 = 75 )
Cách 7 : Sơ đồ đường chéo:
CnH2n
10
14n nC H
n
2n
nH 2
=
10
x
=
14n − 12 y
(1)
MA = 12
H2
12
MB = 16
(1) & (2)
H2
2
14n - 14
→
(2)
14n − 14 14n − 12
=
−1
→
→
14
10
n=3
CTPT của anken X là C3H6 .
Trong A ( % Vanken= 25 , % VH2 = 75 )
Ví dụ 3: 0,06 mol hỗn hợp A gồm CH3OH và 1 ancol cùng dãy đồng đẳng
có khối lượng là 4,02 gam. Cho toàn bộ hỗn hợp trên tác dụng hết với 6 gam axit
axetic (H2SO4 đặc làm chất xúc tác, giả sử hiệu suất phản ứng đạt 100%). Tính
khối lượng este thu được.
n axit = n este = n nuoc = 0, 06mol
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có :
m ancol + m axit = m este + m H 2O
=>
m este = 4, 02 + 0, 06.60 − 0, 06.18 = 6, 54 g
20
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Cách 3 : Phương pháp tăng giảm khối lượng
Cứ 1 mol ancol tạo thành 1 mol este thì khối lượng tăng : 59-17 = 42 gam.
0,06 mol ancol tạo thành 0,06 mol este thì khối lượng tăng: 0,06.42 =2,52
gam. Vậy : meste = 4,02 + 2,52 = 6,54 g.
Cách 4 : Phương pháp trung bình
Gọi CTTB của 2 ancol là:
ROH(M R > 15)
ROH + CH 3COOH
→ CH 3COOR + H 2O
Ta có
CH3COOC2H5 + NaOH → CH3COONa + C2H5OH
b
b(mol)
m HCOOC3H7 + m CH3COOC2 H5 = 88 a + 88 b = 13, 2 => a + b =
Ta có:
n NaOH = a + b = 0,15mol => C M NaOH =
0,15
= 1,5M.
0,1
13, 2
= 0,15 mol
88
Vậy x = 1,5.
Cách 2 : Phương pháp trung bình
21
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
Gọi CTTB của 2 este là : RCOOR’
0,15
= 1, 5 M
0,1
Vậy x = 1,5.
Ví dụ 5: Thủy phân m gam tetrapeptit Ala-Ala-Ala-Ala mạch hở thu
được 28,48 gam Ala; 32,00 gam Ala-Ala và 27,72 gam Ala-Ala-Ala. Tính m?
Cách 1: Bảo toàn nguyên tố- chọn nguyên tố đại diện là N
n N/ tetrapeptit =
m.4
mol
89.4 − 18.3
n N/A la + n N/ A la −Ala + n N/A la −Ala −Ala =
28, 48
32.2
27, 72.3
+
+
= 1, 08 mol
89
89.2 − 18 89.3 − 18.2
Bảo toàn nguyên tố N suy ra:
m.4
= 1, 08 => m = 81,54 g
89.4 − 18.3
mol
Số mol liên kết peptit lúc sau (Sản phẩm):
= n lienket / A la − Ala + n lienket / A la −Ala −Ala =
32.1
27,72.2
+
= 0, 44 mol
89.2 − 18 89.3 − 18.2
Theo bảo toàn số liên kết peptit: số liên kết peptit trong sản phẩm bằng số
liên kết peptit trong tetrapeptit cộng số phân tử nước, suy ra:
0, 44 =
m.3
m − 88, 2
+
=> m = 81,54 g
89.4 − 18.3
18
.
Cách 3: Qui đổi sản phẩm về một chất đơn giản: Qui đổi về alanin (Ala)
Ta có:
1 Ala-Ala ↔ 2 Ala;
0,2 mol
=>
→
x mol
Ala-Ala-Ala + Ala
x mol
x mol
o
Ala-Ala-Ala-Ala + H2O
t
→
2Ala-Ala
23
Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập môn hóa học thông qua hệ thống bài tập hóa học
Hoàng Ngọc Hiền
THPT Yên Phong số 2 – Bắc Ninh
y mol
Từ (1); (2) và (3) suy ra x = 0,12 mol; y = 0,1 mol; z = 0,05 mol, suy ra
n Ala − Ala −Ala − Ala = 0,12 + 0,1 + 0,05 = 0,27 mol ⇒ m = 0, 27.(89.4 − 18.3) = 81,54 g.
Cách 5: Phương pháp trung bình:
Đặt sản phẩm là n- peptit:
n=
Ta có
n
1.n Ala + 2.n Ala −Ala + 3.n Ala −Ala −Ala 1.0,32 + 2.0, 2 + 3.0,12
=
= 1,6875
n Ala + n Ala −Ala + n Ala − Ala −Ala
0,32 + 0, 2 + 0,12
Ala-Ala-Ala-Ala ↔ 4
n Ala − Ala −Ala −Ala =
=>
=>
( Ala ) n
( Ala ) n
(0,32 + 0, 2 + 0,12).n
= 0, 27 mol
4
n Ala n Ala − Ala n Ala − Ala − Ala .3 0,32 0, 2 0,12.3
+
+
=
+
+
= 0, 27 mol
4
2
4
4
2
4
m tetrapeptit = 0, 27.(89.4 − 18.3) = 81,54 g
.
Cách 8: Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng:
o
Ala-Ala-Ala-Ala + H2O
t
→
Ala-Ala-Ala
0,15 mol ← (0,32-0,12) mol
m
=>
H2O
= (0,12 + 0,1 + 0,15).18 = 6,66 g
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng, ta có:
m
Ala −Ala −Ala −Ala
+m
H2O
=m
Ala
+m
Ala −Ala
+m
Ala −Ala −Ala