CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số……………………….
1. Tên sáng kiến:
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA LỚP 12 QUA LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỂ GIẢI THÍCH
CÁC HIỆN TƯỢNG TRONG TỰ NHIÊN VÀ CUỘC SỐNG
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: nâng cao chất lượng môn Hóa Học
3. Mô tả bản chất của sáng kiến :
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Chúng ta thấy, hiện nay nếu dạy học theo cách truyền thống chưa thể phát huy hết
khả năng của mỗi học sinh, các em chưa làm chủ được kiến thức, không thể hệ thống
được mối liên quan giữa các nội dung với nhau, học sinh học thuộc lòng, học không
hiểu để làm gì, vận dụng vào đâu, dẫn đến việc không có sự yêu thích môn học.
Qua nhiều năm làm công tác giảng dạy môn hóa học trong trường phổ thông. Như
chúng ta đã biết môn hóa học là môn khoa học thực nghiệm, để từ đó người học có thể
vận dụng kiến thức một cách tốt nhất, để một phần nào đó giải thích một số hiện tượng
trong đời sống cũng như một số hiện tượng trong tự nhiên. Nhiều lớp học sinh đã qua
trong đó có những học sinh làm bài kiểm tra hay thi vào các trường Đại học, Cao đẳng
với những số điểm cao, nhưng khi hỏi đến những hiện tượng rất gần gũi trong đời sống
hàng ngày thì thấy rằng khả năng am hiểu sâu rộng và đúng bản chất học hóa học và
vận dụng hóa học còn rất hạn chế. Thực vậy, chúng tôi nhận thấy là học sinh thường
học để mong muốn có điểm cao nghĩa là chỉ học mang ý nghĩa để làm bài kiểm tra hay
bài thi còn về yêu thích và ham mê nghiên cứu quả thật chưa có. Cũng chính vì vậy mà
ngồi học trên lớp học sinh chỉ biết trật tự, ghi chép lời thầy giảng dẫn đến sự tiếp thu
thụ động. Để học sinh học hóa học theo nghĩa ham mê, ham học hỏi và luôn luôn đặt ra
các câu hỏi “ Vì sao?” để thầy và trò cùng nghiên cứu trả lời thì đó chính là sự hiệu quả
và cũng từ đó xóa đi sự tiếp thu thụ động của học sinh. Để làm được điều này người
dạy phải thường xuyên lồng ghép những hiện tượng tự nhiên hay hiện tượng đời sống
- Giúp các em làm chủ được kiến thức, mạnh dạn đưa ra những ý kiến để thầy cô
uốn nắn.
- Giữa các bài học trong chương trình nhiều bài có mối quan hệ chặt chẽ, giáo
viên dễ dàng trong việc chọn chủ đề để xây dựng chủ đề dạy học.
- Bản chất của giải pháp là cách thức tổ chức hoạt động nhóm sáng tạo phù hợp,
khả thi nhằm phát huy thế mạnh của bộ môn Hóa học là có tính thực nghiệm, ứng dụng
2
cao, có quan hệ mật thiết với thực tế cuộc sống; cách thức hướng dẫn học sinh các thao
tác tư duy nhằm hình thành quy trình nghiên cứu khoa học, vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, phát huy tiềm năng của học sinh.
- Điềm mới nhất của đề tài là định hướng tăng cường bản chất hóa học của đối
tượng, giảm bớt và hạn chế các nội dung phải ghi nhớ máy móc cũng như phải tính toán
theo kiểu “toán hóa học”, ít đi vào bản chất hóa học và thực tiễn.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
- Bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hằng ngày thay cho
lời giới thiệu bài giảng mới, có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất
khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo
sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.
- Bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hằng ngày qua các
phương trình phản ứng hóa học cụ thể trong bài học, có thể sẽ mang tính cập nhập, làm
cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải thích để
giải tỏa tính tò mò của học sinh.
- Thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen
vào bất cứ lúc nào trong suốt tiết học, hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập
thoải mái. Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hóa.
- Cho học sinh xem một số hình ảnh, video về những hiện tượng sắp lý giải.
Hoặc có thể cho học sinh diễn tiểu phẩm nhỏ để phát hiện tình huống, làm cho không
khí lớp học sinh động hơn, dễ khắc sâu kiến thức. Tăng cường các hoạt động trải
Bình Đại, ngày 15 tháng 2 năm
2018
Nhóm tác giả:
Lê Thị Phương Lam
Trần Minh Thiện
Đoàn Minh Hiếu
Võ Thị Thanh Nhân
Trường THPT Lê Hoàng Chiếu, huyện Bình Đại
4
PHỤ LỤC
Chúng tôi đã tra cứu, sưu tầm và hệ thống các kiến thức thực tế có thể áp dụng hiệu quả
trong hoạt động dạy học qua các ví dụ cụ thể sau đây với đề tài "Tạo hứng thú học tập môn
Hóa lớp 12 qua liên hệ thực tế để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống"
VÍ DỤ 1: TẠI SAO KHI ĂN CƠM NHAI KỸ SẼ THẤY NGỌT?
Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của người có các
enzim. Khi nhai kỹ cơm trong nước bọt sẽ xảy ra sự thủy phân một phần tinh bột thành
mantozơ và glucozơ nên có vị ngọt:
Amilaza
β − Amilaza
Mantanza
Tinh boä
t →
Detrin
→ Mantozô
→ Glucozô
* Cẩn thận khi sử dụng HNO3 đặc trong phòng thí nghiệm.
VÍ DỤ 3: VÌ SAO GẠO NẾP LẠI DẺO?
Tinh bột là hỗn hợp của hai thành phần: amilozơ và amilopectin. Hai loại này thường
không tách rời nhau được. Trong mỗi hạt tinh bột, amilopectin là vỏ bọc nhân amilozơ.
Amilozơ tan được trong nước còn amilopectin hầu như không tan, trong nước nóng
amilopectin trương lên tạo thành hồ. Tính chất này quyết định đến tính dẻo của hạt có tinh bột.
Trong mỗi hạt tinh bột, lượng amilopectin chiếm 80%, amilozơ chiếm khoảng 20% nên
cơm gạo tẻ, ngô tẻ, bánh mì thường có độ dẻo bình thường. Tinh bột trong gạo nếp, ngô nếp
chứa lượng amilopectin rất cao, khoảng 90% làm cho cơm nếp, xôi nếp,… rất dẻo, dẻo đến
mức dính.
Áp dụng: (tiết 8,9 lớp 12CB)
Vấn đề trên là hiển nhiên trong đời sống mà bất kì ai cũng biết hiện tượng này. Vấn đề
có thể đưa vào trong khi dạy phần “Tinh bột” - bài “Saccarozơ , tinh bột, xenlulozơ” với mục
đích giải thích tại sao gạo nếp lại dẻo. Giáo viên có thể trình bày vấn đề này trong vài phút khi
đặt câu hỏi: Vì sao nếp lại dẻo? rồi dẫn dắt vào bài mới hoặc giáo viên xen vào bài giảng khi
trình bày phần cấu tạo phân tử tinh bột.
6
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Cấu trúc phân tử, tính chất vật lí, ứng dụng của tinh bột.
* Vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống.
VẤN ĐỀ 4: VÌ SAO RƯỢU LẠI LÀM MẤT MÙI TANH CỦA CÁ?
Cá tanh do trong cá có trimetylamin (CH3)3N và đimetylamin (CH3)2NH và metyl amin
CH3NH2 là những chất có mùi khó ngửi.
Khi chiên cá ta cho thêm một ít rượu có thể phá hủy được mùi tanh cá. Vì trimetylamin
thường “lẫn trốn” trong cá nên người ta khó trục nó ra. Nhưng trong rượu có cồn, cồn có thể
được tôn vinh là “vua chất dẻo”
thường gọi là “teflon”. Politetra floetilen chỉ chứa 2 nguyên tố C và F nên liên kết với nhau rất
bền chắc. Khi cho teflon vào axit vô cơ hay axit H 2SO4 đậm đặc, nước cường thủy( hỗn hợp
HCl và HNO3 đặc), vào dung dịch kiềm đun sôi thì teflon không hề biến chất. Dùng teflon
tráng lên đáy chảo khi đun với nước sôi không hề xảy ra bất kì tác dụng nào. Các loại dầu ăn,
muối, dấm,… cũng xảy ra hiện tượng gì. Cho dù không cho dầu mỡ mà trực tiếp rán cá, trứng
trong chảo thì cũng không xảy ra hiện tượng gì.
Một điều chú ý là không nên đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon ở nhiệt độ trên
250oC là bắt đầu phân hủy và thoát ra chất độc. Khi rửa chảo không nên chà xát bằng các đồ
vật cứng vì có thể gây tổn hại cho lớp chống dính.
Áp dụng: (tiết 21,22 lớp 12CB)
“Chảo không dính” hiện nay được các bà nội trợ sử dụng khá nhiều. Công dụng của
chảo đã làm hài lòng tất cả các đầu bếp khó tính. Nhưng ít ai hiểu được vì sao chảo không
dính lại ưu việt đến vậy. Giáo viên có thể nêu vấn đề này khi dạy bài “Vật liệu polime” cũng
như lưu ý học sinh về cách sử dụng chảo không dính.
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Một số ứng dụng, điều chế một số hợp chất của flo
* Viết được các PTHH tổng hợp một số polime thông dụng.
* Vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong cuộc sống.
VÍ DỤ 6: Vì sao ở các cơ sở đóng tàu thường gắn một
miếng kim loại Kẽm ở phía sau đuôi tàu ?
Thân tàu biển được chế tạo bằng gang thép. Gang thép là hợp kim của sắt, cacbon và
một số nguyên tố khác. Đi lại trên biển, thân tàu tiếp xúc thường xuyên với nước biển là dung
dịch chất điện li nên sắt bị ăn mòn, gây hư hỏng.
8
Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì học sinh sẽ không biết. Học
sinh dễ dàng làm thí nghiệm ngay khi nấu ăn. Từ đó góp phần tạo nên kinh nghiệm nấu ăn cho
9
học sinh, rất thiết thực trong cuộc sống. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên sau khi kết thúc bài
“Kim loại kiềm và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm”.
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Biết được : Một số ứng dụng quan trọng của một số hợp chất như NaCl
* Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống.
Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ ở
VÍ DỤ 8:
Động Phong Nha, Vịnh Hạ Long được hình thành như thế nào ?
Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO 3. Khi trời mưa trong không khí có
CO2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi. Những giọt mưa rơi xuống sẽ bào
mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
→ Ca(HCO3 ) 2
CaCO3 + CO 2 + H 2O ¬
Theo thời gian tạo thành các hang động. Khi nước có chứa Ca(HCO 3)2 ở đá thay đổi về
nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:
Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO3)2, theo nguyên lí dịch chuyển cân bằng thì cân bằng
(*) sẽ chuyển dịch theo phía phải. Kết quả là sau một thời gian nước đã làm cho đá bị bào
mòn dần.
Áp dụng: (tiết 43 – 45 12CB)
Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá có dòng nước chảy qua. Do hiện tượng
xảy ra chậm nên phải thật sự chú ý chúng ta mới nhận ra điều này. Hiểu được điều này giúp
học sinh biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ có từ xa xưa và làm cho hóa học trở nên
rất gần gũi hơn trong cuộc sống đời thường. Giáo viên có thể nêu vấn đề này ở bài “Kim loại
kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ” .
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Tính chất hoá học cơ bản, ứng dụng của CaCO3.
* Viết các phương trình hoá học minh hoạ tính chất hoá học.
VÍ DỤ 10: Vì sao trước khi thi đấu các VĐV thể thao
cần xoa bột trắng vào lòng bàn tay?
Loại bột màu trắng có tên gọi là “Magiê cacbonat”(MgCO3) mà người ta vẫn hay gọi
là “ bột magiê”. MgCO3 là loại bột rắn mịn, nhẹ có tác dụng hút ẩm rất tốt. Khi tiến hành thi
đấu, bàn tay của các vận động viên thường có nhiều mồ hôi. Điều đó đối với các vận động
viên thi đấu thể thao hết sức bất lợi. Khi có nhiều mồ hôi ở lòng bàn tay sẽ làm giảm độ ma sát
khiến các vận động viên sẽ không nắm chắc được các dụng cụ khi thi đấu. Điều này không chỉ
11
ảnh hưởng xấu đến thành tích mà còn gây nguy hiểm khi trình diễn. MgCO 3 có tác dụng hấp
thụ mồ hôi đồng thời tăng cường độ ma sát giữa bàn tay và các dụng cụ thể thao giúp vận
động viên có thể nắm chắc dụng cụ và thực hiện các động tác chuẩn xác hơn.
Ngoài ra với các vận động viên giàu kinh nghiệm, họ có thể lợi dụng khoảnh khắc “xoa
bột” làm giảm bớt tâm lí căng thẳng; sắp xếp lại trình tự thực hiện thao tác, ôn tập lại các yếu
lĩnh, chuẩn bị tốt hơn tâm lí thi đấu để thực hiện các thao tác tốt.
phần cũng cố toàn bài giảng để học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải thích. Mục đích là
cung cấp cho học sinh một số vấn đề có trong đời sống từ đó có thể giải thích được bản chất
12
vấn đề nhằm kích thích sự hưng phấn trong học tập. Đây là hiện tượng mà học sinh có thể
quan sát và thực hiện được dễ dàng.
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Khái niệm về nước cứng (tính cứng tạm thời, vĩnh cửu, toàn phần), tác hại của nước cứng
* Viết các phương trình hoá học minh hoạ tính chất hoá học.
* Ứng dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong cuộc sống
VÍ DỤ 12:
Vì sao phèn chua lại làm sạch nước ?
Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước 24 phân tử
nước nên có công thức hóa học là K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O.
Phèn chua không độc, có vị chát chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan rất nhiều trong
nước nóng. Khi cho phèn chua vào nước sẽ phân li ra ion Al 3+. Chính ion Al3+ này bị thủy phân
theo phương trình:
→ Al(OH)3↓ + 3H+
Al3+ + 3H2O ¬
Kết quả tạo ra Al(OH)3 là chất kết tủa dạng keo nên khi khuấy phèn chua vào nước, nó
kết dính các hạt đất nhỏ lơ lửng trong nước đục thành hạt đất to hơn, nặng và chìm xuống làm
Để hoàn thành được điều trên phải có 3 điều kiện:
Lượng muối sắt trong nước phải đủ lớn
Thời gian đun sôi phải đủ lâu
Nồi nhôm phải là nồi mới
Áp dụng: (Tiết 46, 47 lớp 12CB).
Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên để dẫn nhập vào bài “Nhôm và hợp chất của nhôm”
Sau đó học sinh dựa vào những kiến thức đã học để giải thích hiện tượng nồi nhôm bị đen.
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Nhôm là kim loại có tính khử khá mạnh
* Viết các phương trình hoá học minh hoạ tính chất hoá học của nhôm.
* Sử dụng và bảo quản hợp lí các đồ dùng bằng nhôm.
VÍ DỤ 14: Chảo, môi, dao đều được làm từ sắt. Vì sao chảo lại giòn ?
môi lại dẻo ? còn dao lại sắc ?
14
Chảo xào rau, môi và dao đều làm từ sắt. Thế nhưng loại sắt để chế tạo chúng lại không
giống nhau.
Sắt dùng để làm chảo là “gang”. Gang có tính chất là rất giòn. Trong công nghiệp,
người ta nấu chảy lỏng gang để đổ vào khuôn, gọi là “đúc gang”
Môi múc canh được chế tạo bằng “thép non”. Thép non không giòn như gang. Người ta
thường dùng búa để rèn, biến thép thành các đồ vật có hình dạng khác nhau.
Dao thái rau không chế tạo từ thép non mà bằng “thép”. Thép vừa dẻo vừa dát mỏng
được, có thể rèn, cắt gọt nên rất sắc.
Áp dụng: ( Tiết 54 lớp 12CB)
Vấn đề từ sắt có thể điều chế những vật dụng có chức năng khác nhau được sử dụng rất
rộng rãi trong cuộc sống. Giải thích được điều này đòi hỏi học sinh phải biết được tính chất
của sắt cũng như hợp kim của nó. Giáo viên có thể đề cập trong bài “Hợp kim của sắt” .
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Viết các phương trình hoá học minh hoạ tính chất hoá học.
* Vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống.
VÍ DỤ 16:
“Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Mưa axit gây tổn hại cho các công trình bằng sắt thép, đá, cây cối.
Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thuỵ Điển. Mưa axít là hiện tượng
mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5,6. Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt
trong ( ô tô, xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi
nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra
axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3.
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
16
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa axit là
H2SO4 còn HNO3 đóng vai trò thứ hai
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa axit ảnh
hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ). Các dòng chảy do mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH
của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao
trở thành các thuỷ vực chết. Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất
làm tăng độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi
(Ca),magiê (Mg),... làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị
"cháy" lấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất
thấp. Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm,... làm giảm tuổi
những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ 50000 đến 100000 Å
đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất có bước
sóng trên 140000 Å bị khí CO2 hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên.
Theo tính toán của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO 2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi
so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4oC.
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO2 ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh của
các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm cho Trái Đất ấm
lên bởi khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Áp dụng: (tiết 67 lớp 12CB)
Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề có ảnh hưởng mang
tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân và tác hại của hiệu ứng
nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi dạy
bài “Hóa học và vấn đề môi trường”
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học.
* Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liên quan đến hoá học.
* Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề ô
nhiễm môi trường. Xử lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn đề ô nhiễm và chống ô
nhiễm môi trường.
* Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn.
VÍ DỤ 18:
Vì sao chất CFC bị cấm sử dụng?
18
Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên dao động trong khoảng độ cao
50 km. Ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại một lớp không khí giàu khí Ozon
chuyển giao công nghệ sản xuất cho các nước đang phát triển. Có như vậy, việc ngừng sản
xuất freon mới trở thành hiện thực. Muốn đạt được yêu cầu thiết thực này, không chỉ riêng
một vài nước mà cả thế giới đều phải cố gắng thì mới có thể bảo vệ được tầng ozon của Trái
đất.
Áp dụng:(tiết 67 lớp 12 CB)
“Lỗ thủng tầng Ozon” hiện nay đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm. Giáo viên có
thể nêu vấn đề này khi dạy bài “Hóa học và vấn đề môi trường” .
Chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh cần đạt:
* Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học.
* Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liên quan đến hoá
học.
* Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề ô
nhiễm môi trường. Xử lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn đề ô nhiễm và chống ô
nhiễm môi trường.
* Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn.
******* *******
Tài liệu tham khảo:
- Sách giáo khoa, sách giáo viên Hóa học 12 NXB giáo dục 2014.
- Giáo dục môi trường thông qua dạy học hóa học-Ts Trịnh Văn Biều ĐHSP TPHCM
TL BDTX 2006.
- Thư viện bài giảng trên violet.vn
20